|
Tỳ Khưu Giới Đức (Sīlagu.no Mahāthera) |
Chuyện Cổ Phật Giáo
(Tuyển tập các bài đọc của TK Giới Đức)
3.8 Bố Thí Bất Nghịch Ý phần 2.3 (47 phút và 16 giây)
Truyện đức Vê-xanh-ta (Phần 2.3)
(Bố Thí Bất Nghịch Ý)
Lão chợt nghĩ ra một mẹo:
- Đạo sĩ quý trọng ơi! Nếu tôi gặp đức Vê-xanh-ta để hỏi đạo thì được chứ?
- Dối trá – Đạo sĩ Na-lợi-ka gắt – Ta biết rõ tâm địa của ngươi như trong tay đang nắm một quả xoài. Kìa! Có tâm niệm nào ở nơi ngươi mà ta không biết, lại hòng lấy vải thưa che mắt thánh? Cút đi!
Lão Bà-la-môn sợ hãi. Lão thở dài.
Trong lúc bất ngờ và thất vọng nhất, đạo sĩ Na-lợi-ka lại nói:
- Thôi được rồi, ta sẽ chỉ cho ngươi! Ôi! Ý người là khác mà nhân-duyên-quả thì lại khác. Cái thành tựu sau này của đức Vê-xanh-ta còn to lớn hơn, tối thắng hơn cả những thiền định mà ta nghĩ. Nhưng này lão Bà-la-môn, ta còn biết rõ cái chuyện hồi trào cũng là dối trá đấy nhé!
Lão Bà-la-môn xấu hổ cúi mặt. Đạo sĩ Na-lợi-ka cho lão ăn uống và dọn chỗ ngủ tươm tất. Khi tiễn lão Bà-la-môn lên đường, sáng hôm sau, đạo sĩ Na-lợi-ka lại kể cho lão nghe tình trạng sống hiện giờ của hai nam nữ đạo sĩ và con. Lại còn nói:
- Ngươi đến đây để xin hai trẻ, chuyện đó ta không cản làm gì. Nhưng tâm địa ngươi không tốt thì đời này ngươi sẽ gặt quả không tốt. Ta nói trước cho mà biết.
Lão Bà-la-môn cần biết gì chuyện đó, thấy được chỉ đường chu đáo, lão đã hối hả từ giã cảm ơn rối rít rồi đi ngay.
Lại thêm trọn ngày đường nữa lên thác xuống ghềnh, lão Bà-la-môn đến được núi Gri-văng-ca là đã đuối sức. Tuy thế, khi nhìn được hai chiếc tịnh thất xinh xắn nằm gần hồ sen tươi mát lão thở phào nhẹ nhõm.
Lão ẩn mình trong một góc kín đáo, tự nghĩ:
“- Giờ đây thì nàng Ma-đà-ly về rồi. Lệ thường nữ nhân khó dứt bỏ con cái như là núm ruột của họ. Có mặt nàng là trở ngại lớn cho ta. Hãy ráng đợi đến sáng mai, nàng vào non hái trái, chỉ còn đức Vê-xanh-ta và hai trẻ, ta sẽ đến.”
Cũng trong đêm ấy, nàng Ma-đà-ly không ngủ được. Điều này chưa từng xảy ra. Nàng chợt bâng khuâng và lo lắng không biết tự đâu. Linh tính báo cho nàng hay một việc chẳng lành đến cho chồng và con. Đêm về khuya quá mệt mỏi, nàng thiếp đi, lại rơi vào giấc mộng kinh hoàng. Nàng bị một người hình kỳ dị dạng, với lưỡi đao bén nhọn đến cắt lấy trái tim nàng và mang đi. Tỉnh dậy, mồ hôi dầm dề, tim nhảy thình thịch, cơ thể dường như không còn chút hơi sức. Xiết bao kinh hãi, nàng tự nghĩ:
“- Chẳng biết điềm lành dữ thế nào. Ở đây, chẳng còn ai khác! Hay là ta đến nhờ Thái tử đoán mộng xem sao?”
Tứ bề quạnh quẽ, nàng mạnh dạn đến gõ cửa.
- Ai đấy? Thái tử hỏi.
- Thiếp đây! Nàng đáp.
Giọng đức Vê-xanh-ta vọng ra:
- Giờ là lúc không phải thời. Nàng hãy về đi!
Nàng Ma-đà-ly khẩn khoản:
- Đúng vậy! Bây giờ là không phải thời, thiếp biết rõ chứ. Nhưng mà Thái tử ôi! Thiếp vừa trải qua một cơn mộng kinh hoàng, nên lo sợ quá.
Giọng đức Vê-xanh-ta:
- Vậy thì nàng đừng vào, đứng đấy rồi kể đầu đuôi tự sự cho ta nghe.
Nàng Ma-đà-ly kể lại.
Thái tử chợt biết rằng: ngày mai sẽ có người đến xin hai trẻ, và điều này sẽ là niềm đau đớn cho nàng xiết bao!
Đức Vê-xanh-ta kiếm lời an ủi:
- Đã mộng mị thì hơi đâu mà nàng tin vào những điều mộng mị? Trước đây, phu nhơn vốn quen đời cao lương mỹ vị, nhung lụa ấm êm; nay vì theo ta mà cam chịu dầm mưa dãi nắng, ăn chẳng đủ no, mặc chẳng đủ ấm. Sự thể như thế nên sinh ra tứ đại bất hòa, thân chẳng an thì tâm lay động, phát sanh mộng mị hão huyền. Có gì đáng để lo sợ hở phu nhơn? Hãy về mà an giấc đi thôi.
Nàng Ma-đà-ly yên trí trở về tịnh thất. Tuy thế, trong giấc ngủ chập chờn, nàng vẫn phập phồng lo lắng không khuây. Trời rạng sáng, khi muôn chim đang líu lo trên cành; nàng đã xong mọi công việc thường lệ, rửa mặt cho hai con, nàng âu yếm dạy rằng:
- Các con đừng đi chơi đâu xa nhé! Đừng hoang nghịch chạy nhảy mà vấp bụi té bờ. Hãy ngoan ngoãn nghe lời mẹ.
Nói xong, một tay ẵm Kanh-ha, một tay dắt Ra-ly, nàng đến am thất của Thái tử, nói những lời gởi gắm xót xa:
- Khi thiếp đi rồi, xin chàng ghé mắt để ý đến hai con. Chúng nó còn nhỏ dại, đâu có để ý đến cái gai dưới chân, cành cây gãy trên đầu? Lại nữa, hai trẻ hay đi chơi với muông thú; mà muông thú thì biết lúc nào nó trở tính bất ngờ? Thái tử ơi! Chúng nó là người bạn yêu mến, là nguồn an ủi ấm lạnh ngọt bùi hiện nay của thiếp. Xin Thái tử hãy từ bi thương xót chúng, chớ quên!
Đi được một lúc, nàng Ma-đà-ly quày quả trở về, ôm hai trẻ, bồng bế hôn hít như chẳng thể rời chân, như linh tính phút giờ cách trở sinh ly.
- Ôi! Con ôi! Ước gì thân mẹ xẻ làm hai được? Một nửa lên non hái trái, một nửa ở lại với hai con! Ôi! Thương hại hai con tôi! Dẫu không cút côi mà cũng vắng cha thiếu mẹ. Thân danh là hoàng tộc, là lá ngọc cành vàng mà phải chịu đọa đày giữa núi sâu rừng thẳm? Ai kia lên ngựa xuống xe mà con tôi thì phải ăn chay nằm đất; bệnh không thuốc thang, ăn không đầy dạ, lạnh lùng tuyết giá chẳng áo kép, chăn đơn? Ôi! Tội nghiệp hai con tôi.
Đức Vê-xanh-ta thấy và nghe mọi chuyện, tự nghĩ: Ôi! Tình thương của nàng thật bao la như biển lớn, còn ta chỉ là con suối nhỏ. Nhưng ở đâu có tình thương buộc ràng, ở đó có hệ lụy và đau khổ. Tình thương buộc ràng, bi lụy kia như trận mưa lớn, có thể làm tiêu hoại những pháp cao thượng, làm cho hư hủy những hạt giống thiện pháp đang sinh mầm! Vì tình thương bi lụy kia mà nữ đạo sĩ Ma-đà-ly kia dường như thối thất với con đường, với lời nguyện ban đầu.
Tâm của đức Vê-xanh-ta thoáng rung động, nhưng nhờ định căn vững vàng, như gió thoảng qua, lại trở nên yên tĩnh.
Nàng Ma-đà-ly rời tịnh thất chưa bao lâu thì lão Bà-la-môn tìm đến.
Từ xa, thấy lão, Thái tử đã biết rõ, ngài thốt lên trong tâm:
- Ehi va tabbo! Này người Bà-la-môn! Chính ngươi là pháp phương tiện đưa ta đến Niết-bàn. Chính ngươi giúp ta thành tựu bố thí Ba-la-mật.
Đức Vê-xanh-ta dạy Ra-ly tiếp đón, rồi nói với con rằng:
- Này Ra-ly! Con có thích người Bà-la-môn này chăng?
Ra-ly vốn là trẻ thông minh hết mực, biết ý cha nên vội vã đến bên lão Bà-la-môn tỏ lời thân thiện:
- Cụ đã già mà mang xách gì nặng quá, để cháu tiếp hộ cho.
Lão Bà-la-môn tự nghĩ:
- Như loài công vừa sinh ra đã có màu sắc lóng lánh, như gai kia không mài dũa mà vẫn nhọn tự nhiên, trẻ này vốn là giống dòng quý tộc, nếu ta có xin về cũng rắn mắc khó dạy. Phải dằn mặt trước mới được.
Rồi ra vẻ giận dữ:
- Mày là con ai mà vô lễ đến thế? Sao dám lân la đến bậc trưởng thượng?
Bé Ra-ly nhìn bộ tướng hung tợn của lão Bà-la-môn, sợ hãi thụt lùi núp sau lưng cha. Lão Bà-la-môn đến quỳ lạy đức Vê-xanh-ta tỏ vẻ thân thiện:
- Muôn tâu bậc đạo sĩ đức hạnh! Lê dân trăm họ suốt cả các nước chư hầu không ai là không cảm phục ngài dám bỏ điện ngọc ngai vàng, vào rừng sâu sống đời khổ cư tịch mịch. Lão là kẻ ngu hèn, cũng đêm đêm nguyện cầu cho ngài được sức khỏe kiện toàn, an vui đời sống ẩn sĩ thanh tịnh.
Lại mỉm cười hiền lành tiếp:
- Chẳng hay Thái tử ở đây vật thực có đủ no lòng? Các loài ác thú phi nhơn ngỗ nghịch có dám đến quấy rầy bậc tu hành nhân đức không?
Đức Vê-xanh-ta gật đầu, tuy hiểu rõ những lời hoa ngôn xảo ngữ kia, vẫn đáp:
- Cảm ơn sự hảo tâm cùng những lời chúc tốt đẹp của người phương xa. Ta muốn ở chốn rừng sâu hẻo lánh, đã sống hạnh khước từ và yểm ly đô thị, chẳng biết có thể giúp cho người được gì không?
Lão Bà-la-môn cố dệt thêm lời mở đầu cho trau chuốt:
- Nước của năm con sông to, nhất là sông Hằng chảy ra đại hải, mà biển kia cũng không bao giờ tràn ngập thế nào; thì ơn đức của Thái tử đối với chúng sanh này cũng như vậy. Lão là kẻ ăn xin đói khổ thường hay tâm niệm được gặp Thái tử, quỳ lạy và chiêm ngưỡng dung nhan, hầu cho kiếp bần hàn cơ khổ được tăng thêm phước thọ.
Lại tiếp:
- Sau nữa, lão cũng muốn xin một chút lộc mọn cho tuổi già bất hạnh. Nhưng than ôi! Trải bao dặm trường gian lao, chân run gối mỏi, bò núi lội sông, đến được kinh đô Kế-tư-đà thì Thái tử đã vào rừng sâu mất rồi. Nhưng quả là trời cao không phụ tấm lòng của người chí thiết, nắng mưa bươn bả, lão cũng tìm đến được nơi đây. Ôi! Thật đã không uổng một kiếp nhân sinh hèn mọn.
Đức Vê-xanh-ta thấy lão lắm lời, khẽ nhắc lại:
- Thôi được rồi! Lão cứ nói những điều sở nguyện?
- Muôn tâu – Lão Bà-la-môn lại lạy – Thái tử đã mở lời thì lão cũng xin dám thưa: Thái tử bố thí cho lão hai trẻ, để tuổi già được nghe giọng oanh tiếng sáo cho bớt phần quạnh hiu!
Đức Vê-xanh-ta nói:
- Trong kiếp này, chưa ai xin gì nơi ta mà phải bị thất vọng. Được rồi, nhưng lão đi đường xa nhọc mệt, hãy tắm rửa, ăn uống, nghỉ ngơi, rồi đợi đến chiều, được chăng?
Lão Bà-la-môn ngần ngại:
- Không được, lão muốn đi ngay...
Đức Vê-xanh-ta đưa mắt nhìn con đường mòn nhỏ xuyên vào núi sâu, nơi mà nàng Ma-đà-ly thường đi vào mỗi bữa sáng, nói rằng:
- Nữ đạo sĩ Ma-đà-ly vừa có công sanh vừa có công dưỡng. Đi theo ta, sống với ta, nàng cũng sẵn có tâm bố thí. Ta muốn lão nán lại để có sự chứng kiến của nàng.
- Không được đâu – Lão Bà-la-môn lắc đầu – Thái tử vì lòng rộng rãi nên đã đánh giá người nữ quá cao. Chẳng có bà mẹ nào dám dứt bỏ con mình – là núm ruột không lìa – để cho kẻ khác, dẫu là với đại nguyện cao cả thế nào. Đợi lệnh bà về, nếu vì quyến luyến thương tiếc thì trở ngại cho sự bố thí của Thái tử xiết bao? Một ngàn lần chiến thắng được mình, nhưng sẽ một lần thất bại trước giọt nước mắt của người đàn bà. Hãy cho gấp hai trẻ đến lão, rồi lão sẽ đi ngay.
Chẳng biết sao hơn, đức Vê-xanh-ta nói:
- Ta sẽ y lời. Nhưng này lão Bà-la-môn! Sau khi được hai trẻ rồi, lão nên dẫn chúng đến vương phụ ta. Ngươi sẽ được ban thưởng nào là ngựa, bò, trâu, vàng bạc, tôi trai lẫn tớ gái... để lão sống một đời ngũ dục dư dã, hạnh phúc.
Lão Bà-la-môn lắc đầu:
- Không thể được, thưa Thái tử! Lão là dân đầu đường xó chợ, quần túm áo ôm; khi dẫn hai trẻ đến cung vàng hoa lệ thì ai cũng cho rằng lão là tên cướp đường, cướp rừng, cướp biển. Người thành phố cao sang thường truyền tụng câu ngạn ngữ: Người lương thiện không ai mặc áo rách! Chắc Thái tử cũng đã có nghe? Và nếu vậy, khi đức vua ghép lão vào tội ăn cắp hai trẻ, bắt tra khảo đánh đập, xử giảo, lăng trì hay treo đầu, chém cổ thì lấy đâu mà khiếu nại? Giả dụ Thái tử có biết thì cũng đã muộn rồi. Chẳng thể đâu, Thái tử!
Khi đức Vê-xanh-ta và lão Bà-la-môn nói chuyện với nhau, Ra-ly và Kanh-ha đều nghe rõ hết. Biết số phận của mình, hai trẻ run sợ tái xanh mặt. Như chú nai trông thấy móng vuốt của cọp beo, như hai linh hồn yếu đuối bị lưỡi hái của tử thần rượt đuổi sau lưng – hai trẻ tìm đường trốn thoát. Chúng ẩn trong hốc cây, sau đó, chúng lao xuống ao sen, trầm mình dưới nước, rồi lấy lá sen phủ đầu. Bốn con mắt tho lỏ như bốn con mắt nai nhìn về phía tịnh thất, lo lắng, sợ hãi.
Lão Bà-la-môn nhìn quanh không thấy chúng, cảm thấy bất bình, lớn tiếng nói rằng:
- Tôi đến đây áo quần lấm bụi, chưa tỏ hết lời mà Thái tử đã vui lòng bố thí cho hai trẻ. Ôi! Quả như lời đồn: đức Vê-xanh-ta, Thái tử con vua Thệ Sanh và hoàng hậu Trầm Hương, nguyện bố thí bất-nghịch-ý gia tài, vợ con và cả tính mạng đến tất cả chúng sanh. Ôi! Thật là cao cả thay! Thật là lớn lao thay tấm lòng trời bể.
Lão lại quỳ xuống đảnh lễ rồi nói:
- Muôn tâu bậc ẩn sĩ thanh tịnh! Như thế thì lão chẳng hiểu, tại sao ngài lại phải chần chờ, đợi nữ đạo sĩ Ma-đà-ly về? Thái tử cho nhưng lệnh bà cản, thì phải chăng lời đại nguyện kia vẫn cứ thành tựu? Phải thế không? Lại nữa, hai trẻ trốn mất đi, nếu không có ám hiệu của cha chúng thì chúng chẳng dám nào. Lời của Thái tử vốn quý báu như ngọc vàng, như đao phá thạch, lẽ nào hôm nay trước sau chẳng như một?
Bị lão Bà-la-môn sỉ nhục thậm tệ, đức Vê-xanh-ta vẫn ôn tồn nói:
- Hãy bình tĩnh lại, đừng hiểu lầm! Lời ta nói ra chẳng dám coi như kim khẩu, nhưng cũng coi nặng bằng non. Để ta đi tìm hai trẻ.
Nói xong đức Vê-xanh-ta nhìn quanh một hồi rồi bước đến ao sen. Hai trẻ không dấu đâu được trước sự thông minh của ngài. Hướng về hai con, đức Vê-xanh-ta nói rằng:
- Này Ra-ly! Con yêu quý của cha! Con sinh ra trong dòng giống quý tộc, là cháu của đức vua Thệ Sanh oai danh lừng lẫy, là con hiếu thảo của ta! Lẽ đâu con không hiểu điều ấy để người Bà-la-môn này tìm lý do để trách cứ ta? Ra-ly quý mến! Dòng dõi của chúng ta chưa hề bị ai sỉ nhục mà hôm nay đã bị người sỉ nhục!
Con ôi! Ta rất thương hai con, nhưng ta lại thương yêu hơn nữa là con đường cứu khổ chúng sanh. Ta thương yêu sự giác ngộ cao cả vậy.
Con hỡi! Giữa biển lớn, dẫu những kẻ thương buôn cố tìm các loại cây danh mộc để tạo những chiếc thuyền chắc chắn, kiên cố; nhưng chỉ cần bất ngờ một cơn sóng to, một cơn bão rớt – thuyền kia sẽ bị sóng đánh tan hoặc chìm sâu xuống bể cả. Những chiếc thuyền đời chẳng có gì là bền vững vậy.
Con yêu quý! Hãy nhìn thấy xa! Hãy nhìn thấy rộng! Ta với đại nguyện trong lòng làm người thuyền trưởng ra giữa biển sinh tử để độ thoát cho chúng sanh, thì hai con sẽ là chiếc thuyền pháp kiên cố vững bền nhất. Hai con không giúp ta, thì làm sao ta thành tựu được sở nguyện cuối cùng?
Trẻ Ra-ly nghe lời đức Vê-xanh-ta nói, cảm thấy xốn xang khó chịu trong lòng, tự nghĩ:
- Ta đây là dòng dõi cao quý, tại sao lại hèn nhát trốn núp ở đây để cho cha ta bị người mạ lị? Dẫu lão Bà-la-môn tàn ác kia có đánh đập giết hại ta – thì ta cũng đừng vì vậy mà làm tổn thương danh dự cùng tư cách kẻ giống dòng.
Nghĩ thế xong, trẻ Ra-ly mạnh dạn vẹt lá sen lội lên, hôn bàn chân phải của đức Vê-xanh-ta, đứng bên rồi khóc ròng. Noi gương anh, bé Kanh-ha cũng lên khỏi ao, hôn bàn chân trái của cha rồi lấm lét đưa mắt nhìn lão Bà-la-môn.
Trước cảnh ấy, đức Vê-xanh-ta xúc động đến chín lịm người đi. Tuy thế, sau một hồi trấn tỉnh phi thường, ngài cầm tay hai trẻ âu yếm nói:
- Ra-ly và Kanh-ha con ta! – Ngài đưa tay chỉ ra phía hồ – Những cây sen kia mọc từ dưới đáy bùn, chúng vươn lên ngang mặt nước, vượt lên khỏi mặt nước để trổ lá đơm hoa thơm ngát. Cũng vậy, chúng ta cũng từ những ao hồ, những đáy bùn ô trược của cuộc đời, hãy vươn lên mãi, chế ngự những bản chất và cá tính tầm thường để sau này nở thành những đóa sen cao quý, tinh khiết.
Các con hỡi! Hãy ngước mắt lên nhìn ta, và hãy tươi tỉnh và can đảm nở nụ cười, để xứng đáng là con dòng cháu giống. Các con là cái gì trân quý nhất của ta, trân quý hơn trân bảo đến muôn vạn lần. Các con nhé! Hãy vui vẻ mà đi theo người Bà-la-môn. Nếu sau này Thái Thượng Phụ có chuộc hai con, thì Ra-ly phải là một ngàn lượng vàng ròng, Kanh-ha thì phải hơn thế nữa, không những là một ngàn lượng vàng ròng mà còn bò sữa, bò đực, ngựa, tôi trai tớ gái mỗi thứ mỗi trăm mới tạm thời xứng giá. Và khi được trở về với Thái Thượng Phụ rồi, các con sẽ tha hồ mà vui chơi nhảy nhót. Còn bây giờ thì hãy nghe lời ta, hỡi các con hiếu thuận!
Đức Vê-xanh-ta dẫn hai con về phía tịnh thất, lấy nước trong rưới lên bàn tay lão Bà-la-môn, chú tâm rải lòng từ bi, phát sanh tình cảm thanh khiết, vắng lặng rồi nói:
- Hai trẻ là quả tim, là đôi mắt của ta. Này lão Bà-la-môn! Vì thương yêu sự Giác ngộ, yêu thương hết thảy chúng sanh trăm phần hơn nên ta bố thí hai trẻ đến cho người. Nguyện cầu quả bố thí là nhân duyên cho đạo quả Vô Thượng Bồ-đề!
Khi đức Vê-xanh-ta trao trẻ cho lão Bà-la-môn, quả địa cầu dày hai trăm bốn chục ngàn do tuần chấn động mãnh liệt. Sóng ở biển đột ngột dâng cao, vỗ giữa hư không ì ầm không ngớt. Chư thiên nhìn nhau kinh sợ. Trời Đế Thích nóng nảy ngồi đứng không yên.
Lão Bà-la-môn vừa được hai trẻ, đã nói:
- Lão già cả sức yếu, nếu hai trẻ bỏ chạy thì lão làm sao đuổi kịp? Xin Thái tử vì lòng từ tâm, vì lời nguyện vô thượng, trói hai trẻ giùm lão!
Đức Vê-xanh-ta với lòng nhẫn nhục cao độ, trói hai trẻ giao cho lão Bà-la-môn. Được chúng rồi, lão nắm mạnh đầu dây lôi đi. Được vài bước, hai trẻ trì lại, lão quay ngược gậy đánh cho mấy hèo. Hai trẻ khóc, lão lại thẳng tay đánh nữa; vừa đánh vừa chửi, không chút vị nể:
- Trước đây, lũ chúng bay là giống dòng quý tộc cao sang, nhưng giờ đây là tôi tớ lão, ỷ thế gì mà cứng đầu, ngoan cố hả? Lão sẽ đánh cho bò lê bò càng ra, đồ khốn kiếp!
Thảm thương cho hai trẻ, nước mắt tuôn rơi như mưa, đưa đôi mắt khẩn cầu nhìn cha chúng. Đức Vê-xanh-ta quay lưng giấu nỗi xúc động. Lòng như từng đợt sóng trào lên rồi chìm xuống, ngài cứ để tâm trú vào bản chất rỗng không của Pháp, hồi lâu ngài tìm được sự yên tĩnh của mặt hồ. Trong khi ấy có một vị Dạ-xoa định thò tay bóp cổ lão Bà-la-môn, nhưng một vị trời đã ngăn lại, nói rằng:
- Đế Thích thiên vương còn tức giận lão kia hơn nữa kìa, nhưng hãy để yên, đừng tham dự vào sở nguyện Ba-la-mật của đức Vê-xanh-ta!
Trẻ Ra-ly đưa mắt nhìn vào tịnh thất:
- Cha ơi! Sao cha nỡ lòng nào để lão Bà-la-môn đánh đập chúng con? Cha ơi! Sao cha đành bỏ chúng con để cho lão già khốn kiếp, hèn hạ này lôi kéo chúng con đến trầy da tươm máu? Buổi sớm vào non hái trái, mẹ con đã phó thác hai con cho cha như thế nào, cha quên rồi ư? Hãy vì chút tình phụ tử mà cứu chúng con, cha ôi!
Hai trẻ càng khóc la bao nhiêu, lão Bà-la-môn càng đánh đập bấy nhiêu. Đã gãy một cái gậy, lão tìm cái gậy khác. Hai trẻ đau quá, bò dưới đất, năn nỉ xin tha mà lão Bà-la-môn tấm lòng sắt đá dường như chẳng biết xót thương là gì!
Lão Bà-la-môn nghiến răng, đanh mặt lại:
- Tụi bay đừng tưởng con vua cháu chúa mà xấc xược khinh người. Tao sẽ đánh tụi bay như đánh những con chó hoang.
Rồi lão lại giáng gậy như mưa bấc, chẳng khác gì một trận đòn thù. Ra-ly trườn mình tới, đỡ đòn cho em. Một sức mạnh từ đâu không biết, nó đứng bật dậy:
- Này lão già khốn nạn! Nếu lão còn là giống người, đủ can đảm thì hãy đánh ông đây! Sao lão cứ đánh mãi em ta? Nó là gái yếu đuối, đâu chịu nổi cánh tay thú vật của ông? Thật là hèn hạ bỉ ổi!
Lão Bà-la-môn không giận mà lại cất tiếng cười quái gở. Những trận mưa đòn gậy lại ập xuống trên lưng, trên đầu, trên cổ Kanh-ha.
Lại kể lể:
- Bọn bây ngon lắm! Lá ngọc cành vàng ghê gớm lắm! Sung sướng quen rồi. Lão đây thiếu cơm thiếu áo, canh cặn cơm thừa, bị khổ sở suốt cả một cuộc đời khốn nạn. Bọn bây mới bị đánh đập một chút ít thì cũng chưa sao!
Ra-ly ôm Kanh-ha đã ngất lịm đi vì đau đớn. Nó cắn răng chịu đòn thay em. Thương thay, thân thể rướm máu, môi bật máu mà linh hồn chúng dường như cũng rỉ máu:
- Em ơi! Cha chúng ta đã thật sự bỏ chúng ta rồi. Điều này mới chính thật là đau đớn hơn. Mẹ ơi! Mẹ ở đâu? Hãy cứu chúng con, mẹ ơi! Ôi! Đau quá! Vĩnh biệt cha! Vĩnh biệt mẹ!
Đức Vê-xanh-ta ở trong tịnh thất. Mặt hồ đang yên lặng, sóng lại cuộn trào lên. Lần này thì trào lên dữ dội hơn bao giờ. Cứ mỗi tiếng roi vọt, mỗi tiếng kêu la, mỗi lời than thở của trẻ là ngài lại thốn đau, tim thắt lại, ruột gan như bị lửa nung đốt. Thế là một ác niệm khởi lên. Ác niệm kia lớn dần, mạnh dần dường như không kìm hãm nổi. Tuy nhiên, đức Vê-xanh-ta lại chiến thắng, nhờ ngài nghĩ đến chư Phật trong quá khứ đã từng móc gan, móc ruột, cắt tim, khoét mắt mình để cứu chúng sanh. Ngài lại còn nghĩ đến con đường Giác Ngộ Vô Thượng, đến sự luyến ai buộc ràng là nhân của trầm luân sinh tử. Hồi lâu, tâm đức Vê-xanh-ta lại trở nên yên lặng, yên lặng rất sâu. Sắc mặt ngài đã trở nên khoan hòa, mát mẻ.
Lão Bà-la-môn đã dẫn hai trẻ đi xa được một đoạn đường. Cứ mỗi lần hai trẻ đi chậm hoặc chính lão bị vấp té là lão quay lui đánh chưởi vô hồi kỳ trận.
Ra-ly ngước mắt lên trời than:
- Cao xanh hỡi cao xanh!
Kiếp trước nhân chi, nghiệp phải đành
Xót dạ, con đi, sầu chín khúc
Đau lòng, mẹ ở, lệ năm canh
Thương em gầy yếu đời gai góc
Nhớ mẹ đơn côi, kiếp lạnh lùng
Tổ ấm hàn ôn, giờ vĩnh biệt
Phương người, chôn kín bóng song thân!
Chư thiên khắp núi rừng Gri-văng-ca thảy đều ngậm ngùi sa lệ...
Trong lúc ấy, tại rừng sâu, nàng Ma-đà-ly trong lòng quặn thắt, đi tới đi lui, xốn xang, bứt rứt không yên. Nàng chẳng hái được bao nhiêu trái cây trong suốt buổi sáng. Nàng không nhìn thấy gì, không nghe thấy gì, chỉ biết ruột xé tợ dao bào. Mới chia tay hai con mà tưởng chừng như đã lâu lắm, nàng chợt sợ hãi đến lạnh người khi nghĩ rằng: sẽ không còn nhìn mặt hai con được nữa!
Ôi! Sợi dây mẫu tử thiêng liêng tưởng như vô hình nhưng mà nó hiện hữu mãnh liệt xiết bao! Ngay chính khi Ra-ly gào kêu, cầu cứu mẹ đến khản giọng – thì nàng nóng nảy, bươn bả bỏ rừng tìm về. Chư thiên thấy và biết mọi sự, sợ nàng không chịu nổi tình trạng thê thảm của hai con, có thể kinh động, gây trở ngại cho tâm nguyện của Thái tử - nên theo lời dạy của trời Đế Thích – họ hiện ra sư tử, cọp, beo nằm chặn tất cả các con đường.
Nàng Ma-đà-ly trở về ngã nào cũng gặp ác thú, chẳng biết sao hơn, đành chấp tay khấn vái vô cùng tha thiết. Chư thiên tuy cảm động lắm, nhưng chỉ đợi lúc hai trẻ đã đi xa, họ mới không ngăn nàng nữa. Về đến tịnh thất vắng hoe, nàng kêu hai con đến rát cổ mà chẳng nghe lời đáp lại. Tóc tai rối bù, y áo nhàu nát nàng chạy từ hốc cây này qua kẹt đá khác, sục sạo tìm kiếm.
- Ra-ly! Kanh-ha! Hai con yêu quý của mẹ! Hai con ở đâu?
Tiếng vọng dồn dâp, nghẹn ngào của nàng chỉ có núi rừng vọng lại.
Đức Vê-xanh-ta nghĩ:
- Nàng đã về. Không có hai con, nàng có thể sinh ra điên cuồng, quẩn trí. Hãy để cho tâm nàng lắng lại, ta sẽ nói.
Ngoài kia, tiếng gọi của nàng Ma-đà-ly càng lúc càng thê thảm:
- Ra-ly hỡi! Kanh-ha hỡi! Hai con ở đâu? Ôi! Có tai nạn ác nghiệt nào xảy đến cho hai con tôi rồi. Trời xanh ơi! Cao xanh ơi! Sao tôi khổ thế này?
Tiếng gọi tuyệt vọng của nàng vang vang từ cánh rừng này qua cánh rừng khác, hồi lâu lại trở về bên cửa tịnh thất của đức Vê-xanh-ta. Người nàng bây giờ đã kiệt lả ra, như cái xác vô hồn.
- Hai con tôi đâu? Xin Thái tử cho biết là hai con tôi đâu? Hai trái tim và mạng sống của tôi giờ ở đâu?
Hỏi đến lần thứ ba, đức Vê-xanh-ta vẫn im lặng. Nàng lại khóc, kể lể:
- Chàng ôi! Mỗi lần thấy tôi về từ đằng xa thì chúng đã ríu rít, líu lo như sáo cưỡng. Trẻ Ra-ly hôn bên bàn chân phải, trẻ Kanh-ha hôn bên bàn chân trái. Tôi ẵm chúng trong tay. Tôi cười, chúng cười. Đứa chạy trước, đứa chạy sau lúp xúp mới dễ thương làm sao! Ôi! Tôi nhớ Ra-ly có một vết thương nhỏ xíu trên má trái vì cỡi chú ngựa rừng tí hon bị té. Trẻ Kanh-ha có bắp chân tròn mũm mĩm với rất nhiều nốt ruồi son. Tưởng nó là tướng đại phú quý! Chúng vây quanh giỏ trái cây, bảo trái này là của cha, trái này là của mẹ. Chúng đội hoa trên đầu, quàng hoa trên cổ, tung tăng trên lối cỏ xanh ra bờ suối, đến ao sen. Ôi, biết bao tháng ngày quạt nồng ấp lạnh. Chúng đau là tôi đau. Chúng vui là tôi vui. Vắng bóng chúng là tôi vắng mặt trời, là tâm hồn tôi tối tăm lạnh lẽo! Ôi! Chàng ôi! Giờ chúng ở đâu? Sao chàng không nói một lời?
Đức Vê-xanh-ta nghĩ: niềm đau khổ của nàng đã bắt đầu giảm bớt. Ta hẳn đợi một lúc nữa, khi tâm hồn nàng đã hoàn toàn lắng dịu, ta sẽ nói!
Nàng Ma-đà-ly đã hơi tỉnh táo:
- Phu quân kính mến! Dẫu hai trẻ có bị ác thú trở chứng làm hại, dẫu hai trẻ có bị tai họa nguy hiểm chừng nào, thì phu quân cũng cứ cho thiếp biết. Sự im lặng của phu quân làm cho thiếp đau khổ hơn là mất hai con nữa. Phu quân ơi! Hãy nói với thiếp một lời!
Đức Vê-xanh-ta bây giờ mới mở mắt ra.
- Ma-đà-ly yêu quý! Bây giờ nàng đã bình tĩnh và sáng suốt rồi. Ta báo cho nàng hay là hai con ta không bị ác thú làm hại, không có bị tai nạn chết người đâu. Nàng hãy an tâm.
Nàng Ma-đà-ly ngồi bình tĩnh, chờ đợi lắng nghe.
Đức Vê-xanh-ta tiếp:
- Thấy nàng đau khổ thái quá khi vắng bóng hai con nên ta chưa thốt ra lời đó thôi. Nàng hỡi! Ta biết tình mẹ thương con như thế nào, và tình ta đối với hai con cũng sâu đậm lắm, nhưng tuyệt đối không thể so sánh được với nàng. Hai trẻ, vì đại nguyện bố thí bất - nghịch - ý, ta đã cho đến người rồi. Hãy bình tĩnh. Hãy bình tĩnh!
Nàng Ma-đà-ly lặng người đi rất lâu, nước mắt đã khô chảy.
Đức Vê-xanh-ta lại nói:
- Ta yêu quý nàng. Ta yêu quý hai con. Nhưng đối với chúng sanh trầm luân đau khổ ta lại rất tha thiết đi tìm phương thuốc cứu độ. Chư Phật quá khứ thường như thế. Mất nàng, mất hai con, ta có thể chết được, nhưng dẫu sao, cũng chỉ chết một đời. Nhưng mất cơ duyên đại giác, đời chúng ta sẽ chìm đắm trong bóng tối mãi mãi. Nàng hỡi! Hãy giúp ta! Hãy tiếp sức với ta trong tình thương thanh khiết này. Ấy là tình thương của bờ kia, tình thương không hệ lụy, buộc ràng; tình thương không phân ly và nước mắt. Nàng đã phát nguyện tùy thuận với ta, đi theo một con đường, thì nàng hãy cho ta đạt thành sở nguyện chứ? Có bao giờ ta dám dối nàng hoặc hết yêu thương nàng và con để trở thành gỗ đá vô tri? Chính đạo quả Vô Thượng Bồ Đề mới nói lên ý nghĩa tình thương chơn chánh ấy. Ma-đà-ly nàng hỡi! Nàng nghe rõ những điều ta vừa nói đó chứ?
Nàng Ma-đà-ly ngước đầu lên, đôi mắt còn đỏ hoe:
- Nghe rõ! Nghe rõ từ trong chỗ sâu xa nhất của trí não, thưa phu quân! Từ lâu, thiếp chỉ nghe bằng trái tim nên thiếp đã sai lầm. Thiếp đã có hứa cùng chàng thì đâu có thể thay đổi được. Tuy thế, nghiệp chướng của nữ nhân vốn nặng nề về luyến ái, dẫu đồng ý với chàng nhưng vẫn còn đau đớn lắm. Xin phu quân xá tội cho.
Đức Vê-xanh-ta gật đầu:
- Ta đâu dám trách nàng điều chi? Nàng cũng không có tội gì. Tình mẫu tử thiêng liêng là một tình cảm đáng trân trọng. Tuy thế, nàng cũng phải hiểu rằng, đấy là nhân của tử sinh và đau khổ. Bây giờ, nàng đã chiến thắng, nàng đã bước ra khỏi cái thế tình. Nàng đã không phụ lòng ta, nàng đã không thẹn với chư Phật. Bánh xe xuất thế, nhờ nàng đã bắt đầu chuyển nhịp. Quả đất đang rung động đó, nàng có biết không? Chư thiên đang tán thán, ca ngợi nàng làm rung rinh mấy tầng không gian lớn rộng, nàng nghe rõ không?
Những lời đúng đắn, phải lẽ kia như viên thuốc hồi sinh; tình cảm, lý trí và sự sống nơi nàng Ma-đà-ly đã bắt đầu máy động. Khuôn mặt ngọc giờ đã ráo lệ, nàng Ma-đà-ly bất chợt nở nụ cười. Nàng đang cố gắng tìm sự bình an trong trạng thái tình cảm trong sáng và vắng lặng...
Ngay khi ấy, một đạo sĩ nghiêm trang, dung sắc tốt đẹp vô cùng, xuất hiện trước tầm mắt hai người. Đạo sĩ choàng áo da thú, to lớn, chững chạc, trầm tĩnh như chúa sơn lâm vừa bước ra khỏi động báu. Môi mỉm nụ cười hoa sen, đạo sĩ nói:
- Tốt đẹp thay là vị ẩn sĩ thanh tịnh! Tốt đẹp thay là kẻ viễn ly đô thị, sống đời phạm hạnh bằng trí tuệ chiếu sáng như trăng sao! Tốt đẹp thay là người có giới đức như viên ngọc Ma-ni không tỳ vết! Hỡi bậc đại ẩn sĩ! Tôi kỉnh mộ và tịnh tín ngài! Tôi chúc mừng ngài với tất cả những gì thiện hảo nhất!
Đức Vê-xanh-ta và nàng Ma-đà-ly ngạc nhiên đến sửng sốt. Sự xuất hiện đột ngột, ngôn ngữ lưu loát, dung nghi và cốt cách long phụng của đạo sĩ tỏa ra ánh sáng khác phàm. Đức Vê-xanh-ta nghiêng mình đáp lễ rồi nói rằng:
- Hỡi người tu hành khả kính! Mà, mặc y phục bằng da thú là nhân sanh thiện giới của nhiều kiếp vị lai! Cảm ân sự mến mộ của người. Chẳng hay người từ phương nào lại, muốn chỉ giáo tôi điều gì? Hoặc tôi có thể giúp đỡ gì được cho người? Nhưng trước tiên, xin người hãy tắm rửa, rồi tạm dùng các vật thực cây trái có sẵn. Tất cả đều đầy đủ, thơm ngon và tinh khiết. Người hãy tùy nghi sử dụng. Tất cả là của người.
Vị đạo sĩ nghiêng thân nói:
- Hỡi bậc đại ẩn sĩ quý trọng! Trước sự chân tình và lòng hảo tâm của người, ta đã lĩnh ý. Và coi như ta đã thọ dụng rồi vậy!
Đức Vê-xanh-ta tự nghĩ: người này, kẻ này – dung nghi sáng rỡ như một đóa hoa ở cõi trời – chắc chắn không phải là hạng đạo sĩ tầm thường! Y đến đây để dạy bảo ta? Thử thách ta? Hay là sẽ xin ta cái gì trân quý nhất? Bèn gợi ý:
- Ngàn dặm đường xa tới chốn thâm sơn cùng cốc này, chắc chẳng phải ngài chỉ có bấy nhiêu lời thiện cảm và đầy khách sáo? Phải có lý do chính đáng mới làm cho ngài mất công phu và thì giờ? Hỡi đạo sĩ với phẩm cách cao thượng và thoát tục, ngài hãy nói đi và ta xin nghe!
Đạo sĩ mỉm cười khó hiểu:
- Ta đâu dám đến đây để dạy bảo ngài điều gì! Ta cũng chẳng có gì thắc mắc để làm bận tâm bậc tu hành khả kính! Mục đích của ta là đến xin một vật trân quý nhất của ngài thôi!
Đức Vê-xanh-ta thật lòng nói:
- Tiếc thay, ngài đến muộn mất rồi! Trước đây hằng muôn xe vàng bạc và của cải, ta đều cho đi hết sạch. Những thứ trân quý như bảo châu, anh lạc, hổ phách, mã não, xa cừ... ta cũng đã bố thí hết cho lê dân...
- Những thứ ấy chẳng phải là trân quý!
Đức Vê-xanh-ta lại một lần nữa ngạc nhiên:
- Cho chí ngôi vương ta cũng không còn bịn rịn. Hai đứa con ta, hai hoàng tôn vô giá, ta cũng đã bố thí đến cho người!
Đạo sĩ mỉm cười:
- Ta chỉ muốn một thứ quý hơn, cao sang hơn tất cả những thứ mà ngài vừa kể.
Đức Vê-xanh-ta lạ lùng nhìn đạo sĩ, một lát, ngài cũng mỉm cười:
- Vậy thì ta chỉ còn cái cốc tranh, nước lã, cây trái cùng tệ phụ nhân!
Đạo sĩ nói:
- Cốc tranh, nước lã, cây trái... thì ở đâu mà chẳng có!
Đức Vê-xanh-ta chợt hiểu:
- A! vậy thì phu nhơn của ta, chẳng hay người muốn ta bố thí chăng?
- Phải rồi! Chỉ có nàng mới đáng gọi là trân quý đối với ta!
- Nhưng ngài là kẻ tu hành – đức Vê-xanh-ta nói – là sống đời phạm hạnh, có lẽ nào...?
- Còn Ngài thì sao? – Đạo sĩ mỉm cười hỏi – Ngài không là kẻ tu hành phạm hạnh sao? Rồi giọng đạo sĩ chợt trang nghiêm – Ta cần một người đàn bà thủy chung và đức hạnh, mà hương thơm tỏa ra còn tối thượng hơn cả già-la-hương, chiên-đàn-hương! Ngài có giúp cho ta được như nguyện chăng? Bậc đại ẩn sĩ có dám cho ta viên bảo châu vô giá đó?
Biết đạo sĩ nói thật, đức Vê-xanh-ta không còn hoài nghi nữa; khẽ cầm tay nàng Ma-đà-ly – lúc ấy, sắc mặt nàng không có ý phản đối – lấy nước rưới lên tay đạo sĩ, rồi trao nàng tận tay ông ta:
- Viên trân châu bảo ngọc này còn là trái tim, hơi thở và mạng sống của ta, bây giờ là của ngài.
Lại ân cần nói với nàng:
- Đối với ta như thế nào thì với đạo sĩ, nàng cũng phải như vậy.
Nàng Ma-đà-ly kính cẩn nói:
- Thiếp bây giờ do tâm ý chàng mà sanh ra, do tâm ý chàng mà tác thành và hiện hữu! Là hình ảnh, là con thuyền vững bền của chàng để đi đến nơi bến giác xa xăm!
Cả ba người lúc ấy thảy đều mát mẻ.
Quả địa cầu rung động. Thiên âm giữa hư không, hốt nhiên đọc bài kệ tán thán hy hữu:
“- Của cải tuy quý,
Nhưng thoắt đến thoắt đi
Vàng bạc, ngọc ngà tuy quý
Nhưng chỉ như màu sắc của mây;
Sự lộng lẫy của bong bóng nước!
Con cái tuy quý,
Nhưng đứa khác sẽ sinh ra!
Còn người vợ mỹ miều và đức hạnh thì,
Thắp đuốc đi tìm trên thế gian
Nào có dễ đâu!
Thế mà đức Vê-xanh-ta
Có thể dứt bỏ luyến ái dễ dàng
Như cắt núm ruột mình
Ném cho loài phi điểu
Ôi! Hy hữu thay là hạnh khó làm!”
Vị đạo sĩ nhận nàng Ma-đà-ly, khoan thai bước đi. Được bảy bước, đạo sĩ trở lại, trao nàng tận tay đức Vê-xanh-ta.
Đức Vê-xanh-ta ngạc nhiên hỏi:
- Nàng Ma-đà-ly, viên trân châu vô giá của ta, không vừa ý, đẹp lòng ngài sao? Chẳng hay nàng có khiếm khuyết gì về sắc đẹp và đức hạnh?
Đạo sĩ mỉm cười lắc đầu:
- Không! Toàn hảo! Nàng là người đàn bà toàn hảo trên thế gian mà ta tìm thấy. Dẫu trong quá khứ, hiện tại hay vị lai cũng chưa có ai bằng nàng, huống nữa là hơn nàng!
Nói thế xong, hốt nhiên đạo sĩ bay lên giữa hư không, hiện thành vị trời với đai áo mũ miện cẩn ngọc dát vàng, lộng lẫy chiếu sáng cả khoảng không gian lớn rộng. Đức Vê-xanh-ta và nàng Ma-đà-ly chưa kịp ngạc nhiên, thì đạo sĩ đã nói:
- Hỡi này bậc ẩn sĩ khả kính! Sự bố thí Ba-la-mật của ngài đã thành tựu. Ta chính là Đế Thích thiên vương, xuống đây cốt để thử lòng ngài, có đang tâm bố thí vật khó bố thí, xả ly vật khó xả ly, dứt ái luyến buộc ràng với người vợ hiền đoan trang, đức hạnh. Ôi! Cao cả thay! Đức Vê-xanh-ta đã làm được! Ôi! Tối thượng thay là kỳ tích hy hữu!
Đức Vê-xanh-ta cùng nàng Ma-đà-ly như rơi vào giấc mộng.
Trời Sakka lại nói:
- Với oai lực của chúa Chư thiên cõi trời Ba mươi ba, ta hằng giúp mong muốn, sở nguyện đến cho những ai kiên trì và dõng mãnh đi theo thiện pháp. Vậy này hỡi Thái tử con vua Thiện Sanh và bà hoàng hậu Trầm Hương, cũng vậy, người hãy nói lên bốn điều sở nguyện, ta sẽ thành tựu cho.
Biết đây là vị trời có rất nhiều oai lực, ngài đã nói được, tất làm được. Ngẫm nghĩ giây lâu, đức Vê-xanh-ta nói:
- Chúng sanh ở cõi Ta-bà này hằng sống trong cảnh lo sợ hãi hùng vì chiến tranh, chém giết, hận thù, oan trái... Lại bị nạn nước, nạn lửa, cảnh sinh ly, từ biệt... Rồi cái bệnh, cái chết, cái nghèo đói lúc nào cũng như chiếc lưỡi hái của tử thần chực sẵn trên đầu. Vậy thì xin đức Đế Thích, vị trời chúa của những vị trời, mà oai lực bao trùm cả bốn châu thiên hạ, hãy cho tôi thành tự sở nguyện đầu tiên: Làm sao cho chúng sanh hằng thoát khổ được vui, hạnh phúc và an lạc đời đời kiếp kiếp!
Trời Sakka thốt lên:
- Ôi to lớn thay là ước nguyện của bậc đại chúng sánh! Vĩ đại thay là lòng từ của bậc chí nhân, chí thiện. Nhưng điều này ở ngoài uy lực của ta mất rồi. Ta chịu thôi. Hãy nói lên lời ước nguyện khác.
Đức Vê-xanh-ta thở dài, trầm ngâm chốc lát, lại tiếp:
- Biết bao cảnh con giết cha, vợ giết chồng! Cương thường đạo lý ở thế gian càng lúc càng thoái hóa. Lại nữa, chúng sanh hiện đang hăng say vào những việc làm tội lỗi như cướp của, giết người, tham dâm, ác độc, dối trá... Lời dạy của đấng đại hiền, của thánh triết, minh thư, chúng coi như đống giấy vụn, chúng bảo là vì cái đó không đem lại áo cơm, chẳng có lợi ích gì thực tế! Than ôi! Thần đã khóc, quỷ đã khiếp vì sự bạo tàn và hủy diệt lương tri của sinh chúng thời nay. Vậy thì xin đức Thiên Vương cao cả, với uy lực của ngài: làm sao cho chúng sanh thấy rõ nhân quả, tội phước – để chúng tự ngăn mình, hoặc làm nên các thiện sự hữu ích cho chúng lâu dài về sau.
Trời Sakka lại thốt lên:
- Ôi! Kỳ diệu thay là ước nguyện của một chúng sanh hữu tình ưu việt và tối thắng! Ôi! Sáng suốt thay là ước nguyện của vị Phật thời hậu lai! Nhưng thưa Thái tử! Ta là gì mà dám có oai lực vượt ra ngoài oai lực của ta? Tầm vóc của ước nguyện kia còn lớn hơn mười muôn triệu núi Tu Di kết hợp lại. Ta cũng nhờ chút phước lành trong quá khứ, do làm các thiện sự không biết mệt mỏi, nên được ngồi trên đầu một ngọn sóng, giữa vô lượng đợt sóng nhấp nhô chìm nổi của đại hải nhân quả nghiệp báo đó thôi! Ôi! Đức Vê-xanh-ta hỡi! Hãy nói lên lời ước nguyện khác!
--------------------------
Trích từ website: http://trungtamhotong.org . Chúng con thành kính tri ân TT Viên Minh.