IV. KHATTIYĀVAGGO

IV. PHẨM SÁT-ĐẾ-LỴ:

 

 

31. Yasavatīpamukhabhikkhunīnaṃ apadānaṃ

31. Kư Sự về các vị Tỳ Khưu Ni đứng đầu là Yasavatī:

 

***

 

1104. Bhavā sabbe parikkhīṇā bhavasandhi vimocitā,
sabbāsavā ca no natthi ārocema mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, chúng con xin tŕnh rằng, tất cả các hữu của chúng con đă được cạn kiệt, sự nối liền với sự tái sanh của chúng con đă được thoát khỏi, và các lậu hoặc của chúng con không c̣n.

 

1105. Purimaṃ kusalaṃ kammaṃ yaṃ kiñci sādhu patthitaṃ,
paribhogamayaṃ dinnaṃ tuyhatthāya mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, bất cứ thiện nghiệp nào trước đây đă được ước nguyện tốt đẹp (và) vật dụng đă được bố thí là nhằm mục đích về Ngài.

 

1106. Buddhapaccekabuddhānaṃ buddhānaṃ sāvakānaṃ ca,
paribhogamayaṃ dinnaṃ tuyhatthāya mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, vật dụng đă được bố thí đến các vị Phật, các vị Phật Độc Giác, và các vị Phật Thinh Văn, là nhằm mục đích về Ngài.

 

1107. Uccanīcamayaṃ kammaṃ bhikkhūnaṃ sādhu patthitaṃ,
uccākulaparikammaṃ katametaṃ mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, hành động cao cả hoặc tầm thường đến các vị tỳ khưu đă được ước nguyện tốt đẹp, hành động khởi đầu này đây cho việc (sanh vào) các gia tộc thượng lưu đă được thực hiện.

 

1108. Teneva sukkamūlena coditā kammasampadā,
mānusikamatikkantā jāyiṃsu khattiye kule.

Với sự thành tựu của nghiệp được bắt nguồn bởi chính nguyên nhân trong sạch ấy, được vượt trội loài người chúng con đă sanh vào gia tộc Sát-đế-lỵ.

 

1109. Uppatte ca kate kamme jātiyā cāpi ekato,
pacchime ekato jātā khattiyā kulasambhavā.

Trong sự sanh ra và trong việc làm đă được thực hiện, và luôn cả trong sự tái sanh cùng với nhau, chúng con đă được sanh ra chung với nhau trong lần cuối cùng, có xuất thân gia tộc Sát-đế-lỵ.

 

1110. Rūpavatī bhogavatī lābhasakkārapūjitā,
antepure mahāvīra devānaṃ viya nandane.

Bạch đấng Đại Hùng, có sắc đẹp, có của cải, được tôn vinh bằng các lợi lộc và sự kính trọng, chúng con ở trong kinh thành như là ở (vườn hoa) Nandana của chư Thiên.

 

1111. Nibbinditvā agāramhā pabbajimha ’nagāriyaṃ,
katipāhaṃ upādāya sabbā pattā ’mha nibbutiṃ.

Chúng con đă nhàm chán và đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Trong vài ngày, tất cả chúng con đă đạt đến Niết Bàn.

 

1112. Cīvaraṃ piṇḍapātaṃ ca paccayaṃ sayanāsanaṃ,
upanenti bahū amhe sadā sakkatapūjitā.

Nhiều người đem đến cho chúng con y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi, chúng con luôn luôn được kính trọng tôn vinh.

 

1113. Kilesā jhāpitā amhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāma anāsavā.

Các phiền năo của chúng con đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), chúng con sống không c̣n lậu hoặc.

 

1114. Svāgataṃ vata no āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, chúng con đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

1115. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Chúng con đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; chúng con đă thực hành lời dạy của đức Phật.”

 

Itthaṃ sudaṃ Yasavatīpamukhāni aṭṭhārasakhattiyakaññā bhikkhunīsahassāni bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Mười tám ngàn vị tỳ khưu ni công nương ḍng Sát-đế-lỵ đứng đầu là Yasavatī trước mặt đức Thế Tôn đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Yasavatīpamukha-aṭṭhārasabhikkhunīsahassāpadānaṃ paṭhamaṃ.

Kư sự về mười tám ngàn vị tỳ khưu ni đứng đầu là Yasavatī là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

 

32. Brahmaṇakaññābhikkhunīnaṃ apadānaṃ

32. Kư Sự về các vị Tỳ Khưu Ni Thiếu Nữ Bà-la-môn:

 

***

 

1116. Cullāsītisahassāni brahmaññakulasambhavā,
sukhumālahatthapādā pure tuyhaṃ mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, tám mươi bốn ngàn vị ni xuất thân gia tộc Bà-la-môn, có tay chân mềm mại, là thuộc về Ngài trước đây.

 

1117. Vessasuddakule jātā devā nāgā ca kinnarā,
cātuddīpā bahū kaññā pure tuyhaṃ mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, nhiều thiếu nữ đă được sanh ra trong gia tộc thương buôn và nô lệ, là chư Thiên, loài rồng, và kim-sỉ-điểu, thuộc bốn châu lục, là thuộc về Ngài trước đây.

 

1118. Keci pabbajitā atthi saccadassāvino bahū,
devā ca kinnarā nāgā bujjhissanti anāgate.

Có một số đă được xuất gia, nhiều vị có sự nh́n thấy Sự Thật. C̣n chư Thiên, kim-sỉ-điểu, loài rồng sẽ được giác ngộ trong ngày vị lai.

 

1119. Anubhotvā yasaṃ sabbaṃ patvāna sabbasampadā,
tvayi pasādaṃ paṭiladdhā bujjhissanti anāgate.

Sau khi thọ hưởng danh vọng, sau khi đạt đến thành công toàn diện, tất cả đă đạt được niềm tịnh tín ở Ngài, sẽ được giác ngộ trong ngày vị lai.

 

1120. Amhe brāhmaṇadhītā tu brahmaññakulasambhavā,
pekkhato no mahāvīra pāde vandāma cakkhuma.

C̣n chúng con là những người con gái của các Bà-la-môn, xuất thân gia tộc Bà-la-môn, bạch đấng Đại Hùng của chúng con, bạch đấng Hữu Nhăn, chúng con xin đảnh lễ ở bàn chân của Ngài là vị đang xem xét chúng con.

 

1121. Upahatā bhavā sabbe mūlataṇhā samūhatā,
samucchinnā anusayā puññasaṅkhārā dālitā.

Tất cả các hữu đă được phá hủy, ái dục cội nguồn đă được thủ tiêu, các khuynh hướng ngủ ngầm đă được chặt đứt, các sự tạo tác đem lại phước báu đă được xé tan.

 

1122. Samādhigocarā sabbā samāpattivasī tathā,
jhānena dhammaratiyā viharissāma no sadā.

Chúng con có tất cả các hành xứ về định, tương tợ như thế về khả năng thể nhập. Nhờ thiền, chúng con sẽ luôn luôn sống với sự thỏa thích trong Giáo Pháp.

 

1123. Bhavanetti avijjā ca saṅkhārā ’pi ca khepitā,
sududdasaṃ padaṃ gantuṃ anujānātha nāyaka.

Lối dẫn đến tái sanh, vô minh, và luôn cả các pháp c̣n tạo tác đă được quăng bỏ. Bạch đấng Lănh Đạo, xin Ngài cho phép (chúng con) đi đến vị thế khó nh́n thấy vô cùng.”

 

1124. Upakārā mamaṃ tumhe dīgharattaṃ katāvino,
catunnaṃ saṃsayaṃ chetvā sabbā gacchantu nibbutiṃ.

Các nàng là nguồn hỗ trợ cho Ta là người đă có sự thực hành dài lâu. Tất cả các nàng hăy cắt đứt sự hoài nghi của bốn (chúng) rồi hăy đi đến Niết Bàn.”

 

1125. Vanditvā munino pāde katvā iddhivikubbaṇaṃ,
kāci dassenti ālokaṃ andhakāramathāparā.

Sau khi đảnh lễ ở bàn chân của bậc Hiền Triết và đă thực hiện sự biến hóa thần thông, một số vị ni thị hiện ánh sáng, c̣n một số khác thị hiện bóng tối.

 

1126. Dassenti candasuriye sāgaraṃ ca samacchakaṃ,
sineruparibhaṇḍaṃ ca dassenti pārichattakaṃ.

Các vị ni thị hiện mặt trăng, mặt trời, và biển cả có cả loài cá. Các vị thị hiện dăy núi Sineru và giống cây san hô (thuộc cơi trời).

 

1127. Tāvatiṃsaṃ ca bhavanaṃ yāmaṃ dassenti iddhiyā,
tusitaṃ nimmite deve vasavatti mahissare.

Với thần thông, các vị ni làm cho nh́n thấy cung trời Đạo Lợi, Dạ Ma, Đẩu Suất, các vị trời có uy lực lớn lao ở cơi Hóa Lạc Thiên và Tha Hóa Tự Tại.

 

1128. Brahmāno kāci dassenti caṅkamaṃ ca mahārahaṃ,
brahmavaṇṇaṃ ca māpetvā dhammaṃ desenti suññataṃ.

Một số vị ni làm cho nh́n thấy con đường kinh hành vô cùng giá trị của đấng Phạm Thiên. Và sau khi biến hóa thành h́nh dáng của đấng Phạm Thiên, các vị ni thuyết giảng Giáo Pháp về không tánh.

 

1129. Nānāvikubbaṇaṃ katvā iddhiṃ dassiya satthuno,
dassayiṃsu balaṃ sabbā pade vandiṃsu satthuno. 

Sau khi đă thực hiện sự biến hóa khác nhau và đă phô bày thần thông đến bậc Đạo Sư, tất cả đă tŕnh bày năng lực và đă đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư.

 

1130. Iddhīsu ca vasī homa dibbāya sotadhātuyā,
cetopariyañāṇassa vasī homa mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, chúng con có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, chúng con có năng lực về trí biết tâm của người khác.

 

1131. Pubbe nivāsaṃ jānāma dibbacakkhu visodhitaṃ,
sabbāsavā parikkhīṇā nathidāni punabbhavo.

Chúng con biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

1132. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāne tatheva ca,
ñāṇaṃ amhaṃ mahāvīra uppannaṃ tava santike.

Bạch đấng Đại Hùng, trí của chúng con về ư nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.

 

1133. Pubbānaṃ lokanāthānaṃ saṅgamaṃ no nidassitaṃ,
adhikārā bahū amhaṃ tuyhatthāya mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, sự hội tụ của các vị Lănh Đạo Thế Gian trước đây, đă được chúng con nh́n thấy rơ. Nhiều hành động hướng thượng của chúng con là nhằm mục đích về Ngài.

 

1134. Yaṃ amhehi kataṃ kammaṃ kusalaṃ sara taṃ mune,
tuyhatthāya mahāvīra puññā ’nupacitāni no.

Bạch đấng Hiền Triết, xin Ngài nhớ lại nghiệp thiện đă được chúng con thực hiện. Bạch đấng Đại Hùng, phước báu đă được tích lũy bởi chúng con là nhằm mục đích về Ngài.

 

1135. Satasahasse ito kappe padumuttaro mahāmuni,
puraṃ haṃsavatī nāma sambuddhassa kulāsayaṃ.

Trước đây một trăm ngàn kiếp, có bậc Đại Hiền Triết Padumuttara. Thành phố tên Haṃsavatī là chỗ cư ngụ của gia đ́nh đấng Toàn Giác.

 

1136. Dvārena haṃsavatiyā gaṅgā sandati sabbadā,
ubbāḷhā nadiyā bhikkhū gamanaṃ na labhanti te.

Sông Gaṅgā luôn luôn chảy qua cửa khẩu của thành Haṃsavatī. Bị khuấy rồi bởi ḍng sông, các vị tỳ khưu ấy không có được đường đi.

 

1137. Divasaṃ dve tayo ceva sattāhaṃ māsakaṃ tato,
catumāsampi sampuṇṇaṃ gamanaṃ na labhanti te.

Các vị ấy không có được đường đi đă hai ngày, ba ngày, và luôn cả bảy ngày, sau đó là một tháng, thậm chí bốn tháng đă được tṛn đủ.

 

1138. Tadā ahu sattasāro jaṭilo nāma raṭṭhiko,
oruddhe bhikkhavo disvā setuṃ gaṅgāya kārayi.

Khi ấy, bậc ưu tú của loài người đă là viên quan lại tên là Jaṭila. Sau khi nh́n thấy các vị tỳ khưu bị ngăn trở, người đă cho xây dựng cây cầu ở sông Gaṅgā.

 

1139. Tadā satasahassehi setuṃ gaṅgāya kārayi,
saṅghassa orime tīre vihāraṃ ca akārayi.

Khi ấy, người đă cho xây dựng cây cầu ở sông Gaṅgā với một trăm ngàn, và đă cho xây dựng ngôi trú xá của hội chúng ở bờ sông bên này.

 

1140. Itthiyo purisā ceva uccanīcakulāni ca,
tassa setuvihāre ca samabhāgaṃ akaṃsu te.

Những người đàn bà luôn cả đàn ông cùng các gia đ́nh thượng và hạ lưu, họ đă góp phần bằng nhau cho cây cầu và ngôi trú xá của vị ấy.

 

1141. Amhe aññe ca manujā vippasannena cetasā,
tassa kammesu dāyādā nagare janapadesu ca.

Với tâm ư vui mừng, chúng con và những người khác ở thành phố và ở các quốc độ là những người thừa tự các việc làm của vị ấy.

 

1142. Itthī purisā kumārā ca bahū ceva kumārikā,
setuno ca vihārassa vālukā ākiriṃsu te. 

Những người đàn bà, đàn ông, thiếu niên, và luôn cả nhiều thiếu nữ, họ đă rải cát cho cây cầu và ngôi trú xá.  

 

1143. Vīthisammajjanaṃ katvā kadalī puṇṇaghaṭe dhaje,
dhūpaṃ cuṇṇaṃ ca mālaṃ ca kāraṃ katvāna satthuno.

Sau khi làm việc quét dọn con đường, họ đă thực hiện các lá phướn, các chum đầy (nước), các cây cờ, nhang thắp, bột phấn, tràng hoa là việc tôn kính đến bậc Đạo Sư.

 

1144. Setuvihāre kāretvā nimantetvā vināyakaṃ,
mahādānaṃ daditvāna sambodhiṃ abhipatthayī.

Sau khi cho thực hiện cây cầu và ngôi trú xá, người đă thỉnh mời đấng Hướng Đạo, rồi đă dâng cúng đại thí, và đă ước nguyện quả vị Toàn Giác.

 

1145. Padumuttaro mahāvīro tārako sabbapāṇinaṃ,
anumodaniyaṃ ’kāsi jaṭilassa mahāmuni.

Bậc Đại Hiền Triết, đấng Đại Hùng Padumuttara, vị giúp cho vượt qua tất cả các sanh linh, đă nói lời tùy hỷ đến vị Jaṭila rằng:

 

1146. “Satahasasse atikkante kappo hessati bhaddako,
bhavābhave ’nubhotvāna pāpuṇissati bodhiyaṃ.

Khi một trăm ngàn kiếp đă trôi qua sẽ là kiếp Bhadda, (người này) sau khi trải qua kiếp này kiếp khác sẽ đạt đến quả vị giác ngộ.

 

1147. Ye keci hatthaparikammaṃ katāvī naranāriyo,
anāgatasmiṃ addhāne sabbā hessanti sammukhā.

Những người đàn ông và đàn bà nào đă thực hiện công việc hỗ trợ bằng tay, trong tương lai dài lâu tất cả sẽ gặp lại nhau.”

 

1148. Tena kammavipākena cetanāpaṇidhīhi ca,
uppannā devabhavanaṃ tuyhaṃ tā paricārikā.

Do kết quả của nghiệp ấy và do các nguyện lực của tác ư, những người nữ tỳ ấy của Ngài đă được sanh lên cung điện của chư thiên.

 

1149. Dibbaṃ sukhaṃ asaṅkheyyaṃ mānusaṃ ca asaṅkhyayaṃ,
anubhontī ciraṃ kālaṃ saṃsarimha bhavābhave.

Trong khi thọ hưởng sự sung sướng vô lượng thuộc về cơi trời và vô lượng thuộc về nhân loại một thời gian dài, chúng con đă luân hồi cơi này cơi khác.

 

1150. Satasahasse ito kappe sukataṃ kammasampadaṃ,
sukhumālī manussesu atho devapure vare.

Trong một trăm ngàn kiếp về trước, sự thành tựu của nghiệp đă được thể hiện tốt đẹp, chúng con được trẻ đẹp ở giữa loài người loại rồi ở cung trời cao quư.

 

1151. Rūpabhogayase ceva atho kittiṃ ca sakkataṃ,
labhāma satataṃ sabbaṃ sukataṃ kammasampadaṃ.

Chúng con liên tục thọ lănh trọn vẹn sự thành tựu của nghiệp đă được thể hiện tốt đẹp về sắc đẹp, của cải, danh vọng, luôn cả tiếng tăm, và sự kính trọng.

 

1152. Pacchime bhave sampatte jātāmha brāhmaṇe kule,
sudhumālahatthapādā sakyaputtanivesane.

Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, chúng con đă được sanh ra trong gia tộc Bà-la-môn, có tay chân mềm mại, ở trong cung của người con trai ḍng Sakya.

 

1153. Sabbakālampi paṭhaviṃ na passāma n’ alaṅkataṃ,
cikkhallabhūmimasuciṃ na passāma mahāmune.  

Bạch đấng Đại Hiền Triết, thậm chí trong mọi thời điểm chúng con cũng không nh́n thấy quả đất là không được trang hoàng, chúng con không nh́n thấy đầm lầy và mặt đất là bị ô nhiễm.

 

1154. Agāraṃ vasante amhe sakkāraṃ sabbakālikaṃ,
upanenti sadā sabbaṃ pubbakammabalena no.

Trong khi sống ở nhà, chúng con có được sự tôn trọng trong mọi thời điểm. Do năng lực của nghiệp trước đây, người ta luôn luôn đem lại cho chúng con mọi thứ.

 

1155. Agāraṃ pajahitvāna pabbajitvā ’nagāriyaṃ,
saṃsārapathanittiṇṇā vītarāgā bhavāmase.

Sau khi từ bỏ gia đ́nh, chúng con đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Chúng con đă được thoát khỏi đạo lộ luân hồi, có tham ái đă được ĺa bỏ.

 

1156. Cīvaraṃ piṇḍapātaṃ ca paccayaṃ sayanāsanaṃ,
upanenti sadā amhe sahassāni tato tato.

Từ nơi này từ nơi khác, người ta luôn luôn đem lại cho chúng con hàng ngàn y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi.

 

1157. Kilesā jhāpitā amhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāma anāsavā.

Các phiền năo của chúng con đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), chúng con sống không c̣n lậu hoặc.

 

1158. Svāgataṃ vata no āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, chúng con đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

1159. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Chúng con đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; chúng con đă thực hành lời dạy của đức Phật.”

 

Itthaṃ sudaṃ caturāsītibrāhmaṇakaññābhikkhunīsahassāni bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.

Tám mươi bốn ngàn vị tỳ khưu ni thiếu nữ Bà-la-môn trước mặt đức Thế Tôn đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Caturāsītibhikkhunīsahasāpadānaṃ dutiyaṃ

Kư sự về tám mươi bốn ngàn vị tỳ khưu ni là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

33. Uppaladāyikāpadānaṃ

33. Kư Sự về Uppaladāyikā:[1]

 

***

 

1160. Nagare aruṇavatiyā aruṇo nāma khattiyo,
tassa rañño ahaṃ bhariyā ekajjhaṃ cārayāmahaṃ.

Ở thành phố Aruṇavatī, có vị Sát-đế-lỵ tên là Aruṇa. Con đă là người vợ của vị vua ấy. Có một lần con đă khiến (người) đưa con đi (du ngoạn).

 

1161. Rahogatā nisīditvā evaṃ cintes’ ahaṃ tadā,
ādāya gamanīyaṃ hi kusalaṃ natthi me kataṃ.

Đến nơi thanh vắng, khi ấy con đă ngồi xuống và đă suy nghĩ như vầy: “Dầu đă đạt được chốn cần phải đến, nhưng không điều lành nào đă được ta thực hiện!

 

1162. Mahābhitāpaṃ kaṭukaṃ ghorarūpaṃ sudāruṇaṃ,
nirayaṃ nūna gacchāmi ettha me natthi saṃsayo.

Có lẽ ta sẽ đi đến địa ngục là nơi vô cùng nóng bức, khổ sở, có dáng vẻ rùng rợn, vô cùng khiếp đảm; điều này đối với ta là không có sự hoài nghi (nữa).”

 

1163. Evāhaṃ cintayitvāna pahaṃsetvāna mānasaṃ,
rājānaṃ upagantvāna idaṃ vacanamabraviṃ.

Sau khi suy nghĩ như thế và sau khi đă làm cho tâm được mừng rỡ, con đă đi đến gặp đức vua và đă nói lời nói này:

 

1164. “Itthī nāma mayaṃ deva purisānugatā sadā,
ekaṃ me samaṇaṃ dehi bhojayissāmi khattiya.”

Tâu bệ hạ, chúng thiếp là phụ nữ luôn luôn đi theo sau người nam. Tâu vị Sát-đế-lỵ, xin hăy ban cho thiếp một vị sa-môn. Thiếp sẽ chăm lo về vật thực.”

 

1165. Adāsi me tadā rājā samaṇaṃ bhāvitindriyaṃ,
tassa pattaṃ gahetvāna paramannena pūrayiṃ. 

Khi ấy, đức vua đă ban cho con (một) vị sa-môn có (các) giác quan đă được rèn luyện. Sau khi nhận lấy b́nh bát của vị ấy, con đă đặt đầy (b́nh bát) với vật thực thượng hạng.

 

1166. Puretvā paramaṃ annaṃ sahassagghanakenahaṃ,
mahācelena chādetvā adāsiṃ tuṭṭhamānasā.

Sau khi đă đặt đầy (b́nh bát) với vật thực thượng hạng, con đă đậy lại bằng tấm vải lớn trị giá một ngàn và đă dâng lên với tâm ư hớn hở.

 

1167. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, con đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

 

1168. Sahassaṃ devarājūnaṃ mahesittamakārayiṃ,
sahassaṃ cakkavattīnaṃ mahesittamakārayiṃ.

Con đă được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của một ngàn vị trời Đế Thích. Con đă được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của một ngàn vị Chuyển Luân Vương.

 

1169. Padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ,
nānāvidhaṃ bahuṃ aññaṃ tassa kammaphalaṃ tato.

Vương quyền của địa phận là bao la, vô lượng về phương diện tính đếm. Do đó, quả báu của nghiệp ấy c̣n có nhiều h́nh thức đa dạng khác nữa.

 

1170. Uppalasseva me vaṇṇo abhirūpā sudassanā,
itthī sabbaṅgasampannā abhijātā jutindharā.

Màu da của con chính là màu của hoa sen, con là người nữ đẹp vô cùng, có dáng nh́n xinh xắn, được thành tựu toàn vẹn về cơ thể, được sanh vào nơi quyền quư, có sự lộng lẫy.

 

1171. Pacchimabhave sampatte ajāyiṃ sākiye kule,
nārīsahassapāmokkhā suddhodanasutassahaṃ.

Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, con đă được sanh ra trong gia tộc Sakya, đứng đầu một ngàn nữ nhân của người con trai của (đức vua) Suddhodana.

 

1172. Nibbinditvā agārehaṃ pabbajiṃ anagāriyaṃ,
sattamiṃ rattimappatvā catusaccamapāpuṇiṃ.

Nhàm chán cuộc sống tại gia, con đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Chưa đến đêm thứ bảy, con đă đạt được bốn Sự Thật.

 

1173. Cīvaraṃ piṇḍapātaṃ ca paccayaṃ sayanāsanaṃ,
parimetuṃ na sakkomi piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.

Con không thể nào ước lượng được số lượng y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi; điều này là quả báu của món vật thực.

 

1174. Yaṃ mayhaṃ purimaṃ kammaṃ kusalaṃ sarase muni,
tuyhatthāya mahāvīra pariccattaṃ bahuṃ mayā.

Bạch đấng Hiền Triết, xin Ngài nhớ lại việc làm tốt đẹp trước đây của con. Bạch đấng Đại Hùng, nhiều thứ đă được con buông bỏ là nhằm mục đích về Ngài.

 

1175. Ekatiṃse ito kappe yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi con đă dâng cúng vật thí cho đến ba mươi mốt kiếp, con không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của món vật thực.

 

1176. Dve gatiyo pajānāmi devattaṃ atha mānusaṃ,
aññaṃ gatiṃ na jānāmi piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.

Con nhận biết hai cảnh giới là bản thể chư thiên và nhân loại. Con không biết đến cảnh giới nào khác; điều này là quả báu của món vật thực.

 

1177. Ucce kule pajāyāmi mahāsāle mahaddhane,
aññe kule na jānāmi piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.

Con được sanh vào gia tộc thượng lưu, có đại sảnh đường, có tài sản lớn lao. Con không biết đến gia tộc nào khác; điều này là quả báu của món vật thực.

 

1178. Bhavābhave saṃsaritvā sukkamūlena coditā,
amanāpaṃ na passāmi somanassakataṃ phalaṃ.

Sau khi luân hồi cơi này cơi khác, được khởi đầu với nhân trong sạch con không nh́n thấy điều không vừa ư; ấy là quả báu đă được thực hiện với tâm hoan hỷ.

 

1179. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
cetopariyañāṇassa vasī homi mahāmuni.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, con đă có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đă có năng lực về trí biết tâm của người khác.

 

1180. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.

Con biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

1181. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāne tatheva ca,
ñāṇaṃ mama mahāvīra uppannaṃ tava santike.

Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ư nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.

 

1182. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của con đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), con sống không c̣n lậu hoặc.

 

1183. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, con đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

1184. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Con đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; con đă thực hành lời dạy của đức Phật.”

 

Itthaṃ sudaṃ Uppaladāyikā bhikkhunī bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Uppaladāyikā trước mặt đức Thế Tôn đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Uppaladāyikātheriyāpadānaṃ tatiyaṃ.

Kư sự về trưởng lăo ni Uppaladāyikā là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

 

34. Sigālamātāpadānaṃ

34. Kư Sự về Sigālamātā:[2]

 

***

 

1185. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.

Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lănh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đă hiện khởi.

 

1186. Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ jātā ’maccakule ahuṃ,
nānāratanapajjote iddhe phīte mahaddhane.

Khi ấy, con đă được sanh ra tại Haṃsavatī, trong gia đ́nh vị quan cận thần được rạng rỡ với châu báu khác loại, sung túc, thịnh vượng, có đại tài sản.

 

1187. Pitunā saha gantvāna mahājanapurakkhatā,
dhammaṃ buddhassa sutvāna pabbajiṃ anagāriyaṃ.

Sau khi cùng với người cha dẫn đầu đám đông người đi đến và lắng nghe Giáo Pháp của đức Phật, con đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.

 

1188. Pabbajitvāna kāyena pāpakammaṃ vivajjayiṃ,
vacīduccaritaṃ hitvā ājīvaṃ parisodhayiṃ.

Sau khi xuất gia, con đă lánh xa nghiệp ác do thân. Sau khi từ bỏ sở hành xấu xa về lời nói, con đă thanh lọc sự nuôi mạng sống.

 

1189. Buddhe pasannā dhamme ca saṅghe ca tibbagāravā,
saddhammasavane yuttā buddhadassanalālasā.

Con được tịnh tín với đức Phật, có sự tôn sùng Giáo Pháp và Hội Chúng. Con được gắn bó với việc nghe Chánh Pháp và có ḷng khao khát về việc nh́n thấy đức Phật. à hôu khi tuī Mu.ồi

 

1190. Aggaṃ saddhādhimuttānaṃ assosiṃ bhikkhuniṃ tadā,
taṃ ṭhānaṃ patthayitvāna tisso sikkhā apūrayiṃ,
tato maṃ sugato āha karuṇānugatāsayo.

Khi ấy, con đă nghe về vị tỳ khưu ni đứng đầu trong số các vị ni có khuynh hướng về đức tin. Sau khi ước nguyện vị thế ấy, con đă làm tṛn đủ Tam Học. Do đó, đấng Thiện Thệ với tâm tư thuận theo ḷng bi mẫn đă nói với con rằng:

 

1191. “Yassa saddhā tathāgate acalā suppatiṭṭhitā,
sīlaṃ ca yassa kalyāṇaṃ ariyakantaṃ pasaṃsitaṃ.

Đức tin đối với đức Như Lai của người nào là không bị lay chuyển, khéo được thiết lập, và giới của người nào là tốt đẹp, tương xứng với bậc Thánh, được ngợi khen.

 

1192. Saṅghe pasādo yassatthi ujubhūtaṃ ca dassanaṃ,
adaḷiddoti taṃ āhu amoghaṃ tassa jīvitaṃ.

Người nào có niềm tịnh tín vào Hội Chúng và có sự nhận thức ngay thẳng, người ta nói về vị ấy là ‘kẻ không nghèo,’ đời sống của vị ấy là không vô ích.

 

1193. Tasmā saddhaṃ ca sīlaṃ ca pasādaṃ dhammadassanaṃ,
anuyuñjetha medhāvī saraṃ buddhānasāsanaṃ.”

V́ thế, người sáng suốt, trong khi ghi nhớ lời dạy của chư Phật, hăy gắn bó với đức tin, giới, niềm tịnh tín, và việc nhận thức Giáo Pháp.”

 

1194. Taṃ sutvā ’haṃ pamuditā apucchiṃ paṇidhiṃ mama,
tadā anomo amito vyākarittha vināyako.

Sau khi nghe điều ấy, được hoan hỷ con đă hỏi về điều phát nguyện của con. Khi ấy, đấng Hướng Đạo tối cao vô lượng đă chú nguyện rằng:

 

1195. Buddhe pasannā kalyāṇī lacchase taṃ supatthitaṃ,
satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma nāmena satthā loke bhavissati.

Này người thiện nữ, được tịnh tín vào đức Phật con sẽ đạt được điều đă ước nguyện ấy. Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka, sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

1196. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
sigālakassa mātā ti hessati satthu sāvikā.

(Người n này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người tha t Giáo Pháp ca v (Pht) y, là chánh thng, được to ra t Giáo Pháp, có tên là ‘Mẹ của Sigālaka.’”

 

1197. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ tadā jinaṃ,
mettacittā paricariṃ paṭipattīhi nāyakaṃ.

Nghe được điều ấy, con đă trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái con đă phụng sự đấng Chiến Thắng, bậc Lănh Đạo với các sự hành đạo cho đến hết cuộc đời.

 

1198. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, con đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

 

1199. Pacchime ca bhave ’dāni giribbajapuruttame,
jātā seṭṭhikule phīte mahāratanasañcaye.

Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, con đă được sanh ra ở kinh thành Giribbaja, trong gia đ́nh triệu phú, thịnh vượng, có sự tích lũy các châu báu lớn lao.

 

1200. Putto sigālako nāma mamāsi vipathe rato,
diṭṭhigahanapakkhanto disāpūjanatapparo.

Người con trai của con tên Sigālaka là thích thú vào con đường sái quấy. Trong khi lao theo việc nắm giữ tà kiến, nó có sự nhiệt thành với việc cúng dường các phương hướng.[3]

 

1201. Nānādisā namassantaṃ piṇḍāya nagaraṃ vajaṃ,
taṃ disvā ovadī buddho magge ṭhatvā vināyako.

Trong khi đi vào thành phố để khất thực, đức Phật bậc có sự giáo huấn, sau khi nh́n thấy nó đang lễ bái các phương hướng khác nhau, đấng Hướng Đạo đă thiết lập Đạo Lộ.

 

1202. Tassa desayato dhammaṃ ninādo vimhayo ahu,
dvekoṭinaranārīnaṃ dhammā ’bhisamayo ahu.

Trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp, âm điệu của Ngài đáng kinh ngạc. Đă có sự lănh hội Giáo Pháp của hai koṭi người nam và người nữ.[4]

 

1203. Tadāhaṃ parisaṃ gantvā sutvā sugatabhāsitaṃ,
sotāpattiphalaṃ pattā pabbajiṃ anagāriyaṃ.

Khi ấy, con đă đi đến đám đông và đă lắng nghe lời thuyết giảng của đức Thiện Thệ. Con đă đạt đến quả vị Nhập Lưu và đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.

 

1204. Na cireneva kālena buddhadassanalālasā,
anussatiṃ taṃ bhāvetvā arahattaṃ apāpuṇiṃ.

Có ḷng khao khát về việc nh́n thấy đức Phật, sau khi tu tập pháp tùy niệm ấy trong thời gian không bao lâu, con đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

 

1205. Dassanatthāya buddhassa sabbadāva vajāmahaṃ,
atittāyeva passāmi rūpaṃ nayananandanaṃ.

Con luôn thường xuyên đi đến nhằm mục đích chiêm ngưỡng đức Phật. Con nh́n không biết chán diện mạo có sự hoan hỷ ở đôi mắt.

 

1206. Sabbapāramisambhūtaṃ lakkhīnilayanaṃ varaṃ,
rūpaṃ sabbasubhākiṇṇaṃ atittā viharāmahaṃ.

Con sống, không biết chán với sắc thân cao quư, được hiện hữu với tất cả các pháp toàn hảo, được phân bố với mọi sự tốt lành, là nơi chứa đựng các điều may mắn.

 

1207. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho etadagge ṭhapesi maṃ,
“Sigālakassa yā mātā aggā saddhādhimuttikā.”

Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đă thiết lập con vào vị thế tối thắng: “Mẹ của Sigālaka là vị có khuynh hướng về đức tin hạng nhất.

 

1208. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
cetopariyañāṇassa vasī homi mahāmuni.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, con đă có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đă có năng lực về trí biết tâm của người khác.

 

1209. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.

Con biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

1210. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāne tatheva ca,
ñāṇaṃ mama mahāvīra uppannaṃ tava santike.

Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ư nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.

 

1211. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của con đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), con sống không c̣n lậu hoặc.

 

1212. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, con đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

1213. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Con đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; con đă thực hành lời dạy của đức Phật.”

 

Itthaṃ sudaṃ Sigālamātā bhikkhunī bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Sigālamātā trước mặt đức Thế Tôn đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Sigālamātātheriyāpadānaṃ catutthaṃ.

Kư sự về trưởng lăo ni Sigālamātā là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

 

35. Sukkāpadānaṃ

35. Kư Sự về Sukkā:

 

***

 

1214. Ekanavute ito kappe vipassī nāma nāyako,
uppajji cārunayano sabbadhammavipassako.

Trước đây chín mươi mốt kiếp, đă hiện khởi đấng Lănh Đạo tên Vipassī, là vị có ánh mắt thu hút, là vị thấy rơ tất cả các pháp.

 

1215. Tadā ’haṃ bandhumatiyaṃ jātā aññatare kule,
dhammaṃ sutvāna munino pabbajiṃ anagāriyaṃ.

Khi ấy, con đă được sanh ra trong một gia đ́nh nọ tại (thành) Bandhumatī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của bậc Hiền Triết, con đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.

 

1216. Bahussutā dhammadharā paṭibhānavatī tathā,
vicittakathikā cāpi jinasāsanakārikā.

Là người nghe nhiều (học rộng), thông thạo Giáo Pháp, tài biện giải cũng như thế, là vị thuyết giảng hay, và cũng là người thực hành theo lời dạy của đấng Chiến Thắng.

 

1217. Tadā dhammakathaṃ katvā janatāya hitaṃ bahuṃ,
tato cutā ’haṃ tusitaṃ upapannā yasassinī.

Khi ấy, sau khi đă thực hiện việc thuyết Pháp được lợi ích cho loài người rất nhiều. Từ nơi ấy chết đi, con đă đạt đến cơi trời Đẩu Suất, có được danh tiếng.

 

1218. Ekatiṃse ito kappe sikhī viya sikhī jino,
tapanto yasasā loke uppajji vadataṃ varo.

Trước đây ba mươi mốt kiếp, trong số các vị đang thuyết giảng đă hiện khởi ở thế gian bậc Chiến Thắng Sikhī cao quư, chói sáng với danh tiếng như là ngọn lửa.

 

1219. Tadāpi pabbajitvāna buddhasāsanakovidā,
jotetvā jinavākyāni tatopi tidivaṃ gatā.

Khi ấy, sau khi cũng đă xuất gia, là vị rành rẽ về lời dạy của đức Phật, con đă làm rạng rỡ những lời giảng của đấng Chiến Thắng, sau đó cũng đă đi về cơi Đạo Lợi.

 

1220. Ekatiṃse ito kappe vessabhū nāma nāyako,
uppajjittha mahāñāṇī tadāpi ca tathevahaṃ.

Trước đây ba mươi mốt kiếp, đấng Lănh Đạo tên Vessabhū có đại trí tuệ đă hiện khởi. Và cũng vào lúc ấy, con đă được sanh ra giống y như thế.

 

1221. Pabbajitvā dhammadharā jotayiṃ jinasāsanaṃ,
gantvā marupuraṃ rammaṃ anubhosiṃ mahāsukhaṃ.

Sau khi xuất gia, thông thạo Giáo Pháp, con đă làm rạng rỡ lời dạy của đấng Chiến Thắng. Sau khi đi đến thành phố chư thiên xinh đẹp, con đă thọ hưởng lạc thú lớn lao.

 

1222. Imamhi bhaddake kappe kakusandho jinuttamo,
uppajji narasaddūlo tadāpi ca tathevahaṃ.

Trong kiếp Bhadda này, đấng Chiến Thắng tối thượng Kakusandha, vị Nhân Báo đă hiện khởi. Và cũng vào lúc ấy, con đă được sanh ra giống y như thế.

 

1223. Pabbajitvā munimataṃ jotayitvā yathāyukaṃ,
tato cutā ’haṃ tidivaṃ agaṃ sabhavanaṃ yathā.

Sau khi xuất gia, con đă làm rạng rỡ quan điểm của bậc Hiền Triết cho đến hết tuổi thọ. Từ nơi ấy chết đi, con đă đi đến cơi trời Đạo Lợi tợ như đi đến chỗ ngụ của ḿnh.

 

1224. Imasmiṃ yeva kappamhi koṇāgamana nāyako,
uppajji lokasaraṇo sabbasattānamuttamo.

Chính ở trong kiếp này, đă hiện khởi đấng Lănh Đạo Koṇāgamana, là nơi nương nhờ của thế gian, là bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh.

 

1225. Tadāpi pabbajitvāna sāsane tassa tādino,
bahussutā dhammadharā jotayiṃ jinasāsanaṃ.

Cũng vào khi ấy, sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của vị như thế ấy, là người nghe nhiều (học rộng), thông thạo Giáo Pháp, con đă làm rạng rỡ lời dạy của đấng Chiến Thắng.

 

1226. Imasmiṃyeva kappamhi kassapo purisuttamo,
uppajji lokanayano araṇo maraṇantagū.

Chính ở trong kiếp này, đă hiện khởi bậc Tối Thượng Nhân Kassapa, là con mắt của thế gian, không dục vọng, vị đạt đến điểm cuối cùng của sự chết.

 

1227. Tassāpi naravīrassa pabbajitvāna sāsane,
pariyāputasaddhammā paripucchāvisāradā.

Con cũng đă xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng của loài người ấy, có Chánh Pháp đă được học tập, là khôn khéo trong việc chất vấn.


1228. Susīlā lajjinī ceva tīsu sikkhāsu kovidā,
bahuṃ dhammakathaṃ katvā yāvajīvaṃ hitāvahaṃ.

Có giới tốt đẹp, có sự khiêm tốn, và rành rẽ về Tam Học (giới, định, tuệ). Con đă nhiều lần thực hiện việc thuyết Pháp đem lại điều lợi ích cho đến hết cuộc đời.

 

1229. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, con đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

 

1230. Pacchime ca bhave ’dāni giribbajapuruttame,
jātā seṭṭhikule phīte mahāratanasañcaye.

Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, con đă được sanh ra tại kinh thành Giribbaja, trong gia đ́nh triệu phú, thịnh vượng, có sự tích lũy châu báu lớn lao.

 

1231. Yadā bhikkhusahassena parito lokanāyako,
upāgami rājagahaṃ sahassakkhena vaṇṇito.

Vào lúc ấy, được tháp tùng bởi một ngàn vị tỳ khưu, đấng Lănh Đạo Thế Gian đă đi vào thành Rājagaha, và đă được ca ngợi bởi vị có ngàn mắt (trời Sakka):

 

1232. “Danto dantehi saha purāṇajaṭilehi vippamutto vippamuttehi,
siṅgīnikkhasavaṇṇo rajāgahaṃ pāvisi bhagavā.”

Là bậc đă chế ngự cùng với các vị đă được chế ngự, bậc đă giải thoát cùng với các vị đă được giải thoát trước đây là các đạo sĩ tóc bện, đức Thế Tôn có màu da tợ như vàng đă đi vào thành Rājagaha.”[5]

 

1233. Disvā buddhānubhāvaṃ taṃ sutvā ca guṇasañcayaṃ,
buddhe cittaṃ pasādetvā pūjayiṃ taṃ yathābalaṃ.

Sau khi nh́n thấy oai lực ấy của đức Phật, và sau khi lắng nghe sự tích lũy về đức hạnh, con đă có tâm tịnh tín ở đức Phật và đă cúng dường Ngài tùy theo năng lực.

 

1234. Aparena ca kālena dhammadinnāya santike,
agārā nikkhamitvāna pabbajiṃ anagāriyaṃ.

Và vào thời điểm khác, trong sự hiện diện của vị ni Dhammadinnā, con đă rời khỏi gia đ́nh và đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.

 

1235. Kesesu chijjamānesu kilese jhāpayiṃ ahaṃ,
uggahiṃ sāsanaṃ sabbaṃ pabbajitvā ’cirenahaṃ.

Trong khi các sợi tóc đang được cạo, con đă tham thiền về các phiền năo. Sau khi xuất gia không bao lâu, con đă học xong toàn bộ Giáo Pháp.

 

1236. Tato dhammamadesesiṃ mahājanasamāgame,
dhamme desiyamānamhi dhammābhisamayo ahu.

Sau đó, con đă thuyết giảng Giáo Pháp ở hội chúng đông người. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng, đă có sự lănh hội Giáo Pháp ...


1237. Nekapāṇasahassānaṃ taṃ viditvā ’tivimhito,
abhippasanno me yakkho bhamitvāna giribbajaṃ.

... của nhiều ngàn người. Sau khi biết được điều đó, có con Dạ-xoa vô cùng ngạc nhiên đă có ḷng tịnh tín cao đối với con và đă đi quanh thành Giribbaja.

 

1238. “Kiṃ’me katā rājagahe manussā madhu pītāva acchare,
ye sukkaṃ na upāsanti desentiṃ amataṃ padaṃ.

Trời ơi! Những người dân ở Rājagaha đă làm ǵ như là đă uống mật ong mà không đi đến vị ni Sukkā đang thuyết giảng đạo lộ Bất Tử?

 

1239. Tañca appaṭivānīyaṃ asecanakamojavaṃ,
pivanti maññe sappaññā valāhakamivaddhagū.”

Và việc ấy là không nên cưỡng lại, là có hương vị ngọt ngào. Những người có trí tuệ nghĩ đến ‘việc uống’ (Giáo Pháp ấy) tợ như người lữ hành nghĩ đến đám mây.”

 

1240. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
cetopariyañāṇassa vasī homi mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, con đă có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đă có năng lực về trí biết tâm của người khác.

 

1241. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo. 

Con biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

1242. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāne tatheva ca,
ñāṇaṃ mama mahāvīra uppannaṃ tava santike.

Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ư nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.

 

1243. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của con đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), con sống không c̣n lậu hoặc.

 

1244. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, con đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

1245. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Con đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; con đă thực hành lời dạy của đức Phật.”

 

Itthaṃ sudaṃ Sukkā bhikkhunī bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Sukkā trước mặt đức Thế Tôn đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Sukkātheriyāpadānaṃ pañcamaṃ

Kư sự về trưởng lăo ni Sukkā là phần thứ năm.

 

Pañcamaṃ bhāṇavāraṃ.

Tụng Phẩm thứ năm.

 

--ooOoo--

 

 

36. Rūpanandāpadānaṃ

36. Kư Sự về Rūpanandā:

 

***

 

1246. Ekanavute ito kappe vipassī nāma nāyako,
uppajji cārunayano sabbadhammesu cakkhumā.

Trước đây chín mươi mốt kiếp, đă hiện khởi đấng Lănh Đạo tên Vipassī, là vị có ánh mắt thu hút, là vị Hữu Nhăn về tất cả các pháp.

 

1247. Tadā ’haṃ bandhumatiyaṃ iddhe phīte mahākule,
jātā surūpā dayitā pūjanīyā janassa ca.

Khi ấy, con đă được sanh ra ở Bandhumatī, trong gia tộc lớn, sung túc, thịnh vượng, có sắc đẹp, được yêu quư, và xứng đáng sự tôn vinh của dân chúng.

 

1248. Upagantvā mahāvīraṃ vipassiṃ lokanāyakaṃ,
dhammaṃ suṇitvā saraṇaṃ upesiṃ naranāyakaṃ

Con đă đi đến đấng Đại Hùng, vị Lănh Đạo Thế Gian Vipassī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp, con đă đến nương nhờ vào vị Lănh Đạo của nhân loại.

 

1249. Sīlesu saṃvutā hutvā nibbute ca naruttame,
dhātuthūpassa upari soṇṇacchattaṃ apūjayiṃ.

Con đă thu thúc trong các giới. Và khi đấng Tối Thượng Nhân Niết Bàn, con đă cúng dường chiếc lọng che bằng vàng ở bên trên ngôi bảo tháp xá-lợi.

 

1250. Muttacāgā sīlavatī yāvajīvaṃ tato cutā,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsūpagā ahaṃ.

Có sự xả bỏ được mở ra, có giới hạnh cho đến hết cuộc đời, rồi từ nơi ấy con đă chết đi. Sau khi từ bỏ thân nhân loại, con đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

 

1251. Tadā dasahi ṭhānehi adhibhotvāna sesake,
rūpasaddehi gandhehi rasehi phusanehi ca.

Khi ấy, con đă hưởng thụ mười điều thừa thải là: các sắc, các thinh, các hương, các vị, các xúc, ...

 

1252. Āyunāpi ca vaṇṇena sukhena yasasāpi ca,
tathevādhipateyyena adhigayha virocahaṃ.

... cùng với tuổi thọ, sắc đẹp, sung sướng, danh vọng, và quyền uy là tương tợ y như thế. Sau khi vượt trội, con đă huy hoàng.

 

1253. Pacchime ca bhave ’dāni jātāhaṃ kapilavhaye,
dhītā khemakasakkassa nandānāmā ’ti vissutā.

Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, con đă được sanh ra ở thành Kapila, là con gái của Khemaka ḍng Sakya, được nổi danh với tên là Nandā.

 

1254. Abhirūpaṃ upapadaṃ ahu me kantisūcakaṃ,
yadā ’haṃ yobbanappattā rūpalāvaññabhūsitā. 

Sắc đẹp tuyệt trần là tên hiệu công nhận về vẻ yêu kiều của con. Khi đạt đến tuổi trưởng thành, con đă được điểm tô với sắc đẹp mặn mà.

 

1255. Tadā mamatthaṃ sakyānaṃ vivādo sumahā ahu,
pabbājesi tato tāto mā sakyā vinassisuṃti.

Khi ấy, sự tranh căi giữa các vị ḍng Sakya về việc của con đă trở nên vô cùng trầm trọng. Do đó, cha đă khiến (con) xuất gia: “Chớ để ḍng Sakya bị hủy hoại.”

 

1256. Pabbajitvā tathāgataṃ rūpadessiṃ naruttamaṃ,
sutvāna nopagacchāmi mama rūpena gabbitā.

Sau khi xuất gia, nghe rằng đức Như Lai bậc Tối Thượng Nhân là người có sự chỉ trích về sắc thân, tự hào về sắc đẹp của ḿnh con đă không đến (gặp Ngài).

 

1257. Ovādampi na gacchāmi buddhadassanabhīrukā,
tadā jino upāyena upanetvā sasantikaṃ.

E ngại về việc diện kiến đức Phật, con cũng không đi về việc giáo giới. Khi ấy, bằng phương kế đấng Chiến Thắng đă đưa (con) đến gặp Ngài.

 

1258. Tisso ’tthiyo nidassesi iddhiyā maggakovido,
accharārūpasadisaṃ taruṇiṃ jaritaṃ mataṃ.

Nhờ vào thần thông, bậc rành rẽ về Đạo Lộ đă thị hiện ra ba người phụ nữ có sắc đẹp tương tợ tiên nữ, c̣n trẻ tuổi, bị già, và bị chết.

 

1259. Tāyo disvā susaṃviggā virattā se kalebare,
aṭṭhāsiṃ bhavanibbinnā tadā maṃ āha nāyako.

Sau khi nh́n thấy ba người nữ ấy, bị vô cùng chấn động, không c̣n tham ái ở xác thân, con đă ổn định, đă nhàm chán hiện hữu. Khi ấy, bậc Lănh đạo đă nói với con rằng:

 

1260. “Āturaṃ asuciṃ pūtiṃ passa nande samussayaṃ,      

uggharantaṃ paggharantaṃ bālānaṃ abhinanditaṃ.

Này Nandā, hăy xem xét thân thể bệnh hoạn, bất tịnh, hôi thối, đang tiết ra, đang ṛ rỉ lại được hứng thú đối với những kẻ ngu.

 

1261. Asubhāya cittaṃ bhāvehi ekaggaṃ susamāhitaṃ,
yathā idaṃ tathā etaṃ yathā etaṃ tathā idaṃ.

Nàng hăy tu tập tâm được chuyên nhất khéo tập trung về đề mục bất mỹ (tử thi), thân này như thế nào th́ xác kia như vậy.

 

1262. Evametaṃ avekkhantī rattindivamatanditā,
tato sakāya paññāya abhinibbijja vacchasi.”

Trong khi quán xét xác thân này như thế, ngày và đêm không mệt mỏi, sau đó với tuệ của chính ḿnh nàng hăy nhàm chán rồi an trú.”

 

1263. Tassā me appamattāya viharantyā ’dha yoniso,
yathābhūtaṃ ayaṃ kāyo diṭṭho santarabāhiro.

Trong khi con đây đang sống không xao lăng ở nơi đây một cách đúng đắn, thân xác này đă được nh́n thấy bên trong lẫn bên ngoài đúng theo thực thể.

 

1264. Atha nibbind’ ahaṃ kāye ajjhattaṃ ca virajj’ ahaṃ,
appamattā visaṃyuttā upasantā ’mhi nibbutā.

Khi ấy, con đă nhàm chán về thân, và con đă ly tham nội phần. Con không xao lăng, không vướng bận, an tịnh, Niết Bàn.

 

1265. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
cetopariyañāṇassa vasī homi mahāmune.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, con đă có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đă có năng lực về trí biết tâm của người khác.

 

1266. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
sabbāsavā parikkhīṇā natthi ’dāni punabbhavo.

Con biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

1267. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāne tatheva ca,
ñāṇaṃ mama mahāvīra uppannaṃ tava santike. 

Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ư nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.

 

1268. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của con đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), con sống không c̣n lậu hoặc.

 

1269. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, con đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức PhN