|
Tỳ Khưu Giới Đức (Sīlagu.no Mahāthera) |
Chuyện Cổ Phật Giáo
(Tuyển tập các bài đọc của TK Giới Đức)
3.8 Bố Thí Bất Nghịch Ư phần 1.3 (49 phút và 10 giây)
Đức Vê-xanh-ta do sự thỉnh mời của trời Đế Thích nên từ cung trời Tu-si-ta giáng sanh vào kinh đô Kế-tư-đà làm con của đức vua Thệ Sanh và hoàng hậu Trầm Hương. Sở dĩ gọi là Trầm Hương v́ lư do nhân duyên quá khứ, bà bố thí trầm hương đến Đức Phật Tỳ-bà-thi nên trầm hương bao giờ cũng tỏa ngát nơi bà qua các cơi trời và người.
Từ khi thọ thai đức Vê-xanh-ta, mỗi ngày bà bố thí sáu mươi ngàn đồng tiền vàng, sống đời đức tin thanh khiết với thiện pháp.
Đức Vê-xanh-ta giáng thế th́ đồng thời, sáu muôn chư thiên cũng giáng sanh xuống rải rác trong quốc độ để sau này làm kẻ tùy tùng hầu hạ. V́ là ḍng dơi của chư Phật nên đức Vê-xanh-ta có dung nghi và tư cách khác thường.
Vua Thệ Sanh coi vị hoàng nam này như ngọc báu của quốc độ. Ngài cho xây bốn ṭa cung điện. Mười thầy Bà-la-môn uyên bác đảm trách về giáo dục. Hai mươi thị nữ săn sóc và hầu hạ. Mười vị lương y trứ danh túc trực sẵn sàng để coi về sức khỏe cho hoàng tử. Ngoài ra, vơng lọng, kiệu xe, ngựa voi, thú vui, vật lạ - chẳng có ǵ là không đầy đủ.
Lên tám tuổi, đức Vê-xanh-ta xin vương phụ cho được tự do bố thí. Mỗi ngày, ngài bố thí mười ngàn đồng tiền vàng với lời đại nguyện:
- Xin nguyện bố thí bất nghịch ư đến tất cả chúng sanh, không những bạc tiền và sở hữu có được - mà c̣n bố thí tứ chi, mắt tim, thân thể và luôn cả tính mạng!
Lời nguyện vô thượng làm cho địa cầu rung chuyển, lan xa đến mấy cơi trời. Chư thiên hữu t́nh rải hoa ca ngợi. Vô lượng chúng sanh cảm thấy trong tâm phát sanh hỷ lạc. Trong khi ấy có con vương tượng từ núi Tu Di đi qua hư không hạ xuống kinh thành, biếu tặng đức Vê-xanh-ta một con voi báu bốn ngà vàng cao quư. Biết đây là thần linh ban cho nên đức Vê-xanh-ta đặt tên là Voi Thần. Khi ngài ngự trên voi báu, vẻ uy nghi và sáng rỡ của cả hai khiến người người chiêm ngưỡng trầm trồ khen ngợi cho sự tương hợp kỳ lạ giữa chúa loài người và chúa loài voi. Đôi khi thích chí, Voi Thần bỏ mặt đất, bước qua cổng thành, chở đức Vê-xanh-ta dạo chơi giữa hư không. Mười ngàn thớt tượng của đức vua mỗi khi thấy Voi Thần đi ngang qua th́ run rẩy, hai chân trước khuỵu xuống, phủ phục không dám ngẩng đầu lên.
Từ khi đức Vê-xanh-ta được Voi Thần cũng là lúc vua Thệ Sanh được làm chúa chư hầu. Các nước lân bang từ lâu có ư xâm lăng, ḍm ngó - nay đều chịu thần phục và xin triều cống. Mỗi năm, của cải từ bốn phương đem về kinh đô Kế-tư-đà c̣n hơn trăm con sông đổ nước về biển. Vua Thệ Sanh cho xây mười ngàn cung khố, tuyển thêm mười muôn binh để lo việc chuyên chở, săn sóc và bảo quản. Sáu ngàn cung phi mỹ nữ sủng ái, mười ngàn quan đại thần đều được hưởng lộc vạn thặng.
Cung điện của đức vua Thệ Sanh từ đây biến thành cảnh thiên đường hạ giới, lúc nào cũng cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm!
Đức Vê-xanh-ta lúc ấy đă được phong làm Thái tử. Vợ là công chúa Ma-đà-ly. Ít lâu sau, hai bé Ra-ly và Kanh-ha ra đời. Dường như tâm từ bi và ḷng quảng đại của ngài lớn dần theo với tuổi tác. Trong khi triều đ́nh càng lúc càng ch́m sâu vào cảnh hưởng thụ, vinh hoa và biếng nhác th́ đức Vê-xanh-ta đă cho xây thêm trạm phước xá thứ sáu. Và, mỗi ngày thay v́ bố thí mười ngàn đồng tiền vàng, bây giờ đă lên đến một trăm ngàn. Đă thế, ngài cho rằng chưa đủ. Mấy ngàn tay chân thân tín đi khắp tất cả các thôn làng hẻo lánh, núi non xa thẳm để rao truyền tin lành về nước Phật phước thiện và từ bi - rồi t́m đủ mọi cách giúp cho kẻ nghèo đói, khốn khổ được về kinh thành chiêm ngưỡng đức Vê-xanh-ta cùng tấm ḷng nhân hậu hiếm có của ngài.
Cổ đức có dạy: “Ma quỷ thường sợ ánh sáng”. Các quan đại thần triều đ́nh vua Thệ Sanh, hôm kia họp nhau vào quỳ dưới chân đức vua.
- Tâu đại vương! Tài sản nước nhà th́ có hạn - mà sự bố thí hàng ngày của Thái tử là vô hạn. Xin nghiêm thượng xét lại, quốc độ sẽ có lúc nguy vong.
Một vị khác tâu:
- Không những thế, hằng muôn người lại bỏ bê, lười biếng trong công việc, ăn không ngồi rồi, chỉ chầu chực miếng cơm, manh áo của Thái tử. Sự hưng thịnh của triều đại, tài sản sẵn có không quyết định - mà chính do của cải tăng vượng mỗi ngày, sự bắt tay góp sức của mọi tầng lớp lao động quyết định. Đây là mối nguy cơ nghiêm trọng cho xă tắc - bọn bầy tôi ngu dốt cảm thấy sợ hăi vô cùng!
Trăm người như một, thít tha phụ họa - Vua Thệ Sanh rất lấy làm bối rối.
Các đấng tiên hiền có nói: “Ma quỷ thường núp sau những lư luận bằng vàng ṛng”. Vua Thệ Sanh dẫu có đem tâm thiên vị Thái tử, rốt lại cũng phải xuôi theo cái nguyện vọng của phần đông. Thái tử được gọi đến.
Đức Vê-xanh-ta lẳng lặng nghe vương phụ và triều thần tŕnh bày xong, ngài nhăn mày, tự nghĩ:
- Các quan đại thần này vốn không phải là người xấu, nhưng quyền lợi vật chất và đời sống vinh hoa làm cho họ tối ám lương tri. Chúng đă t́m ra kẻ hở của công việc ta làm. Nhưng trí tuệ Ba-la-mật vốn là Kim Cương bất hoại, xin nguyện sẽ đập vỡ những lư luận cứng rắn nhất.
Ngài nói:
- Cả hai điều mà các quan đại thần đưa ra đều hợp lư. Thế nhưng, mười ngàn cung khố của quốc độ, con đâu có đụng chạm đến? Thưa vương phụ! Tiền bạc và của cải bấy nay con chi dùng vào việc lợi tha, vốn là tài sản mà vương phụ và mẫu hậu đă cho con. Như vậy th́, con đâu có lấy của công mà làm việc tư riêng, dẫu là việc tư riêng có ư nghĩa phước thiện?
Đức Vê-xanh-ta lại tiếp:
- C̣n việc ăn không, ở rỗi của lê dân. Điều này thật là tai hại. Nhưng sự ăn không ở rỗi của đám ngu dân nghèo đói bất hạnh kia - có nguy vong hơn sự ăn không ở rỗi của những kẻ có bạc tiền, thế lực và quyền uy? Sự xa xỉ, vinh hoa của chúng ta, của cung điện, của mấy chục ngàn gia đ́nh quan đại thần, cung phi, thị nữ, tỳ thiếp mấy muôn người... xem chừng tài sản quốc độ c̣n mau khánh kiệt hơn nhiều. Đừng v́ quyền lợi của ḿnh mà bảo vệ lẽ phải một chiều trong cái hàng rào kiên cố bằng vàng, có ẩn dấu móng vuốt của quỷ ma!
Các quan đại thần hổ thẹn cúi gầm mặt xuống.
Đức Vê-xanh-ta lại quay qua đức vua:
- Thưa Phụ vương! Để giúp cho việc phước thiện được hoàn hảo. Các thầy Bà-la-môn hảo tâm, một ngàn thiện-bằng-hữu đă tiếp tay với con - bằng cách kiếm công ăn việc làm cho những người ở rỗi. Mỗi ngày, một trăm cơ quan hoạt động khắp nước, tạo nghề nghiệp cho mấy muôn người.
Trong nay mai, con lại mời thêm một trăm thầy Bà-la-môn và chuyên gia lỗi lạc khắp trong các tiểu quốc, mở trường dạy học về chữ nghĩa, đạo đức cùng các công nghệ chánh mạng và thực dụng. Thưa vương phụ! Như vậy, xa rộng con đều đă nh́n thấy, trước và sau con đều có nghĩ suy. Nhân, duyên và quả đều nằm trước tầm mắt, th́ làm sao con lại có thể tác ư hoặc hành động lầm lỗi?
Lư luận đanh thép chặt chẽ và câu hỏi của đức Vê-xanh-ta như chiếc búa nặng ngàn cân, không ai đỡ nổi.
Vua Thệ Sanh nh́n đám quan đại thần như đàn khỉ cáo run sợ trước uy dũng của thái thử, con ngài, đức vua sung sướng đến phát khóc. Lát sau, để trấn tĩnh cái hoan hỷ đang xôn xao, bừng bừng kia lắng dịu - đức vua sai cấp thêm cho Thái tử mười kho vàng và bạc để cho ngài được trọn quyền sử dụng vào các việc công ích.
Từ đây, mỗi ngày, con sông Hằng đổ về biển đông bao nhiêu lượng nước - th́ đức Vê-xanh-ta đổ tâm từ ái và cơm áo ấm no từng ấy đến cho đám tiện dân đói khổ.
Tin đức Vê-xanh-ta bố thí bất nghịch ư đến tất cả mọi người, loan truyền đi chấn động cả mấy trăm tiểu quốc.
Kẻ nghèo đói - và dĩ nhiên có kẻ giả bộ nghèo đói - từ khắp nơi lũ lượt t́m đến kinh đô Kế-tư-đà đông như trẩy hội. Thái tử thỏa măn tất cả mọi người. Và thế là các kho vàng và bạc cứ vơi dần.
Hôm kia, sáu người Bà-la-môn y áo phủ đầy bụi đường, mặt mày hốc hác và đôi chân tươm máu xuất hiện trước vương cung. Họ lắc đầu trước những của bố thí và chỉ xin được gặp Thái tử.
Đức Vê-xanh-ta tiếp đón họ rất niềm nở và lịch sự, truyền cho nội thị dẫn họ đến nơi tắm rửa, thay áo rồi dọn cơm nước đăi đằng.
Sáu người Bà-la-môn đồng thanh đáp:
- Chúng tôi lên thác xuống ghềnh, gian khổ nửa năm trường mới đến được nơi đây, chẳng phải là để xin một chiếc áo hoặc một bữa cơm cao sang của bậc vương giả!
- Vậy th́ các thầy có ước nguyện ǵ, cứ nói - Thái tử mỉm cười hoan hỷ cho họ an ḷng và vững tâm - Chưa có ai gặp ta mà phải thất vọng!
Sáu người Bà-la-môn ngập ngừng nh́n nhau, chưa ai dám mở miệng. Sau rốt, có người đứng lên:
- Tấm ḷng của Thái tử rộng lớn như trời biển! Chúng tôi bạo gan xin đức Đông Cung bố thí cho thớt Voi Thần!
Thái tử gật đầu nhận lời. Sáu người Bà-la-môn không ngờ chuyện trọng đại lại chợt trở nên dễ dàng đến thế. Đức Vê-xanh-ta không những sẵn sàng bố thí Voi Thần mà c̣n bố thí luôn nài, yên cương khảm ngọc, dát vàng; những chuỗi bảo châu làm vật trang điểm, những hạt cườm bằng hổ phách lóng la lóng lánh quư giá vô ngàn. Tất cả đó trị giá là hai triệu tám muôn lượng vàng. Ngài cho đi với cả tấm ḷng hoan hỷ và mát rượi tỏa ra trên khuôn mặt. Sáu người Bà-la-môn được Thái tử đổ nước lên tay rồi trao cho Voi Thần, là con voi từ lâu đă làm đức Hộ Pháp cũng như là linh hồn của quốc độ.
Với tất cả sức lực của ḿnh, sáu người Bà-la-môn kéo cương, nài la hét, nhưng Voi Thần đứng yên không lay động, đưa đôi mắt đỏ lệ nh́n Thái tử. Hiểu ư thần vật, đức Vê-xanh-ta đến bên voi, khẽ vỗ vào tai và nói những lời dịu dàng:
- Con mến! Nếu con thương yêu ta th́ hăy đi theo người. Con là một giống vật linh hiển th́ ở gần ta hay ở xa ta nào có nghĩa ǵ. Lấy đức mà cảm hóa mọi người, dùng thần oai mà nhiếp phục kẻ nào tự cường tranh thắng muốn gây nạn binh đao máu lửa. Sứ mạng con ở đâu cũng giống nhau. Xa con ta cũng buồn lắm nhưng lời đại nguyện để thành tự quả Vô thượng bồ-đề lại tối thắng hơn. Bao giờ đạt được Đạo Giác Ngộ, ta sẽ cứu độ cho con.
Lạ lùng thay, Voi Thần nghe xong, phủ phục xuống chân Thái tử, rồi chợt đứng lên cất một tiếng rống như sấm động, mặt đất rung rinh, hư không vang động không ngớt. Sáu người Bà-la-môn sắc mặt như chàm đổ, run run đứng không vững. Đức Vê-xanh-ta trấn an, phủ dụ họ rồi lại trao voi. Voi Thần ngoan ngoăn theo chân sáu người Bà-la-môn bước ra cổng thành, phút chốc, cuốn đi như giông như gió.
Tin Thái tử bố thí Voi Thần lan đi rất nhanh. Kinh thành xáo động, phố xá đóng cửa, chợ không đông, nơi nơi tập họp nhau lại x́ xầm bàn tán, người ca ngợi Thái tử, kẻ tiếc rẻ Voi Thần. Có kẻ dám đánh cá với nhau: mất Voi Thần là mất quốc độ! Tuy thế, phần đông người ta sống bằng trái tim chứ không phải sống bằng đầu óc. Quần chúng ủng hộ đức Vê-xanh-ta. Có người dám đặt cá lại: Voi Thần, các voi chính thống, không bao giờ phản chủ cũ.
Phía dân chúng th́ như thế, ở triều đ́nh th́ vô cùng hỗn loạn. Cái thế an toàn, vững chăi, bức tường thành che chở cho họ trong một đời sống vinh hoa xa xỉ - do Voi Thần đem lại - giờ không c̣n nữa! Voi Thần mất là mất tất cả.
Mấy chục ngàn quan đại thần đến chật cả cung điện. Mười quan Thượng Thư đến quỳ dưới chân vua Thệ Sanh khóc rống lên:
- Sáu người Bà-la-môn là sứ thần bí mật của nước Linh Ga, âm mưu xin Voi Thần để đánh cướp quốc độ. Đức hoàng thượng ôi! Đại họa đến rồi!
Vua Thệ Sanh bàng hoàng cả người, ngồi chết sững trên ngai vàng.
Triều đ́nh ồn ào như vỡ chợ, sự phẫn nộ của họ cuồn cuộn như sóng tràn. Những tiếng la, tiếng hét nổi lên. Tiếng khóc tiếng than xoáy vào tai vua Thệ Sanh như những mũi dùi băng lạnh.
Họ không dừng lại ở đó.
- Hăy trảm đầu tên bán nước.
- Pháp bất vị thân, xin hoàng thượng thẳng tay nghiêm trị.
- Hăy treo cổ Thái tử ngay!
- Hăy lưu đày biệt xứ...!
Đức vua ra lệnh đ̣i Thái tử vào. Nh́n Thái tử với đôi mắt buồn bă, vua nói:
- Việc ǵ th́ hoàng nhi đă hiểu rồi. Hoàng nhi đă không tiên lường hậu quả. Hăy nh́n vào sự phẫn nộ của mọi người. Hăy nh́n vào gương mặt bất măn của triều thần. Ta biết là ta không thể bênh vực cho hoàng nhi được nữa. Hoàng nhi có tự biện hộ cho ḿnh được không?
Đức Vê-xanh-ta không hề bối rối:
- Thưa Phụ vương! Nếu quả thật hoàng nhi có tội th́ hoàng nhi sẽ tự biện hộ. Nhưng ở đây hoàng nhi không có tội nên chỉ xin tŕnh bày đúng pháp và luật - nghĩa là đúng theo lẽ phải ở đời!
Lời mở đầu của đức Vê-xanh-ta làm cho mọi người không tin ở tai ḿnh. Họ lại xôn xao.
- Voi Thần là do Vương Tượng từ hư không mang xuống biếu tặng cho hoàng nhi! Thưa vương phụ, vậy th́ bố thí một vật sở hữu của ḿnh, lẽ phải xưa nay có ai bắt tội? Pháp và luật của quốc độ có điều khoản nào quy định tội trạng những người cho đi vật sở hữu?
Đức vua và triều đ́nh kinh dị. Không ai có thể ngờ chỉ với một câu hỏi, Thái tử trắng án ngay tức khắc. Một cái tội to lớn dường ấy mà Thái tử đă làm cho ḿnh trở thành vô tội!
- Có thể có điều này - đức Vê-xanh-ta tiếp - Voi Thần tuy là sở hữu cá nhân, nhưng nó đă trở thành quyền lợi của cả nước! Thưa Phụ vương! Nếu bắt tội hoàng nhi đă không nghĩ đến quyền lợi chung th́ quả là hoàng nhi có tội!
Nhưng than ôi, cái gọi là quyền lợi chung ấy nó mới hàm hồ và vô nghĩa làm sao! Không có quyền lợi chung cho lê dân và bá tánh mà chỉ có quyền lợi của giới chức trị v́, của trăm quan sống đời vinh hoa và hưởng thụ. Từ muôn đời, đám đông bá tánh vẫn bị hy sinh bởi nhân danh và nhăn hiệu!
Đức Vê-xanh-ta lại buộc tội trở lại đức vua và quần thần bằng sự thực không ai chối căi. Minh thư có dạy: “Ma quỷ không dám nh́n cái bóng của chính ḿnh”. Cũng vậy, sự thật quá trần truồng và gớm ghiếc có ai dám nh́n thẳng bao giờ? Sự thật có thể làm đau xót những trái tim chân thực, nhưng lại là sự phẫn nộ của quỷ ma. Hơn ai hết, đức Vê-xanh-ta biết rơ điều ấy, nên ngài cất giọng dịu dàng:
- Nhưng mà thôi! Chân lư người ta thường hiểu là tùy thuộc đám đông! Thưa vương phụ! Ở đây hoàng nhi chỉ có một ḿnh! Để vừa ḷng triều thần, xin vương phụ hăy nghiêm trị hoàng nhi!
Vua Thệ Sanh bối rối vô cùng.
Một vị Thượng Thư dơng dạc nói:
- Tâu bệ hạ! Những lời của Thái tử quả là quá nặng nề. Nhưng dám thưa Thái tử một điều: nếu Voi Thần trở lại xâm lăng quốc độ th́ Thái tử nghĩ thế nào?
Đức Vê-xanh-ta mỉm cười:
- Nếu vậy th́ ta đúng là một tên bán nước! Nhưng xin lăo thần hăy an tâm. Không bao giờ có chuyện đó xảy ra. Voi Thần và ta là đôi bạn thân thiết. Không bao giờ Voi Thần làm cho ta phải bị sự phỉ nhổ của trăm họ!
Cuối cùng, vua Thệ Sanh phán:
- Căn cứ của hoàng nhi không có vững vàng, không được xây dựng trên thực tế. Thực tế là Voi Thần đă rơi vào tay xứ Linh Ca, một lân bang cừu địch. Ta ngồi giữa quần thần và trên đầu trăm họ, vậy th́ ta phán truyền cho hoàng nhi án lưu đày biệt xứ mười hai năm, tại dăy núi Gri-văng-ka thuộc Hy Mă Lạp Sơn.
- Con sẽ phục mạng - Đức Vê-xanh-ta nói - nhưng xin vương phụ cho hoăn thêm mấy ngày để con bố thí những ǵ c̣n lại.
Vua Thệ Sanh y lời.
Đức Vê-xanh-ta vào nội cung gặp nàng Ma-đà-ly:
- Nàng hỡi! Thái tử nói - Ta mang tội với quốc độ là đă cho Voi Thần đến một lân bang cừu địch. Triều đ́nh phẫn nộ. Cuối cùng, vương phụ đày ta lên núi Gri-văng-ka mười hai năm biệt xứ.
Em yêu quư! Vậy th́ châu báu hồi môn và của cải mà phụ hoàng, mẫu hậu cùng ta đă biếu tặng, nàng hăy chi dùng vào việc lợi tha. Hăy bố thí cúng dường đến các bậc tu hành đạo sĩ. Hăy nhường cơm xẻ áo đến đám bần dân. Hăy sống đời trong sạch thiêng liêng với thiện pháp.
Nàng Ma-đà-ly gục khóc trên vai chồng.
Đức Vê-xanh-ta không dấu được xúc động, nhưng trấn tĩnh tiếp rằng:
- Sinh ly, tử biệt người đời chẳng ai tránh được. Đừng đau thương thái quá mà hại đến sức khỏe, ảnh hưởng đến hai con. Ta không bắt nàng phải giữ tiết nghĩa, hy sinh cuộc đời son trẻ cho sự đợi chờ vô vọng. Nếu có vị vua nào vừa ư, nàng có quyền được tái giá để sống đời hạnh phúc lứa đôi. Vương phụ, mẫu hậu, nàng khỏi lo đến việc phụng dưỡng. Hai con là cành vàng lá ngọc, nàng lại chẳng cần lo nghĩ đến chuyện cơm áo và tương lai. C̣n ta th́ có cả đại nguyện trong ḷng th́ sá ǵ cam go trở ngại. Thôi! Mấy lời tâm huyết đă bộc bạch cùng nàng, nguồn cơn đă tỏ, sau trước đă tường, ta xin vĩnh biệt!
Nàng Ma-đà-ly chợt ngồi thẳng dậy dùng khăn lau ráo lệ, giọng nói trấn tỉnh phi thường:
- Thiếp nghe rằng: Gái th́ phải có tam ṭng và trai th́ phải có tứ đức! Từ khi thiếp về gá nghĩa se duyên cùng chàng; chẳng hay thiếp đă có lỗi lầm nào đến nỗi chàng phải đem tâm khi rẻ?
Đức Vê-xanh-ta ngạc nhiên, cầm tay nàng, hối hả nói:
- Ta đâu dám thế! Nàng quả không có lỗi lầm.
Nàng Ma-đà-ly cất giọng giận dỗi:
- Thiếp không lỗi lầm! Thế sao Thái tử lại dám coi thường tiết hạnh trung trinh của người đàn bà mà khuyên thiếp nên tái giá với một bậc vương tôn công hầu nào khác? Lại nữa, nếu thiếp không lỗi lầm th́ sao Thái tử đành đoạn cắt đứt t́nh nghĩa mà nói nên lời vĩnh biệt nọ kia? Thiếp có thể nằm trên loan sàng gấm nệm, vào ra gác ngọc lầu vàng; trong lúc Thái tử dăi nắng dầm sương, đi chân đất, mặc áo vải, lót dạ qua ngày trái chua, củ đắng giữa chốn rừng thiêng nước độc ư?
Nói xong, nàng Ma-đà-ly quay lưng lại, khóc tấm tức.
- Xin lỗi nàng - đức Vê-xanh-ta xuưt xoa nói - Ta đâu dám coi thường nàng. Quả thật ta sợ nàng chân yếu tay mềm, không kham nổi cuộc đời khổ ải.
Nàng Ma-đà-ly ngước đôi mắt c̣n mọng nước:
- Nếu thiếp không ngại?
- Th́ hăy đi - Đức Vê-xanh-ta mạnh mẽ nói - cùng ta chia ngọt xẻ bùi hoặc uống cạn chén đời tân khổ. Nhưng nàng hỡi! Ta c̣n một điều ngần ngại!
Khuôn mặt ngọc đă lóe niềm vui:
- Thái tử cứ nói!
Trầm ngâm giây lát, đức Vê-xanh-ta nh́n lên ngọn núi Hy Mă ẩn hiện sau làn mây trắng tận cuối trời:
- Ở hay đi, trước sau đại nguyện của ta vẫn kiên định, vững vàng như đỉnh núi kia. Ta sẽ cho đi tất cả, dẫu cả cuộc đời. Nếu muốn đi theo, nàng hăy hứa với ta một điều.
- Thái tử cứ nói!
- Xin nàng đừng ngăn trở bất cứ sở nguyện nào của ta!
Nàng Ma-đà-ly cất giọng ôn nhu mà rằng:
- Dĩ nhiên! Có bao giờ mà thiếp không theo lệnh chàng? Ngay cả cuộc đời, tánh mạng của thiếp, chàng hăy tùy nghi sử dụng, thiếp quyết không cau mày!
Đức Vê-xanh-ta được lời như mở tấm ḷng.
Sau đó, ngài bố cáo khắp nơi về ba ngày chẩn bần cuối cùng. Hai trẻ Ra-ly và Kanh-ha cũng đem của cải tư trang ra hùn góp. Nàng Ma-đà-ly xin vua cha thêm hay ngày nữa về phần của cải của nàng. Tất cả năm ngày chẩn bần này trị giá có đến tám muôn triệu đồng tiền vàng, c̣n to hơn ngân khố của một tiểu quốc.
Đức Vê-xanh-ta, vợ và hai con thảy đều hoan hỷ khi thấy niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt của đám người bất hạnh. Thời gian bố thí đă qua. Đến ngày lên đường, vua Thệ Sanh ban cho Thái tử sáu muôn thuộc hạ, hai mươi xe lương thực cùng của cải, tư trang và tư dụng. Chiếc long xa bốn ngựa đưa gia đ́nh Thái tử ra khỏi cổng thành. Đức vua Thệ Sanh và hoàng hậu Trầm Hương đỏ lệ trông theo nghẹn ngào. Hai vạn cung nga thể nữ lấy khăn vẫy, ôm nhau khóc như ri. Các quan đại thần, muôn dân bá tánh đưa đi chật đường, kéo dài đến hai do tuần. Chư thiên từ hư không nh́n xuống, rải hoa đưa tiễn bùi ngùi.
Ngày thứ hai, đức Vê-xanh-ta cho sáu muôn tùy tùng trở về. Ngày thứ ba, người ta lại xin của bố thí. Đức Vê-xanh-ta cho tư dụng và lương thực, sau đó ngài lại cho luôn bốn ngựa. Bây giờ hai trẻ ngồi trên xe, đức Vê-xanh-ta kéo thay ngựa, nàng Ma-đà-ly đẩy, cùng nhau vượt núi băng đèo. Người ta lại đến xin, ngài cho xe. Thế là chồng bồng trai, vợ ẵm gái tiếp tục con đường vạn dặm...
Hôm kia, họ dừng lại giữa một khu rừng già hoang vu, hổ gầm, vượn hú nghe thật ghê rợn. Nh́n lên th́ núi cao chớn chở, nh́n xuống th́ vực thẳm mịt mùng. Đêm xuống lạnh, lương thực mang theo đă bố thí hết. Nàng Ma-đà-ly nh́n hai con, tuy không dám thở than nhưng ruột đau đ̣i đoạn. Đức Vê-xanh-ta đi kiếm trái cây trở về cùng ăn lót dạ qua đêm. Lần đầu tiên ăn trái lạ, v́ đói, v́ rét, hai trẻ ngộ độc, nôn mửa và lên cơn sốt. Nàng Ma-đà-ly chỉ biết vỗ về, hà hởi. Nh́n sự quằn quại của hai con, đức Vê-xanh-ta chắp tay lại, nh́n giữa thinh không, thốt rằng:
- Hỡi chư thiên hộ tŕ thiện pháp của châu Diêm Phù Đề! Nếu đây là sự thử thách của pháp, của các ngài; th́ dẫu hàng trăm ngàn vợ con thân quyến có bị sinh ly hay tử biệt; dẫu cho hàng ngàn hố lửa lớn, rắn rít và độc xà làm hại - Vê-xanh-ta này cũng không thể thoái lui con đường, dù chỉ là nửa bước!
Lời nguyền vô thượng, một lần nữa, lại làm cho địa cầu chấn động. Chúa trời Đế Thích cảm thấy nóng nảy trên thiên ngai. Các vị thần lập tức hiện xuống t́m cách làm cho hai đứa trẻ dứt bệnh và lành mạnh trở lại.
Họ tiếp tục lên đường vào sáng hôm sau. Đến một thị trấn gần biên giới, người ta nghe tin, lại đến xin ngài bố thí.
Nàng Ma-đà-ly nói:
- Chúng tôi không c̣n ǵ!
Đức Vê-xanh-ta khẽ vỗ vai nàng nói:
- Chúng ta c̣n rất nhiều, em ạ. Có lẽ em quên đấy thôi.
Nói xong, đức Vê-xanh-ta cởi bọc áo quần của ḿnh trao cho người nghèo khổ. Người ta lại đến xin nữa. Nàng Ma-đà-ly noi gương chồng, tặng bọc áo quần.
Người ta lại đến xin nữa. Hai trẻ bắt chước cha mẹ chúng, lấy áo quần của ḿnh cho hết.
Đến tháng thứ nhất, sau khi rời thành, mỗi người chỉ c̣n một bộ áo quần trên người, ngoài ra không c̣n ǵ nữa. Dăi nắng dầm sương, trải qua ba mươi lăm do tuần, hôm kia, họ đến biên địa một nước lân bang. Đức vua chư hầu nghe tin, tức tốc cùng đoàn tùy tùng năm trăm người bươn bả tới nơi. Dân chúng ở đây vật vả khóc than khi thấy t́nh cảnh thê thảm của gia đ́nh Thái tử. Gặp đức Vê-xanh-ta, vua chư hầu xuống ngựa, dập đầu xin Thái tử về thành nghỉ ngơi, luôn thể xin nhường lại ngôi báu cho bậc đại hiền. Đức Vê-xanh-ta khiêm cung từ chối. Chẳng biết sao hơn, đức vua biếu tặng tư dụng, y phục và lương thực. Đức Vê-xanh-ta cùng vợ con, dùng vật thực đủ no ḷng rồi lại lên đường. Vua chư hầu thở than không ngớt, sau đó đích thân xuống ngựa, tiễn gia đ́nh Thái tử đến chân Hy Mă Lạp Sơn.
Dăy núi đầu tiên của Hy Mă Lạp là dăy núi Càng-đà-ma-đằng. Đến đây, đức vua ân cần gởi gắm gia đ́nh Thái tử cho một người thợ săn uy tín - là thủ lănh mấy trăm thợ săn chốn non thiêng - rồi ngậm ngùi từ giă. Xế trưa, Thái tử dừng nghỉ dưới gốc đa to, tàn phủ mấy chục trượng, có những trái chín và ngọt như mật ong. Độ những trái cây ngon ngọt hy hữu, từ giă Càng-đà-ma-đằng đi đến chóp núi Na-lợi-ka; đức Vê-xanh-ta và gia đ́nh dừng nghỉ nơi một chiếc hồ con xinh đẹp phô thắm tía hồng rực rỡ. Mùi hương sen thoang thoảng dịu dàng. Một đạo sĩ chống gậy sau khóm cây rừng bước ra, không chào hỏi, nh́n Thái tử một hồi lâu.
- Bậc hoàng gia quư tộc lại muốn vào non xanh này làm đạo sĩ sao? Đạo sĩ hỏi.
Đức Vê-xanh-ta đứng dậy thành kính đáp lễ rồi nói:
- Thật chưa dám như thế, thưa tiên nhơn, dẫu là ḷng mong muốn lắm. Tôi chỉ là kẻ có tội với quốc độ nên đến Gri-văng-ka sống kiếp lưu đày!
Đạo sĩ “a” lên một tiếng, rồi quẳng gậy chạy lại:
- Vậy ngài chính là đức Vê-xanh-ta, Thái tử con vua Thệ Sanh nước Kế-tư-đà?
- Cái danh của thế tục kia làm dơ tai bậc ẩn sĩ thanh tịnh - Thái tử nói - C̣n chẳng hay đạo sĩ pháp hiệu là ǵ, cho kẻ áo trắng chúng tôi được bái phỏng?
- Là Ngu ẩn sĩ - Đạo sĩ đáp một cách mau mắn. Có kẻ lại gọi là Chơn Nhơn đạo sĩ Na-lợi-ka. Ôi! Nhưng mà tên gọi mà làm ǵ, hư danh mà làm ǵ! Chính tấm ḷng của Thái tử mới làm cho Ngu sơn nhân này bái phục!
Họ hàn huyên giây lát. Đạo sĩ Na-lợi-ka lấy cây trái đăi đằng rồi sau đó ân cần chỉ lối cho Thái tử đi đến khu rừng thiêng Gri-văng-ka, chúc ngài một đời sống tịnh tu an lạc.
Sau khi đạp qua những cánh rừng hẻo lánh, thâm u, đến chiều tối, họ mới đến được nơi chỉ định. Đây là khu rừng già hiu quạnh, nằm giữa lưng chừng mây. Chim kêu, vượn hú tịch mịch lạ. Ánh nắng mặt trời nhợt nhạt xuyên qua một khoảng đất trống; Thái tử ngạc nhiên xiết bao, ở đây có một hồ sen thiên nhiên kỳ diệu, nước trong xanh biêng biếc, năm sáu màu sen phô sắc và phơi hương. Và ô ḱa! Có hai chiếc tịnh thất không xa nhau lắm, dựa lưng một gốc cây cổ thụ với tán lá xanh ŕ trông thật duyên dáng và ngoạn mục.
Đức Vê-xanh-ta, vợ và hai con lần đến nơi. Một tấm biển có đề chữ đập vào mắt mọi người: “Nơi tịnh tu, xin dâng cúng đến hàng xuất gia đạo sĩ tùy nghi sử dụng”. Biết có thần nhân giúp đỡ, Thái tử phát sanh hỷ lạc, gọi vợ và con đến dạy rằng:
- Đây là chốn thiêng liêng. Ngoài các vị thiên thần lại có cả các loài phi nhân lẫn ác thú ngụ cư. Từ rày ta phải tu hành cho tinh tấn, ghép ḿnh vào phạm hạnh, trú trong vô lượng tâm. Nếu bê trễ, dễ duôi, thiên thần sẽ không hộ tŕ ta nữa mà c̣n bị ác thú, độc trùng, phi nhơn làm hại. Phu nhơn và hai con hăy khá ghi ḷng.
Đức Vê-xanh-ta lại tiếp:
- Phàm phép tu tịnh hạnh th́ trước tiên là phải sống đời tịnh hạnh. Ta với nàng ân nghĩa mặn nồng, lại thêm hai con là sợi dây ràng buộc luyến ái - nhưng nay th́ ta hẳn tránh xa. Nàng và các con ở một tịnh thất. Ta ở riêng một tịnh thất. Và chắc chắn thiên thần cũng muốn như vậy mới tạo hai tịnh thất ở hai nơi. Đời sống gần gũi th́ tránh sao khỏi những giây phút yếu ḷng, chỉ làm cho thiên thần khinh khi ghét bỏ. Vậy th́, nàng đừng bao giờ gặp ta trong lúc ban đêm. Nếu là ban ngày th́ cũng phải có hai trẻ. Đă sống đời xuất gia đạo sĩ th́ ta phải sống xứng đáng là đạo sĩ xuất gia. Điều này, phu nhân hăy khá ghi ḷng.
Nàng Ma-đà-ly hoan hỷ thọ tŕ lời giáo huấn của đức Vê-xanh-ta, sau đó lại bạch rằng:
- Thái tử chỉ cho thiếp xin một đặc ân, là Thái tử khỏi nhọc công vào non hái trái. Thái tử cho phép thiếp chu toàn mọi bổn phận về cái ăn cái uống cho Thái tử và hai con. Đấy là niềm vui của người đàn bà. Ngoài ra, cây trái, nếu có dư thừa, Thái tử tùy nghi bố thí. Được hầu hạ Thái tử là một hạnh phúc lớn cho thiếp vậy.
Với cảm giác khinh khoái nhẹ nhàng, tinh thần phơi phới, đức Vê-xanh-ta và nàng Ma-đà-ly cùng cắt tóc sống đời đạo sĩ. Từ đây, mỗi buổi sáng, nữ đạo sĩ Ma-đà-ly thức dậy sớm, mặc y, quét dọn sạch sẽ trong ngoài tịnh thất; sắp đặt đâu đó thứ tự rồi xuống hồ sen múc nước đổ đầy các chỗ chứa. Nàng chỉ qua tịnh thất của đức Vê-xanh-ta khi thấy cửa đă mở. Nàng múc nước cho ngài rửa mặt, tay và chân. Quét dọn tịnh thất kỹ càng trong ngoài, sau trước; dạy hai con luẩn quẩn chơi ở gần đức Vê-xanh-ta để chàng tùy nghi dạy bảo.
Trời vừa hừng đông là nữ đạo sĩ đă xách giỏ vào rừng kiếm trái cây ngon ngọt dùng được. Bao giờ nàng cũng cố gắng về sớm để kịp giờ độ ngọ. Nếu về sớm hơn lệ thường, nàng dẫn hai con xuống tắm ở hồ sen. Đến trưa, nàng soạn phần trái cây ngon và đẹp nhất cho đức Vê-xanh-ta, c̣n nàng và hai con dùng phần c̣n lại. Độ ngọ xong, nàng dâng tăm xỉa răng và nước; thu dọn tươm tất mọi nơi mọi chỗ, nói lời phúc chúc đến đạo sĩ rồi nàng dẫn hai con về tịnh thất của ḿnh.
Cuộc sống đều đặn trôi qua như thế. Được sự hộ độ chu đáo của nữ đạo sĩ, đức Vê-xanh-ta tu hành tinh tấn. Chỉ một thời gian ngắn là ngài đă có thể trú định một cách vững vàng; tứ vô lượng tâm được làm cho hưng thịnh, viên măn. Các loài thú dữ trong khuôn vi ba do tuần nhờ tâm từ bi mát mẻ của ngài mà trở nên hiền lành. Rắn rít, độc trùng cùng phi nhơn cũng tránh xa.
Nam và nữ đạo sĩ sống đời an tịnh tự tại như vậy trong một thời gian dài không có cáu bợn phiền năo nào khởi lên. Trong khi đó, hai trẻ Ra-ly và Kanh-ha đă chập chững đi chơi với nai, khỉ và vượn. Có một chú sư tử con lẫn lộn giữa đám thú vật hiền lành này. Lại có một chú ngựa rừng nhỏ bé nhưng mạnh khỏe hay cơng hai trẻ rong chơi ven suối, bờ hồ. Các chú chim dễ thương, nhảy nhót ca vui đậu trên vai hai trẻ. Mấy chú thỏ, sóc thường ŕnh trong những bụi sim chơi tṛ cút bắn. Khi trẻ hoặc vật bị xây xát chút đỉnh v́ nô giỡn, cả bọn xúm lại ḥ hét chí chóe rồi t́m cách hái lá đắp vết thương cho nhau!
Nữ đạo sĩ mỉm cười, thấy cơi ḷng vui lên rộn ră.
Xứ kia có người Bà-la-môn già, sống đời ăn xin rày đây mai đó. Suốt bao nhiêu năm trường, lăo dành dụm được một trăm đồng tiền vàng. Sợ để trong ḿnh tiêu mất, lăo t́m bạn tin cậy gởi số tiền này rồi đi xin ăn phương xa. Hai vợ chồng người bạn thấy lăo vắng bóng lâu ngày tưởng là chết mất rồi, liền lấy tiền kia ra tiêu. Khi lăo Bà-la-môn trở về th́ tiền đă hết sạch. Chẳng biết làm sao, họ xin gả người con gái tên là A Mị cho lăo.
Về làm vợ người, A Mị vẫn tỏ ra hết ḷng siêng năng tháo vác trong mọi công việc; không cảm thấy xấu hổ về việc lấy chồng già mà chỉ thầm thương ḿnh số kiếp không may. Một số thanh niên thấy A Mị có nhan sắc nên đă nhiều khi trêu ghẹo, nhưng nàng thường lănh đạm hoặc cúi đầu trước lời ong bướm nọ kia. Thời gian lâu, những khi đi xách nước, kiếm củi là mối bận tâm cho nàng v́ những chàng trai kia đă hát ḥ đối đáp những câu sàm sỡ.
“- Cô kia mà lấy chồng già
Đêm hôm ấm lạnh xương da có ǵ?”
Cậu kia đáp lại:
“- Thưa rằng, dẫu có được ǵ,
Xương da ấm lạnh lắm khi cũng buồn!”
Cho đến hôm kia th́ A Mị không c̣n chịu được nữa. Đợi khi lăo Bà-la-môn về, nàng khóc tức tưởi:
- Mấy năm nay tôi bị chúng nó chọc ghẹo, bây giờ th́ đến lúc quá rồi, thiếu đường cắt mặt mà thôi. Ông phải kiếm người đỡ đần thay tôi xách nước kiếm củi, nếu không tôi không thể ở với ông được nữa.
Lăo Bà-la-môn khuyên lơn, an ủi rồi hứa sẽ kiếm trẻ giúp việc cho nàng.
Lăo tính thầm trong bụng:
“- Ḿnh nghèo mạt rệp, sống đời tơi bị th́ lấy tiền đâu mà thuê trẻ, thuê người giúp việc. Và nếu có làm được việc ấy th́ thiên hạ cũng cười cho thúi ruột, sẽ nói nghèo mà học làm sang. Sự bố thí bất nghịch ư của đức Vê-xanh-ta con vua Thệ Sanh kia c̣n ai là không biết. Nghe đâu, sau khi cho voi báu, ngài bị đức vua cùng triều đ́nh đày lên núi Gri-văng-ca cùng vợ và hai con. Ta sẽ lặn lội đến nơi xin hai trẻ kẻo người khác xin mất cũng uổng.”
Lăo lại gật gù:
“- Tuy ta xin hai đấng hoàng tôn về làm tôi đ̣i, nhưng lại giúp cho đức Vê-xanh-ta quư mến mau đạt sở nguyện. Như vậy, kể ra ta vẫn làm người thi ân, là kẻ có ḷng nhân hậu!”
Lăo Bà-la-môn lẩm nhẩm đầy đạo lư như vậy xong, nhờ nàng A Mị kiếm cho một đùm bánh nguội; sau đó, nhắm hướng Hy Mă Lạp Sơn, núi Gri-văng-ca trực chỉ. Ngày đi đêm nghỉ, lặn suối trèo non ṛng ră mấy tháng dài, lăo Bà-la-môn đến chân núi Càng-đà-ma-đằng. Một cây đa to với những chùm trái chín ngọt như mật ong, lăo Bà-la-môn ăn uống, nghỉ ngơi ở đó cho lại sức. Kế khu rừng, cạnh hồ sen nhỏ là cḥi lá của người thủ lănh thợ săn, kẻ được đức vua chư hầu ân sủng gởi gắm Thái tử. Lăo Bà-la-môn lần bước tới định hỏi đường.
Gă thủ lănh thợ săn thân to như hộ pháp, thấy lăo Bà-la-môn với tơi bị rách rưới, y đanh mặt lại:
- Lăo già kia! Tới chốn rừng xanh này mà làm ǵ? Ngươi ỷ cái thân c̣m hổ báo chê thịt rồi muốn đi đâu th́ đi sao? Cút ngay!
- Cho tôi hỏi chỗ ở của đức Vê-xanh-ta...
Lăo Bà-la-môn chưa nói dứt câu, gă thợ săn bước tới, túm cổ lăo và quăng ra ngoài gốc cây như bó giẻ. Chưa thôi, đợi cho lăo Bà-la-môn lồm cồm ngồi dậy; gă thủ lănh thợ săn đá văng tuốt xuống hồ. Đợi cho lăo Bà-la-môn uống đầy một bụng nước; gă thợ săn sải xuống như con nhái, kéo lên túm chân xách ngược cho nước trào ra rồi lấy dây thừng cột chặt lăo vào gốc cây. Y bẻ một khúc củi to làm gậy.
Lăo Bà-la-môn vừa lai tỉnh mở mắt ra, gă thợ săn đă chỉ vào mặt, quát như sấm nổ:
- Chính thị bọn bây! Bọn Bà-la-môn ăn xin độc ác dơ dáy! Chính tại bọn bây, bọn Bà-la-môn tơi bị khốn nạn – mà đức Vê-xanh-ta phải bị đày lên núi cao rừng thẳm. Ḷng rắn rít và tâm tham lam vô tận, vô độ của chúng bay chưa đủ hay sao mà c̣n lê lết đến chốn này t́m đức Vê-xanh-ta? Ngài c̣n ǵ nữa mà bố thí? Hả?
Gă thợ săn nói xong là đánh. Tay đánh miệng chửi om ṣm lên. Lăo Bà-la-môn đau đớn quằn quại rên la, không mở miệng phân trần được. Tội nghiệp cho lăo bị một trận đ̣n thừa sống thiếu chết!
Đợi cho đến khi lăo Bà-la-môn ngất xỉu, bất tỉnh, gă thợ săn mới quẳng gậy, nghiến răng lẩm bẩm:
- Cho đáng đời cái bọn ăn hại! Cái bọn bay lợi dụng ḷng tốt của người mà thỏa măn cái hố tham không đáy. Ông sẽ bảo vệ đức Vê-xanh-ta, thằng ăn xin nào vác mạng đến đây, ông “đần” cho nhừ xương, ông đập cho toác sọ dừa ra!
Hồi sau, lăo Bà-la-môn chống tay dậy.
- Tôi... tôi là người của đức vua Thệ Sanh – lăo Bà-la-môn phều phào nói – đức vua hối hận nên phái tôi đến đây thỉnh đức Vê-xanh-ta về kế vị ngôi vương...! Ông đánh nhầm người rồi!
Dẫu tiếng được tiếng mất nhưng gă thợ săn đă nghe rơ ư. Y cả kinh, vọt nhanh lại như con chồn, hối hả cởi trói cho người Bà-la-môn, miệng xin lỗi rối rít.
Lát sau, các vết thâm tím đă được gă thợ săn hái thuốc đắp vào. Niềm nỡ dọn một bữa cơm với mật ong và thịt rừng, gă thợ săn tỏ vẻ ăn năn đến thương hại:
- Tội tôi đáng chết! Tội tôi đáng chết! Xin lăo trượng nhân hậu tha thứ cho!
Lăo Bà-la-môn gượng cười nói:
- Ông làm như vậy là đúng, chẳng thể trách được. Cái bọn ăn xin Bà-la-môn ấy là nguyên nhân cho Thái tử nhân đức của chúng ta phải bị lưu đày cùng với thê tử. Chỉ đáng tiếc một điều là ông đă quên, đă quên không hỏi rơ nguồn cơn.
- Dạ, phải rồi! Tội tôi đáng chết – Gă thợ săn lại xuưt xoa – Xin lăo trượng bỏ qua cho.
Đêm ấy, lăo Bà-la-môn được ngủ trên chiếc giường độc nhất của gă thợ săn với những tấm mền bông và da thú ấm áp. Gă thợ săn treo vơng nằm trên cây canh chừng thú dữ. Sáng ngày, gă thợ săn đăi lăo Bà-la-môn một bụng no nê với thịt nai nướng, gói thêm một đùm nữa, rồi ân cần chỉ lối cho lăo Bà-la-môn lên đường. Qua những cánh rừng, bờ vực cheo leo, hiểm trở; vượt lên một đỉnh núi khác, ở đây lại gặp đạo sĩ Na-lợi-ka. Kinh nghiệm trận đ̣n hôm qua, lăo Bà-la-môn khôn khéo giới thiệu ḿnh là người của vua Thệ Sanh, lên thỉnh đức Vê-xanh-ta hồi trào. Chẳng ngờ, khi nghe xong, đạo sĩ Na-lợi-ka cau mày:
- Hồi trào mà làm ǵ? Đừng có phá rối đời sống tịnh tu phạm hạnh của nam nữ đạo sĩ.
Lăo Bà-la-môn thót ḿnh, ngạc nhiên hỏi:
- Thỉnh ngài hồi trào để kế vị ngôi vương, làm bậc chí tôn cao cả, điện ngọc lầu vàng, sung sướng và oai sang hết mực, thưa ngài?
Đạo sĩ Na-lợi-ka “hừ” một tiếng:
- Đó là cái đống bùn! Lăo ngốc kia! Có hạnh phúc nào bằng hạnh phúc trầm tư thiền định? Lăo biết ǵ mà xuôi ngược với ta? Cút đi! Để cho đức Vê-xanh-ta thành tựu viên măn thiền Sắc giới. Hăy đem cái ô trược ở nơi ngươi xuống dưới cuộc đời hôi hám kia thôi!
Nói xong đạo sĩ Na-lợi-ka nhắm mắt lại. Lăo Bà-la-môn chẳng biết tính sao, đưa mắt nh́n khu rừng thâm u trước mặt, vượn hú, cọp gầm; xa xa khí đá bốc lên như những đám sương mờ, lúc dày, lúc loăng – thật chẳng biết lối nào mà đến núi Càng-đà-ma-đằng!
--------------------------
Trích từ website: http://trungtamhotong.org . Chúng con thành kính tri ân TT Viêm Minh.