***
--ooOoo--
Lời tiếng Việt: Tỳ khưu
Indacanda
(Trương đình Dũng)
I. SUMEDHĀVAGGO - PHẨM SUMEDHĀ:
1. Ký Sự về Sumedhā (01 – 19)
2. Ký Sự về Mekhalādāyikā (20 – 25)
3. Ký Sự về Maṇḍapadāyikā (25 – 30)
4. Ký Sự về Saṇkamanatthā (31 – 36)
5. Ký Sự về Naḷamālikā (37 – 45)
6. Ký Sự về Ekapiṇḍapātadāyikā (46 – 59)
7. Ký Sự về Kaṭacchubhikkhādāyikā (60 – 70)
8. Ký Sự về Sattuppalamālikā (71 – 90)
9. Ký Sự về Pañcadīpikā (91 – 115)
10. Ký Sự về Udakadāyikā (116 – 130)
Tóm Lược của Phẩm này
***
II. EKUPOSATHIKAVAGGO - PHẨM MỘT LẦN TRAI GIỚI:
11. Ký Sự về Ekuposathikā (131 – 150)
12. Ký Sự về Salalapupphikā (151 – 158)
13. Ký Sự về Modakadāyikā (159 – 165)
14. Ký Sự về Ekāsanadāyikā (166 – 189)
15. Ký Sự về Pañcadīpadāyikā (190 – 214)
16. Ký Sự về Sālamālikā (215 – 225)
17. Ký sự về Mahāpajāpatigotamī (226 – 415)
18. Ký Sự về Khemā (416 – 510)
19. Ký Sự về Uppalavaṇṇā (511 – 594)
20. Ký Sự về Paṭācārā (595 – 638)
Tóm Lược của Phẩm này
***
III. KUṆḌALAKESIVAGGO - PHẨM KUṆḌALAKESĪ:
21. Ký Sự về Kuṇḍalakesā (639 – 692)
22. Ký Sự về Kisāgotamī (693 – 732)
23. Ký Sự về Dhammadinnā (733 – 768)
24. Ký Sự về Sakulā (769 – 803)
25. Ký Sự về Nandā - Mỹ Nhân của Xứ Sở (804 – 857)
26. Ký Sự về Soṇā (858 – 881)
27. Ký Sự về Bhaddākāpilānī (882 – 951)
28. Ký Sự về Yasodharā (952 – 1028)
29. Ký Sự về 10.000 vị Tỳ Khưu Ni (1029 – 1043)
30. Ký Sự về 18.000 vị Tỳ Khưu Ni (1044 – 1103)
Tóm Lược của Phẩm này
***
IV. KHATTIYĀVAGGO - PHẨM CÁC NI DÒNG SÁT-ĐẾ-LỴ:
31. Ký Sự về các vị Tỳ Khưu Ni đứng đầu là Yasavatī (1104 – 1115)
32. Ký Sự về các vị Tỳ Khưu Ni Thiếu Nữ Bà-la-môn (1116 – 1159)
33. Ký Sự về Uppaladāyikā (1160 – 1184)
34. Ký Sự về Sigālamātā (1185 – 1213)
35. Ký Sự về Sukkā (1214 – 1245)
36. Ký Sự về Rūpanandā (1246 – 1270)
37. Ký Sự về Aḍḍhakāsī (1271 – 1286)
38. Ký Sự về Puṇṇā (1287 – 1306)
39. Ký Sự về Ambapālī (1307 – 1322)
40. Ký Sự về Pesalā (1323 – 1336)
Tóm Lược của Phẩm này
Tóm Lược của các Phẩm
--ooOoo--
Apadānapāḷi là tựa đề của tập Kinh thứ
mười ba thuộc Tiểu Bộ. Chúng tôi đề
nghị tựa đề tiếng Việt là Thánh Nhân Ký Sự. Sự chọn lựa
tựa đề như vậy được căn
cứ vào nội dung của tập Kinh, vì ý nghĩa của
từ apadāna cho đến nay
vẫn chưa có được kết luận dứt
khoát.
Apadānapāḷi gồm có bốn phần:
- Buddhāpadāna (liên quan đến
Phật Toàn Giác)
- Paccekabuddhāpadāna (liên quan
đến Phật Độc Giác)
- Therāpadāna (559 câu chuyện về
các vị trưởng lão)
- và Therī-apadāna (40 câu chuyện về
các vị trưởng lão ni).
Bản
tiếng Việt trình bày ở đây là phần thứ
tư: Therī-apadāna, chúng tôi
đề nghị tựa đề tiếng Việt là Trưởng Lão Ni Ký Sự. Chú giải
của tập Kinh Apadānapāḷi có
tên là Visuddhajanavilāsinī chỉ
đề cập đến ba phần đầu, còn
phần chú giải liên quan đến các vị tỳ
khưu ni lại không được tìm thấy.
Về
nội dung, Therī-apadāna - Trưởng Lão Ni Ký Sự được
trình bày thành bốn phẩm (vagga),
mỗi phẩm gồm có 10 ký sự, tổng cộng là 40
câu chuyện được kể lại bởi các vị
tỳ khưu ni đã sống, tu tập, và thành Đạo
dưới sự hướng dẫn của đức
Phật Gotama, tức là đức Phật Thích Ca đang
được chúng ta thờ phụng hiện nay. Các câu
chuyện này có chủ đề liên quan đến
những hành động phước thiện của các
vị tỳ khưu ni này ở trong quá khứ. Những
thiện nghiệp này đã đem lại phước báu
cho các vị ấy trong nhiều kiếp, cuối cùng vào
kiếp chót các vị này đã xuất gia trở thành
tỳ khưu ni, được chứng quả vị
A-la-hán, đã thành tựu tam minh, đắc chứng
bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí.
Một số nghiệp bất thiện cũng đã
được đề cập đến và nghiệp
quả xấu phải gánh chịu do những hành
động ấy đem lại cũng không phải là
nhỏ. Các điểm chi tiết được trình bày
ở mỗi ký sự đã được đích thân các
vị tỳ khưu ni đích thân thuật lại, dài
ngắn cũng không chừng đổi, đôi lúc có xen
lẫn một vài dòng kệ chú thích của người
sưu tập. Tên của một số vị trưởng
lão ni đã được ghi nhận theo hành động,
ví dụ vị ni Mekhalādāyikā có tên gọi theo hành
động bố thí sợi dây thắt lưng (mekhala), Maṇḍapadāyikā do
việc bố thí mái che (maṇḍapa),
v.v… Tên của nhiều vị trưởng lão ni cũng
đã được tìm thấy ở Therīgāthā
- Trưởng Lão Ni Kệ, nhưng không phải là
tất cả. So sánh giữa hai văn bản, một vài vị
có tên gọi không giống nhau nhưng chi tiết trình bày
lại tương đồng. Ngược lại tên
của một số vị trưởng lão ni có ở Therīgāthā nhưng không
được tìm thấy ở Apadāna.
Nói chung, có một số tư liệu xét ra là mới
lạ đối với hàng học Phật người
Việt được chứa đựng trong cuốn
Kinh này.
Về
hình thức, Therī-apadāna - Trưởng Lão Ni Ký Sự được
viết theo thể kệ thơ (gāthā),
mỗi câu kệ gồm có bốn pāda
được trình bày thành hai dòng. Đa số các câu
kệ của cuốn Kinh này làm theo thể thông
thường gồm có tám âm cho mỗi pāda.
Các câu kệ Pāḷi đã
được ghi lại bằng dạng chữ nghiêng xen kẽ với lời
dịch Việt theo lối văn xuôi; mỗi câu kệ Pāḷi tương đương
với hai hoặc ba dòng văn Việt được trình
bày thành từng đoạn tách biệt. Đôi chỗ, hai
câu kệ hoặc nhiều hơn được dịch
chung thành một đoạn dựa theo tính chất hoàn
chỉnh về văn phạm hoặc về ý nghĩa
của chúng. Chúng tôi trình bày song ngữ Pāḷi
- Việt không gì khác hơn là nhằm tạo
điều điện cho quý độc giả
được gần gũi hơn với lời dạy
của đức Phật ngỏ hầu củng cố
niềm tin hoặc sử dụng làm tài liệu nghiên
cứu và học tập cho bản thân. Cũng cần nói
thêm về văn bản Pāḷi
được trình bày ở đây đã được
phiên âm lại từ văn bản Pāḷi
– Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Series của
nước quốc giáo Sri Lanka. Liên quan đến việc
này, chúng tôi xin thành tâm tán dương công đức của
Ven. Mettāvihārī đã hoan hỷ cho phép chúng tôi
sử dụng văn bản đã được phiên âm
sẵn đang phổ biến trên mạng internet, phần việc của chúng tôi
là kiểm tra đối chiếu lại với văn
bản chánh và sửa chữa lại những lỗi sai
sót.
Về
phương diện dịch thuật, có điều
cần lưu ý như sau: Toàn bộ văn bản là các
lời tự thuật, tuy nhiên chúng tôi chỉ trình bày ở
dạng chữ nghiêng
cho những đoạn có tính chất đối thoại
trực tiếp hoặc những điều ước
nguyện, suy nghĩ. Về từ xưng hô của hàng đệ
tử đối với đức Phật, chúng tôi sử
dụng từ “con” ở ngôi
thứ nhất cho những trường hợp trực
tiếp, và “tôi” cho những
trường hợp xét rằng người nghe là các
đối tượng khác. Về sự xưng hô của
đức Phật với người đối diện,
chúng tôi thay đổi theo suy nghĩ chủ quan, lúc thì “bà” dùng cho Mahāpajāpati Gotamī, “em” dùng cho Nandā người em gái cùng
cha khác mẹ, “nàng, các nàng” dùng cho
Yasodharā, Kisāgotamī, Rūpanandā, và những
vị ni trước đây là hầu thiếp ở trong
cung, “ngươi, các ngươi”
dùng cho các vị tỳ khưu, và ít dùng từ “con, các con” ở ngôi thứ hai cho các
trường hợp này; điểm này xét ra cần có thêm
sự đầu tư suy nghĩ. Về văn phong
của lời dịch, chúng tôi chủ trương ghi
lại lời tiếng Việt sát theo văn bản
gốc và cố gắng không bỏ sót từ nào không
dịch. Lời văn tiếng Việt của chúng tôi có
chứa đựng những mấu chốt giúp cho
những ai có ý thích nghiên cứu Pāḷi
thấy ra được cấu trúc của loại
ngôn ngữ này. Việc làm này của chúng tôi không hẳn
đã được hoàn hảo, dẫu sao cũng là
bước khởi đầu nhằm thúc đẩy phong
trào nghiên cứu cổ ngữ Phật Học của
người Việt
Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân
thành tán dương sự sách tấn và ủng hộ của
quý vị hữu ân: Thầy Thích Tâm Không (Seattle), gia đình
Phật tử Phạm Trọng Độ, gia đình
Phật tử Lý Hoàng Anh, Phật tử Võ Đức Hùng,
nhóm Phật tử California gồm có: Phật tử
Tịnh Phước, Phật tử Diệu Đài,
Phật tử Diệu Bình (Cô Sáu Dép) và các con cháu Phạm
Thị Thi & Châu Thiên Hưng, Phạm Xuân Lan & Trần
Thành Nhơn, Phạm Thu Mai, Phạm Thu Hương &
Tuyết & Tuấn & Khôi, Phạm Loan, Phạm
Thiện Bảo & Bảo Lộc & Bảo Hân, gia
đình Nguyễn Thị Hai, gia đình Lưu Xuân An, v.v...
Thành tâm cầu chúc quý vị luôn giữ vững niềm tin
và thành tựu được nhiều kết quả trong
công việc tu tập giải thoát và hộ trì Tam Bảo.
Cũng
xin chân thành ghi nhận sự quan tâm chăm sóc trực
tiếp hoặc gián tiếp đối với công tác phiên
dịch của chúng tôi về phương diện vật
thực bồi dưỡng và thuốc men chữa bệnh
của các vị hữu ân sau: Sư Cô Trí Anh - chùa Linh
Sơn (Pháp), Bhikkhunī Nichanaporn Ketjan Sukhetta (Thái), Cô
Phạm Thu Hương và Cô Hoàng Thị Thịnh (Hồng
Kông), Cô Upekkhā (Úc Đại Lợi), Phật tử Daw
Pat Gray (Myanmar). Công việc soạn thảo này
được thông suốt, không bị gián đoạn,
chính là nhờ có sự hỗ trợ cấp thời và quý
báu của quý vị. Ngưỡng mong phước báu
hộ trì quý vị luôn được an vui, sức
khỏe, và mọi ước nguyện đều
được thành tựu như ý.
Một
điều thiếu sót lớn nếu không đề
cập đến sự hỗ trợ về việc phiên
dịch của Ven. Nandaratana, hiệu trưởng
trường Phật Học ở Kalutara (Sri Lanka), và
sự nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi của sinh viên
Karunaratna trong việc tham khảo bản dịch tiếng
bản xứ. Cũng không quên không nhắc đến
những sự ủng hộ, khích lệ, và công đức
kiểm tra lần sau cùng của hai vị Đại
Đức Dhammapāla (Trần Văn Tha) và Đại
Đức Đức Hiền (Nguyễn Đăng Khoa)
trước khi gởi lên mạng lưới internet.
Công
đức này xin dâng đến Hòa Thượng Devahandiye
Paññāsekara Nāyaka Mahāthera, trụ trì chùa Sri Jayawardhanaramaya,
Colombo, Tích Lan, đã tạo nhiều điều kiện
thuận lợi cho chúng tôi trong công việc tu học và
nghiên cứu Phật Pháp thời gian qua.
Cuối cùng, ngưỡng mong phước
báu phát sanh trong công việc soạn thảo cuốn Kinh này
được thành tựu đến thầy tổ, song
thân, và tất cả chúng sanh trong tam giới. Nguyện cho
hết thảy đều được an vui, sức
khỏe, có trí tuệ, và tinh tấn tu tập ngõ hầu
thành đạt cứu cánh giải thoát, chấm dứt
khổ đau.
Mong sao
hết thảy chúng sanh đều được tiến
hóa trong ánh hào quang của Chánh Pháp.
Tỳ khưu Indacanda
(Trương đình Dũng)