***
639. Padamuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.
Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lănh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đă hiện khởi.
640. Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ jātā seṭṭhikule ahuṃ,
nānāratanapajjote mahāsukhasamappite.
Khi ấy, tôi đă được sanh ra tại Haṃsavatī, trong gia đ́nh triệu phú được rạng rỡ bởi vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao.
641. Upetvā taṃ mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ,
tato jātappasādā ’haṃ upesiṃ saraṇaṃ jinaṃ.
Tôi đă đi đến đấng Đại Hùng ấy và đă lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, có niềm tịnh tín sanh khởi, tôi đă đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng.
642. Tadā mahākāruṇiko padumuttaranāmako,
khippābhiññānamaggatte ṭhapesi bhikkhuniṃ subhaṃ.
Khi ấy, đấng Đại Bi tên Padumuttara đă thiết lập tỳ khưu ni Subhā vào vị thế tối thắng trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén.
643. Taṃ sutvā muditā hutvā dānaṃ datvā
mahesino,
nipajja sirasā pāde taṃ ṭhānaṃ abhipatthayiṃ.
Sau khi nghe điều ấy, tôi đă trở nên hoan hỷ và đă dâng cúng vật thí đến bậc Đại Ẩn Sĩ, rồi đă quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đă phát nguyện vị thế ấy.
644. Anumodi mahāvīro bhadde yaṃ te
’bhipatthitaṃ,
samijjhissati taṃ sabbaṃ sukhinī hohi nibbutā.
Đấng Đại Hùng đă nói lời tùy hỷ rằng: “Này cô gái hiền thục, điều nào đă được con ước nguyện toàn bộ điều ấy sẽ được thành tựu. Hăy được an lạc, hăy được Niết Bàn.
645. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.
Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
646. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
bhaddā kuṇḍakesāti hessasi satthusāvikā.
(Người nữ này) sẽ là Bhaddā Kuṇḍakesā, nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp.”
647. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
648. Tato cutā yāmamagā tato ’haṃ tusitaṃ gatā,
tato ca nimmāṇaratiṃ vasavattipuraṃ tato.
Từ nơi ấy chết đi, tôi đă đi đến cơi trời Dạ Ma, từ đó đă đi đến cơi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cơi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cơi Tha Hóa Tự Tại.
649. Yattha yatthūpapajjāmi tassa kammassa
vāhasā,
tattha tattheva rājūnaṃ mahesittamakārayiṃ.
Do tác động của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đă được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.
650. Tato cutā manussesu rājūnaṃ vasavattinaṃ,
maṇḍalīnañca rājūnaṃ mahesittamakārayiṃ.
Từ nơi ấy chết đi, ở giữa loài người tôi đă được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua có quyền lực và của các vị vua có lănh thổ.
651. Sampattiṃ anubhotvāna devesu mānusesu ca,
sabbattha sukhitā hutvā nekakappesu saṃsariṃ.
Tôi đă thọ hưởng sự thành công ở giữa chư thiên và nhân loại, tôi đă được an vui ở trong mọi nơi, tôi đă luân hồi vô số (đại) kiếp.
652. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu
mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.
Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đă hiện khởi đấng cao quư tên Kassapa, thuộc ḍng dơi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
653. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasi puruttame.
Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
654. Tassa dhītā catutth’ āsiṃ bhikkhudāsīti
vissutā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.
Tôi đă là người con gái thứ tư của vị (vua) ấy được nổi danh là “Bhikkhudāsī.” Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đă xin xuất gia.
655. Anujāni na no tāto agāreva tadā mayaṃ,
vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā.
Cha đă không cho phép chúng tôi. Khi ấy, dầu chỉ là người tại gia chúng tôi đă đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.
656. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhupaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro.
Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đă vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
657. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī
bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.
Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
658. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ahaṃ tathā,
kisāgotamī dhammadinnā visākhā hoti sattamī.
Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, thêm vào tôi, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
659. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do các nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
660. Pacchime ca bhave dāni giribbajapuruttame,
jātā seṭṭhikule phīte yadā ’haṃ yobbane ṭhitā.
Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đă được sanh ra tại kinh thành Giribbaja, trong gia đ́nh triệu phú thịnh vượng. Rồi đến lúc tôi đă ở vào lứa tuổi thanh xuân.
661. Coraṃ vadhatthaṃ nīyantaṃ disvā rattā tahiṃ
ahaṃ,
pitā me taṃ sahassena mocayitvā vadhā tato.
Sau khi nh́n thấy kẻ trộm đang bị dẫn đi để xử tử, tôi đă bị luyến ái với gă. Do đó, cha của tôi đă giải cứu gă ấy khỏi cái chết bằng ngàn đồng tiền.
662. Adāsi tassa maṃ tāto viditvāna manaṃ mama,
tassāhamāsiṃ vissatthā atīva dayitā hitā.
Sau khi biết được tâm ư của tôi, cha đă ban gă ấy cho tôi. Tôi đă trở nên thân thiết, vô cùng yêu thương, gắn bó đối với gă ấy.
663. So me bhūsanalobhena khalitajjhāsayo diso,
corappapātaṃ netvāna pabbataṃ cetayī vadhaṃ.
V́ ḷng tham đối với các đồ trang sức của tôi, gă nghịch thù ấy có ư định gây tội đă đưa (tôi) đến ngọn núi có vực thẳm Kẻ Trộm và đă nghĩ đến việc giết hại.
664. Tadā ’haṃ paṇamitvāna bhattukaṃ
sukatañjalī,
rakkhantī attano pāṇaṃ idaṃ vacanamabraviṃ:
Khi ấy, trong lúc bảo vệ mạng sống của ḿnh, tôi đă cúi lạy, nghiêm chỉnh chắp tay lại với người chồng, và đă nói lời nói này:
665. “Idaṃ suvaṇṇaṃ keyūraṃ muttā veḷuriyā bahū,
sabbaṃ harassu bhaddante mañca dāsīti sāvaya.”
“Thưa tướng công, vàng ṿng ngọc trai ngọc bích này có nhiều, xin chàng hăy tự mang đi tất cả. Và hăy thông báo rằng thiếp là ‘Nô tỳ.’”
666. Oropayassu kalyāṇi mā bāḷhaṃ paridevasi,
na cāhaṃ abhijānāmi ahantvā dhanamābhataṃ.”
“Này người đẹp, nàng phải chết. Chớ than văn nhiều quá. Và ta biết chắc rằng không giết th́ tài sản không mang đi được.”
667. “Yato sarāmi attānaṃ yato pattāsmi
viññutaṃ,
na cāhaṃ abhijānāmi aññaṃ piyataraṃ tayā.
“Kể từ khi thiếp ghi nhớ được bản thân, kể từ khi thiếp đạt được sự hiểu biết, và thiếp biết chắc rằng không ai khác được yêu thương hơn là chàng.
668. Ehi taṃ upagūhissaṃ kassañca taṃ
padakkhiṇaṃ,
na ca dāni puno atthi mama tuyhañca saṅgamo.
Xin chàng hăy đến, thiếp sẽ ôm lấy chàng và sẽ nhiễu quanh chàng. Và giờ đây không c̣n có sự gần gũi nào giữa thiếp và chàng nữa.”
669. Na hi sabbesu ṭhānesu puriso hoti paṇḍito,
itthīpi paṇḍitā hoti tattha tattha vicakkhaṇā.
Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ có sự cẩn thật nhiều bề cũng là khôn ngoan.
670. Na hi sabbesu ṭhānesu puriso hoti paṇḍito,
itthīpi paṇḍitā hoti lahuṃ atthavicintakā.
Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ cân nhắc điều lợi ích một cách mau chóng cũng là khôn ngoan.
671. Lahuñca vata khippañca nikiṭṭhe
samacetayiṃ,
migamuṇṇā yathā evaṃ tadā ’haṃ sattukaṃ vadhiṃ.
Quả nhiên, một cách nhẹ nhàng và mau chóng tôi đă suy nghĩ mưu kế. Giống như bộ lông (giết chết) con thú, khi ấy tôi đă giết chết gă Sattuka như thế.
672. Yo ca uppatitaṃ atthaṃ na
khippamanubujjhati,
so haññate mandamati corova girigabbhare.
Và người nào không mau chóng nhận ra điều lợi ích đă bị vuột mất, người có trí kém cỏi ấy sẽ bị giết như là kẻ trộm ở hẻm núi.
673. Yo ca uppatitaṃ atthaṃ khippameva
nibodhati,
muccate sattusambādhā tadā ’haṃ sattukā yathā.
Và người nào thật mau chóng nhận ra điều lợi ích đă bị vuột mất, (người ấy) thoát khỏi sự quấy rối của kẻ thù giống như tôi và Sattuka vào khi ấy vậy.
674. Tadā taṃ pātayitvāna giriduggamhi sattukaṃ,
santikaṃ setavatthānaṃ upetvā pabbajiṃ ahaṃ.
Khi ấy, tôi đă quăng gă Sattuka ấy vào hóc núi, rồi đă đi đến gặp những người (ngoại đạo) mặc vải trắng, và đă xuất gia.
675. Saṇḍāsena ca kese me luñcitvā sabbaso tadā,
pabbājetvā sasamayaṃ ācikkhiṃsu nirantaraṃ.
Và khi ấy, sau khi đă nhổ lên toàn bộ những sợi tóc của tôi bằng nhíp,[1] họ đă cho tôi xuất gia và đă chỉ dạy giáo lư không có gián đoạn.
676. Tato taṃ uggahetvāna nisīditvāna ekikā,
samayaṃ taṃ vicintesiṃ suvāno mānusaṃ karaṃ.
677. Chinnaṃ gayha samīpe me pātayitvā apakkami,
disvā nimittamalabhiṃ hatthaṃ taṃ puḷavākulaṃ.
Tôi đă học xong (giáo lư) ấy từ họ. Tôi đă ngồi xuống mỗi một ḿnh và đă suy xét về (giáo lư) ấy. Có con chó tha bàn tay của con người bị đứt ĺa và đă nhả ở cạnh tôi rồi đă bỏ chạy. Sau khi nh́n thấy dấu hiệu, tôi đă nhặt lấy bàn tay có đầy ḍi bọ ấy.
678. Tato vuṭṭhāya saṃviggā apucchiṃ
sahadhammike,
te avocuṃ: “Vijānanti tamatthaṃ sakyabhikkhavo.”
Sau khi từ chỗ ấy đứng dậy, bị chấn động tôi đă hỏi những người đồng đạo. Họ đă nói rằng: “Những vị tỳ khưu ḍng Sakya biết rơ ư nghĩa ấy.”
679. Sāhaṃ tamatthaṃ pucchissaṃ upetvā
buddhasāvake,
te mamādāya gacchiṃsu buddhaseṭṭhassa santikaṃ.
(Nghĩ rằng) “Ta sẽ hỏi ư nghĩa ấy,” tôi đây đă đi đến các vị Thinh Văn của đức Phật. Sau khi đón nhận tôi, các vị ấy đă đi đến bên đức Phật Tối Thượng.
680. So me dhammamadesesi khandhāyatanadhātuyo,
asubhāniccā dukkhāti anattā’ti ca nāyako.
Và đấng Lănh Đạo ấy đă thuyết Pháp cho tôi về: “Uẩn, xứ, giới, đề mục bất mỹ, vô thường, khổ năo, vô ngă.”
681. Tassa dhammaṃ suṇitvā ’haṃ dhammacakkhuṃ
visodhayiṃ,
tato viññātasaddhammā pabbajjaṃ upasampadaṃ.
682. Āyāciṃ so tadā āha “ehi bhadde”ti nāyako,
tadā ’haṃ upasampannā parittaṃ toyamaddasaṃ.
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy, tôi đă làm cho Pháp nhăn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rơ Chánh Pháp, tôi đă yêu cầu sự xuất gia và sự tu lên bậc trên. Khi ấy, đấng Lănh Đạo ấy đă nói rằng: “Này cô gái hiền thục, hăy đến.” Khi ấy, được tu lên bậc trên, tôi đă nh́n thấy một ít nước.
683. Pādapakkhālanenāhaṃ ñatvā sa-udayaṃ vayaṃ,
tathā sabbepi saṅkhārā iti saṃcintayiṃ tadā.
Với sự rửa sạch bàn chân, tôi đă biết được là có sự tiêu hoại với nước. Khi ấy, tôi đă tự suy xét rằng: “Tất cả các hành cũng là tương tợ như thế.”
684. Tato cittaṃ vimucci me anupādāya sabbaso,
khippābhiññānamaggaṃ maṃ tadā paññāpayī jino.
Sau đó, tâm tôi đă được giải thoát trọn vẹn không c̣n chấp thủ. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đă tuyên bố tôi là đứng đầu trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén.
685. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paricittāni jānāmi satthusāsanakārikā.
Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
686. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu
visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddh’ āsiṃ sunimmalā.
Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh. Sau khi đă quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đă được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
687. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa
sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.
Bậc Đạo Sư đă được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đă được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đă được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đă được xóa tan.
688. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.
V́ mục đích nào tôi đă rời khỏi gia đ́nh xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đă được tôi đạt đến.
689. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāṇe tatheva ca,
ñāṇaṃ me vipulaṃ suddhaṃ buddhaseṭṭhassa sāsane.
Trí tuệ của tôi về ư nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là bao la, trong sạch ở trong Giáo Pháp của đức Phật tối thượng.
690. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
691. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa
santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
692. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca
aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ Bhaddā Kuṇḍalakesā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Bhaddā Kuṇḍalakesā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Kuṇḍalakesātheriyāpadānaṃ paṭhamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo ni Bhaddā Kuṇḍalakesā là phần thứ nhất.
--ooOoo--
***
693. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.
Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lănh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đă hiện khởi.
694. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā aññatare kule,
upetvā taṃ naravaraṃ saraṇaṃ samupāgamiṃ.
Khi ấy, tôi đă được sanh ra ở một gia đ́nh nọ trong (thành) Haṃsavatī. Tôi đă đi đến và đă nương nhờ vào bậc Quư Nhân ấy.
695. Dhammañca tassa assosiṃ
catusaccūpasaṃhitaṃ,
madhuraṃ paramassādaṃ vaṭṭasantisukhāvahaṃ.
Và tôi đă lắng nghe Giáo Pháp ngọt ngào của vị ấy, bao gồm bốn Sự Thật, có phẩm vị tối thắng, đưa đến sự an lạc và tịnh lặng của ṿng luân hồi.
696. Tadā ca bhikkhuniṃ vīro
lūkhacīvaradhāriniṃ,
ṭhapento etadaggamhi vaṇṇayī purisuttamo.
Và khi ấy, trong khi thiết lập vị tỳ khưu ni mặc y thô vào vị thế tối thắng, bậc Anh Hùng, đấng Tối Thượng Nhân đă khen ngợi.
697. Janetvānappakaṃ pītiṃ sutvā bhikkhuṇiyā
guṇaṃ,
kāraṃ katvāna buddhassa yathāsattī yathābalaṃ.
Sau khi đă làm sanh lên niềm phỉ lạc không nhỏ nhoi, sau khi lắng nghe đức hạnh của vị tỳ khưu ni, tôi đă làm công việc phục vụ đến đức Phật tùy theo khả năng, tùy theo sức lực.
698. Nipacca munivīraṃ taṃ taṃ
ṭhānamabhipatthayiṃ,
tadānumodi sambuddho ṭhānalābhāya nāyako.
Tôi đă cúi xuống ở bậc Hiền Triết Anh Hùng ấy và đă ước nguyện vị thế ấy. Khi ấy, bậc Toàn Giác, đấng Lănh Đạo đă nói lời tùy hỷ về sự lợi ích của vị thế (ấy):
699. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.
“Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
700. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
gotamī nāma nāmena hessasi satthusāvikā.”
(Người nữ này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Gotamī.”
701. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ tadā
jinaṃ,
mettacittā paricariṃ paccayehi vināyakaṃ.
Nghe được điều ấy, tôi đă trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đă chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
702. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
703. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu
mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.
Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đă hiện khởi đấng cao quư tên Kassapa, thuộc ḍng dơi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
704. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasipuruttame.
Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
705. Pañcamī tassa dhīt’ āsiṃ dhammā nāmena
vissutā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.
Tôi đă là người con gái thứ năm của vị (vua) ấy được nổi danh với tên là Dhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đă xin xuất gia.
706. Anujāni na no tāto agāreva tadā mayaṃ,
vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā.
Cha đă không cho phép chúng tôi. Khi ấy, dầu chỉ là người tại gia chúng tôi đă đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.
707. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhupaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro.
Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đă vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
708. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī
bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.
Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
709. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ca kuṇḍalā,
ahaṃ ceva dhammadinnā visākhā hoti sattamī.
Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, tôi, luôn cả Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
710. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Do các nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
711. Pacchime ca bhavedāni jātā seṭṭhikule ahaṃ,
duggate adhane naṭṭhe gatā ca sadhanaṃ kulaṃ.
Và trong kiếp cuối cùng hiện nay, tôi đă được sanh ra trong gia đ́nh triệu phú bị lâm cảnh khốn cùng, không tài sản, bị khánh tận, và tôi đă được gả vào gia đ́nh có tài sản.
712. Patiṃ ṭhapetvā sesā disanti adhanā iti,
yadā ca sasutā āsiṃ sabbesaṃ dayitā tadā.
Ngoại trừ người chồng, những người c̣n lại giễu là “Nữ nhân không tài sản.” Và đến khi tôi đă có con trai, khi ấy tôi đă được cảm t́nh của tất cả.
713. Yadā so taruṇo bhadro komalaṅgo sukhedhito,
sapāṇamiva kanto me tadā yamavasaṃ gato.
Vào lúc đứa bé trai hiền hậu ấy, có cơ thể mềm mại, được nuôi dưỡng trong sung sướng, được yêu quư như chính mạng sống của tôi đă đi đến cơi Dạ Ma.
714. Sokaṭṭā dīnavadanā assunettā rudammukhā,
mataṃ kuṇapamādāya vilapantī bhamāmahaṃ.
Bị dằn vặt bởi sầu muộn, có vẻ mặt thê lương, mắt đẫm lệ, miệng khóc than, tôi đă bồng ẳm thi thể đă chết, trong lúc than văn tôi đă đi lang thang.
715. Tadā ekena sandiṭṭhā upetvā bhisajuttamaṃ,
avocaṃ “dehi bhesajjaṃ puttasañjīvananti bho.”
Khi ấy, nhận thức một chiều, tôi đă đi đến vị Đệ Nhất Lương Y và đă nói rằng: “Thưa ông, xin ông hăy cho thuổc đem lại sự sống cho con tôi.”
716. “Na vijjante matā yasmiṃ gehe siddhatthakaṃ
tato,
āharā”ti jino āha vinayopāyakovido.
Đấng Chiến Thắng, bậc rành rẽ về phương thức huấn luyện, đă nói rằng: “Những người chết không được t́m thấy ở tại ngôi nhà nào th́ nàng hăy mang lại hạt cải từ nơi (ngôi nhà) ấy.”
717. Tadā gamitvā sāvatthiyaṃ na labhiṃ tādisaṃ
gharaṃ,
kuto siddhatthakaṃ kasmā tato laddhā satiṃ ahaṃ.
Khi ấy, tôi đă đi ở trong thành Sāvatthī, và đă không đạt được ngôi nhà như thế ấy. Do đó, tôi đă đạt được trí nhớ rằng: “Hạt cải ở đâu, từ nơi đâu?”
718. Kuṇapaṃ chaḍḍayitvāna upesiṃ lokanāyakaṃ,
dūratova mamaṃ disvā avoca madhurassaro.
Sau khi đă quăng bỏ thây chết, tôi đă đi đến đấng Lănh Đạo Thế Gian. Sau khi nh́n thấy tôi từ rất xa, vị có âm giọng ngọt ngào đă nói rằng:
719. “Yo ca vassasataṃ jīve apassaṃ udayabbayaṃ,
ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo passato udayabbayaṃ.
“Và người nào đă sống trăm năm không nh́n thấy sự sanh diệt, cuộc sống một ngày là tốt hơn đối với người đang nh́n thấy sự sanh diệt.[2]
720. Na gāmadhammo no nigamassa dhammo
nacāpayaṃ ekakulassa dhammo,
sabbassa lokassa sadevakassa
esova dhammo yadidaṃ aniccatā.”
Không phải là quy luật thuộc về ngôi làng, không phải là quy luật thuộc về phố chợ, quy luật này cũng không phải thuộc về một gia đ́nh, mà thuộc về tất cả thế gian luôn cả chư thiên; quy luật ấy đấy tức là tính chất vô thường.”
721. Sāhaṃ sutvānimā gāthā dhammacakkhuṃ
visodhayiṃ,
tato viññātasaddhammā pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Sau khi lắng nghe lời kệ này, tôi đây đă làm cho Pháp nhăn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rơ Chánh Pháp, tôi đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.
722. Tathā pabbajitā santī yuñjantī jinasāsane,
na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ.
Đă được xuất gia như thế, có sự thanh tịnh, trong khi gắn bó vào Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, Trong thời gian không bao lâu tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.
723. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paracittāni jānāmi satthusāsanakārikā.
Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
724. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhuṃ
visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddhāsiṃ sunimmalā.
Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh. Sau khi đă quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đă được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
725. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa
sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.
Bậc Đạo Sư đă được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đă được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đă được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đă được xóa tan.
726. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.
V́ mục đích nào tôi đă rời khỏi gia đ́nh xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đă được tôi đạt đến.
727. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāṇe tatheva ca,
ñāṇaṃ me vimalaṃ suddhaṃ buddhaseṭṭhassa vāhasā.
Trí tuệ của tôi về ư nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là trong sạch, không bợn nhơ, nhờ vào sự tác động của đức Phật tối thượng.
728. Saṅkārakūṭā āhatvā susānā rathiyāpi ca,
tato saṅghāṭikaṃ katvā lūkhaṃ dhāremi cīvaraṃ.
Sau khi mang về từ đống rác, từ mộ địa, và thậm chí từ đường lộ, từ đó tôi đă thực hiện y hai lớp và đă mặc y thô.
729. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho lūkhacīvaradhāraṇe,
ṭhapesi etadaggamhi parisāsu vināyako.
Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo, ở giữa các chúng đă thiết lập (tôi) vào vị thế tối thắng trong việc mặc y thô.
730. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
731. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa
santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
732. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ Kisāgotamī bhikkhunī imā gāthāyo
abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Kisāgotamī đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Kisāgotamītheriyāpadānaṃ dutiyaṃ.
Kư sự về trưởng lăo ni Kisāgotamī là phần thứ nh́.
--ooOoo--
***
733. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.
Trước đây một trăm
ngàn kiếp, vị Lănh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất
cả các pháp đă hiện khởi.
734. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ kule aññatare ahuṃ,
parakammakarī āsiṃ nipakā sīlasaṃvutā.
Khi ấy, tôi đă ở trong một gia đ́nh nọ tại thành Haṃsavatī. Tôi đă là người nữ làm thuê khéo léo, ǵn giữ tánh hạnh.
735. Padumuttarabuddhassa sujāto aggasāvako,
vihārā abhinikkhamma piṇḍapātāya gacchati.
Sujāta, vị Thinh Văn hàng đầu của đức Phật Padumuttara, đă rời khỏi trú xá đi khất thực.
736. Ghaṭaṃ gahetvā gacchantī tadā udakahārikā,
taṃ disvā adadiṃ pūvaṃ pasannā sehi pāṇihi.
Là người nữ đội
nước, khi ấy trong lúc cầm lấy bầu nước đang đi, tôi đă nh́n thấy vị ấy, được
tịnh tín, tôi đă dâng (vị ấy) món bánh ngọt bằng hai bàn tay của ḿnh.
737. Paṭiggahetvā tattheva nisinno paribhuñji
so,
tato netvāna taṃ gehaṃ adāsiṃ tassa bhojanaṃ.
Sau khi thọ lănh, vị ấy đă ngồi xuống ngay tại nơi ấy và đă thọ dụng. Sau đó, tôi đă đưa vị ấy về nhà và đă dâng vật thực đến vị ấy.
738. Tato me ayyako tuṭṭho akarī suṇisaṃ sakaṃ,
sassuyā saha gantvāna sambuddhaṃ abhivādayiṃ.
Do đó, người chủ của tôi hoan hỷ đă nhận làm con dâu của ḿnh. Tôi đă cùng với người mẹ chồng đi đến và đă đảnh lễ bậc Toàn Giác.
739. Tadā so dhammakathikaṃ bhikkhuniṃ
parikittayaṃ,
ṭhapesi etadaggasmiṃ taṃ sutvā muditā ahaṃ.
Khi ấy, Ngài đă tán dương và đă thiết lập vị tỳ khưu ni là vị thuyết giảng Giáo Pháp vào vị thế tối thắng. Sau khi nghe được điều ấy, tôi đă vui mừng.
740. Nimantayitvā sugataṃ sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ,
mahādānaṃ daditvāna taṃ ṭhānaṃ abhipatthayiṃ.
Tôi đă thỉnh mời đức Thiện Thệ đấng Lănh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng, rồi đă dâng cúng đại thí và đă ước nguyện vị thế ấy.
741. Tato maṃ sugato āha ghananinnādasussaro,
“Mamupaṭṭhānanirate sasaṅghaṃ parivesike.
742. Saddhammasavaṇe yutte guṇavaḍḍhitamānase,
bhadde bhavassu muditā lacchase paṇidhīphalaṃ.
Do đó, với giọng có âm điệu đều đều vang vang, đấng Thiện Thệ đă nói với tôi rằng: “Này người thiếu nữ hiền thục, được vui thích trong việc hộ độ Ta cùng với hội chúng, là người dâng vật thực, được gắn bó trong việc lắng nghe Chánh Pháp, với tâm ư được tăng trưởng về đức hạnh, con hăy vui mừng, con sẽ đạt được kết quả của điều nguyện ước.
743. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.
Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
744. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
dhammadinnāti nāmena hessasi satthusāvikā.”
(Người nữ này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Dhammadinnā.”
745. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ mahāmuniṃ,
mettacittā paricariṃ paccayehi vināyakaṃ.
Nghe được điều ấy, tôi đă trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đă chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
746. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
747. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu
mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.
Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đă hiện khởi đấng cao quư tên Kassapa, thuộc ḍng dơi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
748. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasipuruttame.
Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
749. Chaṭṭhā tassāsahaṃ dhītā sudhammā iti
vissutā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.
Tôi đă là người con gái thứ sáu của vị (vua) ấy được nổi danh là Sudhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đă xin xuất gia.
750. Nānujānāsi maṃ tāto agāren’ ālayā mayaṃ,
vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā.
Cha đă không cho phép chúng tôi. Có sự ấp ủ về việc không gia đ́nh, chúng tôi đă đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.
Bhāṇavāraṃ tatiyaṃ.
Tụng Phẩm thứ ba.
751. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhūpaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro.
Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đă vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
752. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī
bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.
Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
753. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ca kuṇḍalā,
gotamī ca ahaṃ ceva visākhā hoti sattamī.
Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Gotamī, tôi, và luôn cả Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
754. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do các nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
755. Pacchime ca bhavedāni giribbajapuruttame,
jātā seṭṭhikule phīte sabbakāmasamiddhake.
Và vào kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đă được sanh ra ở kinh thành Giribbaja, trong gia đ́nh triệu phú, thịnh vượng, có sự dồi dào về tất cả các dục lạc.
756. Yadā rūpaguṇopetā paṭhame yobbane ṭhitā,
tadā parakulaṃ gantvā vasiṃ sukhasamappitā.
Vào lúc đạt đến sắc đẹp và đức hạnh, ở vào thời đầu của tuổi thanh xuân, khi ấy tôi đă đi đến gia tộc khác (làm vợ) và đă sống thọ hưởng lạc thú.
757. Upetvā lokasaraṇaṃ suṇitvā dhammadesanaṃ,
anāgāmiphalaṃ patto sāmiko me subuddhimā.
Sau khi đi đến đấng Nương Nhờ của thế gian và đă lắng nghe lời thuyết Pháp, chồng của tôi đă đạt đến quả vị Bất Lai, có trí giác ngộ hoàn hảo.
758. Tadā taṃ anujānetvā pabbajiṃ anagāriyaṃ,
na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ.
Khi ấy, tôi đă thuyết phục vị ấy rồi đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Trong thời gian không bao lâu, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.
759. Tadā upāsako so maṃ upagantvā apucchatha,
gambhīre nipuṇe paññe te sabbe vyākariṃ ahaṃ.
Khi ấy, vị nam cư sĩ ấy đă đi đến tôi và đă hỏi về các tuệ thâm sâu và hoàn hảo. Tôi đă giảng giải về tất cả các điều ấy.[3]
760. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho etadagge ṭhapesi
maṃ,
bhikkhuniṃ dhammakathikaṃ nāññaṃ passāmi edisaṃ.
Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng: “Ta không nh́n thấy vị tỳ khưu ni nào khác là vị thuyết giảng Giáo Pháp như là vị ni này.
761. Dhammadinnā yathā dhīrā evaṃ dhāretha
bhikkhavo,
evāhaṃ paṇḍitā jātā nāyakenānukampitā.
Này các tỳ khưu, Dhammadinnā là vị ni sáng trí như thế nào th́ các ngươi hăy ghi nhớ như thế.” Được đấng Lănh Đạo thương xót, tôi đă trở thành vị ni thông thái như thế.
762. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa
sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.
Bậc Đạo Sư đă được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đă được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đă được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đă được xóa tan.
763. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.
V́ mục đích nào tôi đă rời khỏi gia đ́nh xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đă được tôi đạt đến.
764. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paracittāni jānāmi satthu sāsanakārikā.
Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
765. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu
visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddhāmhi sunimmalā.
Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh. Sau khi đă quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
766. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
767. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa
santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
768. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ Dhammadinnā bhikkhunī imā gāthāyo
abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Dhammadinnā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Dhammadinnātheriyāpadānaṃ tatiyaṃ.
Kư sự về trưởng lăo ni Dhammadinnā là phần thứ ba.
--ooOoo--
***
769. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.
Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lănh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đă hiện khởi.
770. Hitāya sabbasattānaṃ sukhāya vadataṃ varo,
atthāya purisājañño paṭipanno sadevake.
V́ sự tấn hóa, sự lợi ích, ví sự an lạc của tất cả chúng sanh, đấng Siêu Nhân, bậc cao quư trong số các vị đang thuyết giảng đă sanh ra ở thế gian gồm cả thiên giới.
771. Yasaggappatto sirimā vaṇṇakittibhato jino,
pūjito sabbalokassa disā sabbāsu vissuto.
Đấng Chiến Thắng, đă đạt đến danh vọng cao tột, có sự vinh quang, có được sự tán dương ca ngợi, được tôn vinh, được nổi danh ở tất cả các phương của toàn thể thế gian.
772. Uttiṇṇavicikiccho so vītivattakathaṃkatho,
sampuṇṇamanasaṅkappo patto sambodhimuttamaṃ.
Ngài đă vượt lên trên sự hoài nghi, đă vượt qua sự lưỡng lự, đă tṛn đủ tâm tư, đă đạt đến quả Toàn Giác tối thượng.
773. Anuppannassa maggassa uppādetā naruttamo,
anakkhātañca akkhāsi asañjātañca sañjanī.
Đấng Tối Thượng Nhân là người khai mở con đường chưa được khai mở, là vị đă nói về điều chưa được nói đến, và đă nhận thức điều chưa được nhận thức.
774. Maggaññū ca maggavidū maggakkhāyī
narāsabho,
maggassa kusalo satthā sārathīnaṃ varuttamo.
Đấng Nhân Ngưu là vị biết được Đạo lộ, là vị rành mạch về Đạo lộ, là vị thuyết về Đạo lộ. Được thiện xảo về Đạo lộ, đấng Đạo Sư là cao quư tối thượng trong số các bậc điều ngự (người điều khiển xe).
775. Mahākāruṇiko satthā dhammaṃ desesi nāyako,
nimugge kāmapaṅkamhi samuddharati pāṇino.
Đấng Đại Bi, bậc Đạo Sư, vị Lănh Đạo đă thuyết giảng Giáo Pháp. Ngài kéo lên những chúng sanh (đang) bị đắm ch́m trong đầm lầy ái dục.
776. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā
khattiyanandanā,
surūpā sadhanā cāsiṃ dayitā ca sirīmatī.
Khi ấy, tôi đă được sanh ra ở tại Haṃsavatī, là niềm hoan hỷ của ḍng Sát-đế-lỵ. Và tôi đă có sắc đẹp tuyệt vời, có tài sản, được yêu quư, và có sự vẻ vang.
777. Ānandassa mahārañño dhītā paramasobhanā,
vemātu bhaginī cāpi padumuttaranāmino.
Là người con gái vô cùng xinh đẹp của vị đại vương Ānanda, và cũng là người em gái khác mẹ của vị (Phật) tên Padumuttara.
778. Rājakaññāhi sahitā sabbābharaṇabhūsitā,
upagamma mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ.
Được tháp tùng bởi các người con gái của đức vua, được trang điểm với tất cả các đồ trang sức, tôi đă đi đến đấng Đại Hùng và đă lắng nghe lời thuyết Pháp.
779. Tadā hi so lokagaru bhikkhuniṃ
dibbacakkhukaṃ,
kittayaṃ parisāmajjhe aggaṭṭhāne ṭhapesi taṃ.
Chính vào khi ấy, bậc Thầy của thế gian ấy ở giữa các chúng đă tán dương vị tỳ khưu ni có thiên nhăn và đă thiết lập vị ni ấy vào vị thế tối thắng.
780. Suṇitvā tamahaṃ haṭṭhā dānaṃ datvāna
satthuno,
pūjetvāna ca sambuddhaṃ dibbacakkhuṃ apatthayiṃ.
Sau khi nghe điều ấy, được mừng rỡ tôi đă dâng vật thí đến bậc Đạo Sư. Và sau khi cúng dường đến bậc Toàn Giác, tôi đă ước nguyện về thiên nhăn.
781. Tato avoca maṃ satthā “nande lacchasi
patthitaṃ,
padīpadhammadānānaṃ phalametaṃ sunicchitaṃ.
Do đó, bậc Đạo Sư đă nói với tôi rằng: “Này người thiếu nữ vui vẻ, con sẽ đạt được điều đă ước nguyện. Điều đă khéo được mong muốn này là quả báu của các việc dâng cúng đèn và Giáo Pháp.
782. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.
Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc ḍng dơi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
783. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
sakulā nāma nāmena hessasi satthusāvikā.”
(Người nữ này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Sakulā.”
784. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
785. Imamhi bhaddake kappe brahmabandhu
mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.
Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đă hiện khởi đấng cao quư tên Kassapa, thuộc ḍng dơi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
786. Paribbājakinī āsiṃ tadā ’haṃ ekacārinī,
bhikkhāya vicaritvāna alabhiṃ telamattakaṃ.
Khi ấy, tôi đă là nữ du sĩ ngoại đạo có hạnh độc hành. Sau khi đi lang thang để khất thực tôi đă nhận được một số lượng dầu thắp.
787. Tena dīpaṃ padīpetvā upaṭṭhiṃ
sabbasaṃvariṃ,
cetiyaṃ dipadaggassa vippasannena cetasā.
Sau khi thắp sáng ngọn đèn với số (dầu) đó, với tâm ư trong sạch tôi đă phục vụ ngôi bảo tháp của đấng Tối Thượng Nhân trọn cả đêm.
788. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
789. Yattha yatthūpapajjāmi tassa kammassa
vāhasā,
pajjalanti mahādīpā tattha tattha gatāya me.
Do tác động của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, ở chính tại các nơi ấy có các ngọn đèn lớn chiếu sáng khi tôi đi đến.
790. Tirokuḍḍaṃ tiroselaṃ samatiggayha pabbataṃ,
passām’ ahaṃ yadicchāmi dīpadānassidaṃ phalaṃ.
Nếu tôi muốn, tôi (có thể) nh́n thấy ngọn núi sau khi đă vượt lên xuyên qua bức tường, xuyên qua tảng đá; điều này là quả báu của việc dâng cúng đèn.
791. Visuddhanayanā homi yasasā ca jalām’ ahaṃ,
saddhāpaññāvatī ceva dīpadānassidaṃ phalaṃ.
Tôi có cặp mắt trong ngần, và tôi chói sáng với danh vọng, lại c̣n có đức tin và trí tuệ nữa; điều này là quả báu của việc dâng cúng đèn.
792. Pacchime ca bhavedāni jātā vippakule ahaṃ,
pahūtadhanadhaññamhi mudite rājapūjite.
Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đă được sanh vào gia đ́nh Bà-la-môn có nhiều tài sản và lúa gạo, được hài ḷng, được đức vua tôn trọng.
793. Ahuṃ sabbaṅgasampannā sabbābharaṇabhūsitā,
purappavese sugataṃ vātapāne ṭhitā ahaṃ.
Được phú cho toàn vẹn cơ thể, được trang điểm với tất cả các đồ trang sức, đứng ở cửa sổ tôi (đă nh́n thấy) đấng Thiện Thệ ở lối đi vào thành.
794. Disvā jalantaṃ yasasā devamānusasakkataṃ,
anubyañjanasampannaṃ lakkhaṇehi vibhūsitaṃ.
Tôi đă nh́n thấy Ngài đang chói sáng với danh vọng, được trọng vọng bởi chư thiên và nhân loại, được hội đủ các tướng phụ, được điểm tô bằng những tướng chính.
795. Udaggacittā sumanā pabbajjaṃ samarocayiṃ,
na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ.
Với tâm phấn chấn, với thiện ư, tôi đă xin xuất gia. Trong thời gian không bao lâu tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.
796. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paracittāni jānāmi satthusāsanakārikā.
Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
797. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu
visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddhāsiṃ sunimmalā.
Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh. Sau khi đă quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đă được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
798. Pariciṇṇo mahā satthā kataṃ buddhassa
sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.
Bậc Đạo Sư đă được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đă được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đă được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đă được xóa tan.
799. Yassatthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto tibbasaṃyojanakkhayo.
V́ mục đích nào tôi đă rời khỏi gia đ́nh xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đă được tôi đạt đến.
800. Tato mahākāruṇiko etadagge ṭhapesi maṃ,
“Dibbacakkhukīnaṃ aggā sakulā”ti naruttamo.
Do đó, đấng Đại Bi, bậc Tối Thượng Nhân đă thiết lập tôi vào vị thế tối thắng “Sakulā là vị ni đứng đầu trong các vị ni có thiên nhăn.”
801. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
802. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa
santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
803. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ Sakulā bhikkhunī imā gāthāyo
abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Sakulā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Sakulātheriyāpadānaṃ catutthaṃ.
Kư sự về trưởng lăo ni Sakulā là phần thứ tư.
--ooOoo--
***
804. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.
Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lănh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đă hiện khởi.
805. Ovādako viññāpako kārako sabbapāṇinaṃ,
desanākusalo buddho tāresi janataṃ bahuṃ.
Là vị giáo giới, vị làm cho hiểu rơ, vị hành xử đối với tất cả chúng sanh, là thiện xảo trong việc chỉ dạy, đức Phật đă giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
806. Anukampako kāruṇiko hitesī sabbapāṇinaṃ,
sampatte titthiye sabbe pañcasīle patiṭṭhahi.
Là bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị Ẩn Sĩ hữu ích đối với tất cả chúng sanh, Ngài đă an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đă đi đến.
807. Evaṃ nirākulaṃ āsi suññakaṃ titthiyehi ca,
vicittaṃ arahantehi vasībhūtehi tādihi.
Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có được năng lực như thế ấy, (thế gian) đă không bị rối loạn và không có các ngoại đạo.
808. Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ uggato so mahāmuni,
kañcanagghiyasaṅkāso battiṃsavaralakkhaṇo.
Bậc Đại Hiền Triết ấy có ba mươi hai quư tướng, cao năm mươi tám ratana (14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng.
809. Vassasatasahassāni āyu vijjati tāvade,
tāvatā tiṭṭhamāno so tāresi janataṃ bahuṃ.
Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đă giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
810. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā seṭṭhikule
ahuṃ,
nānāratanapajjote mahāsukhasamappite.
Khi ấy, tôi đă được sanh ra ở tại Haṃsavatī, trong gia đ́nh triệu phú được rạng rỡ với vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao.
811. Upetvā taṃ mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ,
amataṃ paramassādaṃ paramatthanivedakaṃ.
Tôi đă đi đến đấng Đại Hùng ấy và đă lắng nghe lời thuyết giảng Giáo Pháp Bất Tử, có phẩm vị tối thắng, làm rơ về chân lư tuyệt đối.
812. Tadā nimantayitvāna sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ,
datvā tassa mahādānaṃ pasannā sehi pāṇihi.
Khi ấy, được tịnh tín tôi đă thỉnh mời đấng Lănh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng và đă dâng cúng đại thí