GIỚI THIỆU BÁT NHĂ TÂM KINH
Bài kinh chúng ta không cần t́m hiểu gốc gác ở đâu, thuộc tông phái nào. Điều đó có cần thiết để chúng ta t́m hiểu không? Chân lư vốn không có biên cương xứ sở, không có lư lịch nên chúng ta có lẽ không cần biết xuất xứ. Chân lư là cái muôn thuở nên nó không thuộc độc quyền của ai, phải vậy không? Chỉ có điều chúng ta biết rơ, bài kinh này nói được, xuyên suốt, từ giáo lư Nguyên Thủy cho đến Tiểu Thừa, Đại Thừa, Thiền Tông và rồi trở lại tinh thần Nguyên Thủy. Tất cả những vấn đề tinh yếu đều nằm trong bài kinh Bát Nhă này cả. Do đó, ḿnh không ngại bài kinh này thuộc tông phái nào, không quan trọng lắm. Ḿnh sẽ lấy cái sườn kinh này mà chỉ bày sự thật. Hễ sai ḿnh nói sai. Hễ đúng th́ ḿnh nói đúng, chẳng sợ ǵ cả. V́ chân lư mà ḿnh làm, không ngại ǵ hết.
Cái sườn của kinh Bát Nhă này hầu như đầy đủ toàn bộ giáo lư của đạo Phật. Quư vị đừng nghĩ rằng kinh điển của chúng ta quá nhiều. Không có nhiều đâu. Quư vị có nhớ vị Thiền Sư nào đó, sau khi "ngộ" rồi, ông mới nói: "Ồ, tưởng là cái ǵ dữ dội, té ra cái đạo của thầy ta th́ có ǵ nhiều đâu!" [Ngài Lâm Tế khi ngộ đạo có nói: "Th́ ra Phật Pháp của Hoàng Bá không nhiều"]. Đại khái vậy, thật ra chẳng có ǵ nhiều "Dị giản nhi thiên hạ chi lư đắc hỷ" hoặc "Vô tâm đạo dị tầm" mà. Khi ḿnh thấy rồi th́ chỉ có giây phút tịch diệt hiện tiền ngay tại đây chính là đạo, ngoài ra không cầu ǵ nữa hết. Cầu là v́ không biết rằng ở đó đă đủ hết rồi. Cho nên, ở đây, trong bài kinh Bát Nhă này đă nói đủ những điều cơ bản cốt tử nhất về sự thật. Vậy chúng ta cứ đem ra tham khảo với nhau xem cái thực của một số vấn đề trong kinh Bát Nhă nói là cái ǵ? Ḿnh sẽ t́m từng chữ nhưng không phải là dịch nghĩa theo lối luận giải chi chi đó. V́ cứ đem kinh mà giảng kinh th́ được cái ǵ. Ở đây cách làm việc của chúng ta là đem cái thực ra, chứ không phải lấy kiến giải chồng chất kiến giải, lấy kinh chồng chất lên kinh như nhiều người đă từng làm.
Ví dụ có bài kinh viết: có 5 cái ly, 10 cục phấn, hai cái bàn... th́ bây giờ việc của ḿnh cứ đem 5 cái ly ra, đem 10 cục phấn, 2 cái bàn ra mà xem, chứ không lấy tự điển ra mà dịch nghĩa văn tự kia để làm ǵ. Nhưng mà có thể, để cho quư vị thấy rằng, điều mà chúng ta đưa ra, không phải là "thứ dỏm", th́ lúc ấy chúng ta sẽ lấy kinh để chứng minh chúng ta có thể viện dẫn tất cả kinh điển Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, Đại Thừa, lẫn Thiền Tông để chứng minh. Nhưng không phải lấy tất cả kinh đó ra mà giảng. Phương cách của chúng ta là đưa sự thật ra trước, rồi lấy kinh để chứng minh sau, tức là lấy lư để so sánh với cái thực (cái sự).
|
Sự thật ↔
Kinh |
|
Chứng minh |
Bát Nhă Tâm Kinh có rất nhiều bản. Bản kinh đang lưu truyền ở Việt Nam hiện tại tương đối chính xác, ta sẽ y cứ ở bản đó. Cái đề không quan trọng, chúng ta sẽ đi thẳng vào kinh văn:
- Quán tự tại
- Bồ Tát
- Hành
- Thâm bát nhă ba la mật đa (Gambhirāpaññā
paramitā)
- Chiếu kiến
- Ngũ uẩn
- Giai không
Ban đầu chúng ta đọc lướt qua bài kinh Bát Nhă này ghi ra những điều quan trọng, những sự thật cần nói rơ.
Ví dụ: Quán Tự Tại Bồ Tát. Có những chữ mà ḿnh cần phải thấy, tôi xin dùng chữ "thấy", v́ chữ "hiểu" nhiều khi có vẽ lư trí quá. Vậy chúng ta phải thấy Quán Tự Tại là sao? Bồ Tát là ǵ?
Xưa nay có nhiều người tự xưng là tu hạnh Bồ Tát có chắc đă biết Bồ Tát là ǵ không? C̣n nếu giả sử ḿnh hiểu Bồ Tát theo tư kiến nào đó hoặc tin vào kinh nào đó rồi ḿnh hành, th́ có khi không phải hành Bồ Tát mà hành cái ǵ đâu đâu, v́ ḿnh có thấy Bồ Tát cho thật đúng đâu mà hành Bồ Tát cho đúng, phải thế không?
- Chiếu kiến
- Ngũ uẩn
- Giai không
Chiếu kiến là sự thấy, nhưng thường th́ chúng ta cứ đọc phớt qua rồi tưởng tượng, chứ có thấy "giai không" là ǵ đâu. Ngũ uẩn th́ ḿnh cứ kể vanh vách: sắc, thọ, tưởng, hành, thức chứ cũng chẳng thấy ngũ uẩn là cái ǵ. Ngũ uẩn không thấy là cái ǵ th́ làm sao mà thấy ngũ uẩn giai không được.
-
Độ
- Nhất thiết khổ ách.
"Khổ ách" là những ǵ chúng ta cần phải thấy rơ. Và xin thưa quư vị rằng, chừng ấy là hết kinh Bát Nhă! C̣n đoạn sau th́ chỉ như "phụ đề Việt ngữ" mà thôi. V́ đoạn sau chỉ giải thích, nói cho rơ thêm chi tiết, thế thôi.
Sắc bất dị không, không bất dị sắc
Sắc tức thị không, không tức thị sắc
Thọ
Tưởng
Hành
Thức diệc phục như thị
Tất cả những cái này chúng ta phải nh́n sâu, phải thấy rơ như ban ngày từng diễn biến nơi chính ḿnh mới được.
Thị chư pháp không tướng
Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng,
bất giảm
Không tướng hay là cái không? Không tướng là cái ǵ? Sao lại gọi là không tướng?
V́ sao không tướng lại là không sanh diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm? Tại sao như vậy?
Thị cố không trung, vô sắc... vô
pháp
Không trung là ở
đâu? Không trung là cái ǵ? Trong
không trung v́ sao không có:
(1) Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
(2) Nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư.
(2) Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ?
(1) là ngũ uẩn, (2) là lục căn, (3) là lục trần. Lục căn và lục trần gọi là 12 xứ.
Vô nhăn giới năi chí vô ư thức giới.
Từ nhăn giới đến ư thức giới là 18 giới:
Nhăn giới - sắc giới - nhăn thức
giới
Nhĩ giới - thanh giới - nhĩ thức giới
Tỷ giới - hương giới - tỷ thức giới
Thiệt giới - vị giới - thiệt thức giới
Thân giới - xúc giới - thân thức giới
Ư giới - pháp giới - ư thức giới
Trong cái không (không trung) không có vô minh, cũng không có vô minh hết (vô vô minh diệc vô vô minh tận)... cho đến không có lăo, tử, cũng không có chuyện hết lăo, tử (nải chí vô lăo tử diệc vô lăo tử tận).
Tức là không có thập nhị nhân duyên:
Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục
nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lăo tử.
(Không có 12 nhân
duyên cũng không có chuyện chấm dứt 12 nhân duyên).
Vô khổ, tập, diệt, đạo (tức là không có Tứ Diệu Đế).
Trong không, không có Tứ Đế. V́ sao? Trong những buổi hội thảo, chúng ta sẽ quan sát tận tường tất cả những điều trên theo nguyên tắc thấy ra cái thực là cái ǵ.
C̣n nữa:
Vô trí diệc vô
đắc (trí và
đắc)
Dĩ vô sở đắc
Bề Đề Tát Đỏa
Y Bát Nhă Ba La Mật Đa
Tâm vô quái ngại
Vô hữu khủng bố
Viễn ly điên đảo mộng tưởng
Cứu cánh Niết Bàn
Quư vị đừng tưởng Niết Bàn là quá xa xôi, quá viễn vông. Niết Bàn là cái mà ḿnh cần phải thấy ngay trước mắt.
Tam thế Chư Phật
Y Bát Nhă Ba La Mật
Đa
Đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
Lưu ư là Tam Thế Chư Phật đều y cứ vào Bát-Nhă Ba-La Mật-Đa để đắc A-Nậu-Đa-La Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề.
A-Nậu-Đa-La Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề là âm của những từ:
Anuttara:
A-Nậu-Đa-La.
Sammā: Tam-Miệu.
Sambodhi: Tam-Bồ-Đề.
đều có nghĩa là "Vô Thượng Chánh Đẳng Giác".
Thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát Nhă Ba La Mật Đa chú, Tức chú thuyết chú viết: "Yết-đế, yết-đế, ba la yết-đế, ba la tăng yết-đế, Bồ-Đề Tất-Bà-Ha".
Câu này mật ư là ǵ? Chúng ta đều cần phải thấy rơ. Tất cả những kinh điển Nguyên Thủy cũng đều nói đến những vấn đề này. V́ những vấn đề này chính là cái thực của Đạo, chính là Đạo. Và tất cả những kinh luận của Tiểu Thừa, Đại Thừa cả hàng ngàn năm cũng nói những điều này, chẳng có chi khác. Do đó, kinh điển quá nhiều, nhưng nếu chúng ta theo dơi cuộc hội thảo này, có thể 2 hoặc 3 tuần ǵ đó th́ hy vọng chúng ta sẽ nắm được những vấn đề cương yếu trong kinh điển của đạo Phật. Thấu suốt được bài kinh này là hầu như thấu suốt tôn chỉ của kinh điển. Nói vậy chắc quư vị sẽ bảo là hơi quá đáng. Nhưng mà không phải vậy. Sở dĩ nhiều là do bàn luận, lư giải, bàn qua bàn lại đó thôi. Tuy nhiên, không có kinh ǵ, luận ǵ mà đi ra ngoài những vấn đề này. Những vấn đề này nói trong kinh Bát Nhă. Nếu chúng ta thấy được cái thực rồi, tất nhiên mọi bàn luận sẽ trở nên vô nghĩa, phải vậy không? Cứ thẳng thắn nói vậy.
Kinh điển Nguyên Thủy không thôi, ḿnh đọc một đời cũng không hết, kinh điển Tiểu Thừa và Đại Thừa nữa th́ không bao giờ ḿnh đọc hết được cả. Hiện nay, ḿnh chỉ dịch được một số thôi, nhưng nếu dịch hết không biết bao kiếp mới đọc xong. Thế nhưng, nếu có người thấy sự thật rồi th́ cho họ đọc họ cũng không thèm đọc. Đấy là sự thật.
Người ta đă thấy sự thật, họ thực hành, nghĩa là họ thuận theo sự thực ấy để họ sống, họ sống với cái thực. Và, khi mà ḿnh sống thực, th́ ḿnh thấy ra c̣n hơn kinh điển nói. V́ sao? V́ điều cặn bă Thánh nhân - như ông thợ mộc nói - có nghĩa lư ǵ so với cái thấy, cái biết đời sống phong phú của Thánh nhân, phải vậy không? Khi mà ḿnh sống với cái thực, th́ ḿnh sẽ thấy lại những điều mà chính Thánh nhân thấy. Do đó, chúng ta không phải hiểu đạo Phật qua kinh điển mà hiểu đạo Phật qua chính sự thật. Đấy là mục đích duy nhất và tối hậu của những buổi hội thảo này vậy.
Bây giờ c̣n chừng nửa tiếng nữa, có ai hỏi ǵ không? Hoặc nếu thấy tôi tŕnh bày chủ quan quá th́ cũng cứ thẳng thắn đứng dậy mà nói... Không có ai nói, ai hỏi ǵ sao?
Những buổi hội thảo của chúng ta từ đây về sau sẽ rất chặt chẽ, xin báo trước như vậy. Trừ phi quá bận c̣n không quư vị nên cố gắng tham dự và theo dơi liên tục. Nếu nghỉ một buổi là gián đoạn mất, khó mà thấy toàn bộ được. V́ nó chặt chẽ từng khâu một. Thấy cái này th́ thấy cái kia, không thấy cái này th́ không thấy cái kia.
Bắt đầu buổi hội thảo sau, thực sự mới là vào chính đề. C̣n những điều chúng ta vừa bàn ở trên, nghe ghê gớm vậy chứ chẳng có ǵ quan trọng cả. Tinh thần học sự thật của chúng ta cần phải được trang bị một cái gọi là "nói thẳng thắn không sợ đụng chạm ai cả". Vậy chúng ta phải chuẩn bị tinh thần. Muốn thấy sự thật th́ phải đập đổ tất cả những cái mà trước nay ḿnh hiểu sai lầm, có phải vậy không?
Hồi xưa, Đức Phật có một trong những pháp bất úy gọi là "Thuyết chướng ngại đạo vô sở úy". Nguyên Thủy, Tiểu Thừa hay Đại Thừa ǵ cũng đều công nhận điều đó cả. Nghĩa là cái ǵ chướng ngại cho đạo, cho sự tu hành giải thoát th́ cứ vạch trần, chẳng sợ ǵ hết, dù điều đó xưa nay người ta tôn sùng đưa lên mây xanh mà sai th́ ḿnh cứ thẳng thắn mà nói sai. Người muốn thấy chân lư phải thẳng thắn và dũng cảm như vậy. Phải xóa hết tất cả mọi ranh giới, mọi quan điểm của các tông phái.
V́ có một điều chắc chắn như thế này: nếu c̣n cố chấp tông phái th́ không thể nào thấy được chân lư. Đấy là điều chắc chắn 100% chứ không phải 99% đâu. Tuy nhiên, ḿnh có thể cứ ở tông phái này hoặc tông phái kia, không sao cả. V́ sao vậy? V́ cái đó chỉ thuộc vấn đề tổ chức thôi. Tổ chức th́ nó có tính cách "nhập gia tùy tục". Thí dụ: tôi ở Nguyên Thủy th́ tôi phải mặc y, phải đi khất thực. Tôi phải làm những chuyện mà bên Phật giáo Nguyên Thủy người ta làm. Chuyện đó ḿnh tự tại vô ngại chớ có sao đâu. Nhưng hễ mà tôi cố chấp cho chuyện đó là một cái ǵ ghê gớm lắm th́ tôi không thể nào thấy Đạo được. Bởi v́ chính khi ḿnh sống Đạo, th́ chỉ có Đạo, có sự sống giác ngộ mà thôi, ngoài ra không có bất cứ cái ǵ lảng vảng vô đó được hết. Hễ mà c̣n lảng vảng cái ǵ đó, một chút xíu thôi, một lư tưởng chẳng hạn, th́ thành ra hoài công vô ích. Xin lặp lại không có ǵ chen vô đó được, dù là chen vô một lư tưởng cao đẹp cách mấy cũng đều là phá hoại sự thật mà ḿnh đang sống. Cho nên quư vị hăy sẵn sàng để mà phá!
C̣n một việc nữa mà chúng ta cần ghi nhận là giả sử tôi có tŕnh bày sự thật, mà quư vị thấy ra được sự thật th́ đó là sự thật khách quan mà mỗi người tự thấy biết, tự giác ngộ, chứ không phải là sự thật chủ quan do tôi đưa ra. Chân lư là cái chung của mọi người. Xin nhớ cho như vậy!
Đức Phật, Ngài đă từng phủ nhận vai tṛ giáo chủ với một đặc quyền nào đó về chân lư, một bậc Đạo Sư, chúng ta tôn xưng Ngài như vậy mà thôi. Ngài luôn bảo Ngài là người chỉ đường. Người chỉ đường - người khải thị khác với ông thầy theo nghĩa đưa ra một mực thước, một khuôn khổ bắt học tṛ phải theo. Đạo Phật chứ không phải bàng môn tả đạo mà bắt con người lệ thuộc vào tông phái, vào giáo hệ, lệ thuộc vào ông thầy, vào đấng giáo chủ, vào uy quyền của thần linh, lệ thuộc vào một chủ thuyết giáo điều.
Đức Phật dạy như thế này, trong kinh Nguyên Thủy, coi như là một tuyên ngôn đặc thù của đạo giác ngộ:
"Attāhi
attano nātho,
Ko hi nātho parosiyā.
Attanā'va sudantena,
Nātham labhati dullabham". (Dhammapada - Pháp
cú kinh)
Câu ấy đúng là câu tuyên ngôn như Thiền Tông nói: "Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật" vậy. Câu trên nghĩa như thế này: "Ta chính là Thượng Đế của ta, không ai khác có thể là Thượng Đế của ta được. Một khi đă thuần tịnh th́ ta chính là Thượng Đế hy hữu". Ở đây cần một vài giải thích:
- Atta là ta: chữ ta này chỉ là danh xưng chứ không phải là bản ngă. Một câu nói phải có chủ từ, động từ, chứ đừng tưởng vô ngă là không có tôi, không có anh, rồi nói trỗng, không phân biệt đâu là tôi, là anh, là chị, người ta sẽ bảo ḿnh điên mất.
- Nātho: chữ này rất đặc biệt, vừa có nghĩa là nơi nương nhờ, nơi nương tựa, vừa có nghĩa là Thượng Đế.
- Hi: một từ dùng để nhấn mạnh, khẳng định "chắc chắn vậy, quả thực vậy".
Trở về y cứ nơi chính ḿnh để thấy cái thực. Cái thực ấy chính là pháp, là Thượng Đế tối thượng. Thượng Đế tối thượng ấy quả thực không lệ thuộc ông thầy, lệ thuộc giáo hệ, tông phái, chủ trương, quan điểm, tổ chức, h́nh thức... hoặc với tất cả những ǵ bàn luận phù phiếm lăng xăng của cuộc đời, của thế gian pháp.
-ooOoo-
-----------------------------------
Trích từ website: http://trungtamhotong.org . Chúng con thành kính tri ân H.T Viên Minh.
(30-05-2008)