II. EKUPOSATHIKAVAGGO

II. PHẨM MỘT LẦN TRAI GIỚI:

 

11. Ekuposathikāpadānaṃ

11. Kư Sự về Ekuposathikā:[1]

 

***

 

131. Nagare bandhumatiyā bandhumā nāma khattiyo,
divase puṇṇamāyaṃ so upavasi uposathaṃ.

Ở thành phố Bandhumatī, có vị Sát-đế-lỵ tên là Bandhumā. Vào ngày trăng tṛn, vị ấy thực hành Bát quan trai giới.

 

132. Ahaṃ tena samayena kumbhadāsī ahuṃ tahiṃ,
disvā sarājikaṃ senaṃ evāhaṃ cintayiṃ tadā.

Vào lúc bấy giờ, tôi (đă) là cô nô tỳ đội nước ở tại nơi ấy. Sau khi nh́n thấy đoàn quân cùng với đức vua, khi ấy tôi đă suy nghĩ như vầy:

 

133. “Rājāpi rajjaṃ chaḍḍhetvā upavasi uposathaṃ,
saphalaṃ nūna taṃ kammaṃ janakāyo pamodito.”

Ngay cả đức vua cũng đă buông bỏ vương quyền và thực hành Bát quan trai giới, chắc hẳn việc làm ấy là có quả báu khiến đám đông người hứng thú.”

 

134. Yoniso paccavekkhitvā duggaccañca daḷiddataṃ,
mānasaṃ saṃpahaṃsetvā upavasiṃ uposathaṃ.

Sau khi suy xét chính chắn về cảnh giới khổ đau và sự nghèo khó, tôi đă tự hoan hỷ tâm và đă thực hành Bát quan trai giới.

 

135. Ahaṃ uposathaṃ katvā sammāsambuddhasāsane,
tena kammena sukatena tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Tôi đă thực hành Bát quan trai giới theo lời dạy của đấng Chánh Đẳng Giác. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

 

136. Tattha me sukataṃ vyamhaṃ uddhaṃ yojanamuggataṃ,
kūṭāgāravarūpetaṃ sayanāsanabhūsitaṃ.

Tại nơi ấy, có cung điện đă được kiến tạo khéo léo dành cho tôi, phía bên trên vươn cao một do-tuần, được kề cận với ngôi nhà mái nhọn quư giá, được trang hoàng với chỗ nằm ngồi.

 

137. Accharā satasahassā upatiṭṭhanti maṃ sadā,
aññe deve atikkamma atirocāmi sabbadā.

Một trăm ngàn tiên nữ luôn luôn kề cận tôi. Tôi luôn luôn vượt trội và rực rỡ hơn các vị thiên nhân khác.

 

138. Catusaṭṭhidevarājūnaṃ mahesittamakārayiṃ,
tesaṭṭhicakkavattīnaṃ mahesittamakārayiṃ.

Tôi đă được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của sáu mươi bốn vị Thiên Vương. Tôi đă được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của sáu mươi ba vị Chuyển Luân Vương.

 

139. Suvaṇṇavaṇṇā hutvāna bhavesu saṃsarāmahaṃ,
sabbattha pavarā homi uposathassidaṃ phalaṃ.

Có được màu da vàng chói, tôi luân hồi ở các cảnh giới. Tôi là người cao quư ở tất cả các nơi; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.

 

140. Hatthiyānaṃ assayānaṃ rathayānañca sivikaṃ,
labhāmi sabbametampi uposathassidaṃ phalaṃ.

Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, phương tiện di chuyển bằng xe, và kiệu khiêng, tôi cũng đều đạt được tất cả điều ấy; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.

 

141. Sovaṇṇamayaṃ rūpimayaṃ athopi phalikāmayaṃ,
lohitaṅkamayañceva sabbaṃ paṭilabhām’ ahaṃ.

Khi ấy, ngay cả vật làm bằng vàng, làm bằng bạc, làm bằng ngọc pha-lê, luôn cả vật làm bằng hồng ngọc, tôi đều đạt được tất cả.

 

142. Koseyyakambaliyāni khomakappāsikāni ca,
mahagghāni ca vatthāni sabbaṃ paṭilabhām’ ahaṃ.

Các tấm mền làm bằng tơ lụa, sợi len, và bông vải, cùng với các tấm vải giá trị cao, tôi đều đạt được tất cả.

 

143. Annaṃ pānaṃ khādaniyaṃ vatthasenāsanāni ca,
sabbametaṃ paṭilabhe uposathassidaṃ phalaṃ.

Thức ăn, nước uống, vật nhai, vải vóc, và chỗ nằm ngồi, tôi đều đạt được tất cả (các) thứ ấy; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.

 

144. Varagandhañca mālañca cuṇṇakañca vilepanaṃ,
sabbametaṃ paṭilabhe uposathassidaṃ phalaṃ.

Hương thơm cao quư, tràng hoa, bột phấn thơm, dầu thoa, tôi đều đạt được tất cả (các) thứ ấy; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.

 

145. Kūṭāgārañca pāsādaṃ maṇḍapaṃ hammiyaṃ guhaṃ,
sabbametaṃ paṭilabhe uposathassidaṃ phalaṃ.

Ngôi nhà mái nhọn, ṭa lâu đài, mái che, ṭa nhà dài, hang động, tôi đều đạt được tất cả (các) thứ ấy; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.

 

146. Jātiyā sattavasso ’haṃ pabbajiṃ anagāriyaṃ,
aḍḍhamāse asampatte arahattaṃ apāpuṇiṃ.

Bảy năm sau khi sanh ra, tôi đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Chưa đầy nửa tháng, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.

 

147. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

148. Ekanavute ito kappe yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi uposathassidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.

 

149. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

150. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Ekuposathikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Ekuposathikā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Ekuposathikātheriyāpadānaṃ paṭhamaṃ.

Kư sự về trưởng lăo ni Ekuposathikā là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

12. Salalapupphikāpadānaṃ
12. Kư Sự về Salalapupphikā:
[2]

 

***

 

151. Candabhāgānadītīre ahosiṃ kinnarī tadā,

addasāhaṃ devadevaṃ caṅkamantaṃ narāsabhaṃ.

Khi ấy, tôi đă là loài kim-sỉ-điểu cái ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đă nh́n thấy bậc Nhân Ngưu, vị Trời của chư thiên, đang đi kinh hành.

 

152. Ocinitvāna salalaṃ buddhaseṭṭhass’ adās’ ahaṃ,
“Upasiṅgha mahāvīra salalaṃ devagandhikaṃ.”

Sau khi thâu nhặt bông hoa salala, tôi đă dâng lên đức Phật tối thượng (nói rằng): “Bạch đấng Đại Hùng thỉnh ngài ngửi bông hoa salala có hương thơm của cơi trời.”

 

153. Paṭiggahetvā sambuddho vipassī lokanāyako,
upasiṅghi mahāvīro pekkhamānāya me tadā.

Khi ấy, trong lúc tôi đang chăm chú nh́n, đấng Toàn Giác Vipassī, bậc Lănh Đạo thế gian, đấng Đại Hùng đă thọ nhận và đă ngửi (bông hoa ấy).

 

154. Añjaliṃ paggahetvāna vanditvā dipaduttamaṃ,
sakaṃ cittaṃ pasādetvā tato pabbatamārūhiṃ.

Sau khi chắp tay lên, tôi đă đảnh lễ bậc Tối Thượng Nhân. Sau khi làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín, từ nơi ấy tôi đă đi lên ngọn núi.

 

155. Ekanavute ito kappe yaṃ pupphamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đă dâng cúng bông hoa cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

 

156. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

157. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

158. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Salalapupphikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.

Tỳ khưu ni Salalapupphikā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Salalapupphikātheriyāpadānaṃ dutiyaṃ.

Kư sự về trưởng lăo ni Salalapupphikā là phần thứ nh́.

 

--ooOoo--

 

 

13. Modakadāyikāpadānaṃ
13. Kư Sự về Modakadāyikā:
[3]

 

***

 

159. Nagare bandhumatiyā kumbhadāsī ahos’ ahaṃ,
mama bhāgaṃ gahetvāna gacchiṃ udakahārikā.

Ở thành phố Bandhumatī, tôi đă là người nữ tỳ đội nước. Là người vận chuyển nước, tôi đă nhận lấy phần (nước) của ḿnh rồi đă ra đi.

 

160. Panthamhi samaṇaṃ disvā santacittaṃ samāhitaṃ,
pasannacittā sumanā modake tīṇi ’dās’ ahaṃ.

Ở đường lộ, tôi đă nh́n thấy vị sa-môn có tâm thanh tịnh, định tĩnh. Với tâm tịnh tín, với ư hoan hỷ, tôi đă dâng ba cục thịt ṿ viên.

 

161. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
ekanavuti kappāni vinipātaṃ na gacch’ ahaṃ.

Do việc làm ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, tôi đă không đi đến đọa xứ chín mươi mốt kiếp.

 

162. Sampattiṃ taṃ karitvāna sabbaṃ anubhavāmahaṃ,
modake tīṇi datvāna pattā ’haṃ acalaṃ padaṃ.

Sau khi đă thực hiện thành tựu điều ấy, tôi đă đạt được mọi thứ. Sau khi bố thí ba cục thịt ṿ viên, tôi đă đạt đến vị thế không bị lay chuyển.

 

163. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

164. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

165. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Modakadāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Modakadāyikā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Modakadāyikātheriyāpadānaṃ tatiyaṃ.

Kư sự về trưởng lăo ni Modakadāyikā là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

 

14. Ekāsanadāyikāpadānaṃ
14. Kư Sự về Ekāsanadāyikā:
[4]

 

***

 

166. Nagare haṃsavatiyā ahosiṃ bālikā tadā,
mātā ca me pitā ceva kammantaṃ agamaṃsu te.

Lúc bấy giờ, tôi đă là cô thiếu nữ ở tại thành phố Haṃsavatī. Mẹ và luôn cả cha của tôi, họ đều đă đi làm công việc.

 

167. Majjhantikamhi suriye addasaṃ samaṇaṃ ahaṃ,
vīthiyaṃ anugacchantaṃ āsanaṃ paññapes’ ahaṃ.

Vào lúc mặt trời ở chính ngọ, tôi đă nh́n thấy vị sa-môn đang đi dọc theo đường lộ. Tôi đă xếp đặt chỗ ngồi.

 

168. Goṇakacittakādīhi paññapetvā ’hamāsanaṃ,
pasannacittā sumanā idaṃ vacanamabraviṃ.

Sau khi xếp đặt chỗ ngồi bằng nhiều loại lông cừu, v.v... rồi với tâm tịnh tín, với ư hoan hỷ, tôi đă nói lời nói này:

 

169. “Santattā kuthitā bhūmi sūro majjhantike ṭhito,
mālutā ca na vāyanti kālo cettha upaṭṭhito.

Mặt đất bị nóng bỏng, bị thiêu đốt, mặt trời đă đứng ở chính ngọ, và các cơn gió ngưng thổi, vậy là lúc ngài hăy nghỉ ở đây.

 

170. Paññattamāsanamidaṃ tavatthāya mahāmuni,
anukampamupādāya nisīda mama āsane.”

Thưa bậc đại hiền triết, đây là chỗ ngồi đă được sắp xếp dành cho ngài. V́ ḷng thương tưởng, xin ngài hăy ngồi xuống chỗ ngồi của con.”

 

171. Nisīdi tattha samaṇo sudanto suddhamānaso,
tassa pattaṃ gahetvāna yathārandhamadāsahaṃ.

Với tâm ư thanh tịnh, vị sa-môn được rèn luyện chu đáo đă ngồi xuống ở tại nơi ấy. Tôi đă nhận lănh b́nh bát của vị ấy và đă dâng cúng không chút sai sót.

 

172. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.

Do việc làm ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

 

173. Tattha me sukataṃ vyamhaṃ āsanena sunimmitaṃ,
saṭṭhiyojanamubbedhaṃ tiṃsayojanavitthataṃ.

Tại nơi ấy, dành cho tôi có cung điện đă khéo được xây dựng, đă khéo được hóa hiện ra với chỗ ngồi, có chiều cao sáu mươi do-tuần, có chiều rộng ba mươi do-tuần.

 

174. Soṇṇamayā maṇimayā athopi phalikāmayā,
lohitaṅkamayā ceva pallaṅkā vividhā mama.

Cũng vào khi ấy, thuộc về tôi có các ghế dựa nhiều kiểu làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng ngọc pha-lê, và làm bằng hồng ngọc nữa.

 

175. Tūlikāvikatikāhi kaṭṭhissacittakāhi ca,
udda-ekantalomīhi pallaṅkā me susanthatā.

Các ghế dựa của tôi được khéo lót trải với các tấm nệm bằng len dệt, với nhiều loại tấm trải bằng tơ dệt có đính các viên ngọc, và với các tấm trải viền ren ở một bên.

 

176. Yadā icchāmi gamanaṃ hāsakhiḍḍā samappitaṃ,
saha pallaṅkaseṭṭhena gacchāmi mama patthitaṃ.

Khi nào tôi ước muốn sự ra đi với mục đích giải trí nô đùa, điều ước nguyện của tôi là tôi ra đi bằng chiếc ghế dựa thù thắng của tôi.

 

177. Asītidevarājūnaṃ mahesinnamakārayiṃ,
sattaticakkavattīnaṃ mahesittamakārayiṃ.

Tôi đă được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của tám mươi vị Thiên Vương. Tôi đă được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của bảy mươi vị Chuyển Luân Vương.

 

178. Bhavābhave saṃsarantī mahābhogaṃ labhāmahaṃ,
bhoge me ūnatā natthi ekāsanaphalaṃ idaṃ.

Trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi đă đạt được tài sản lớn lao. Đối với tôi, không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.

 

179. Duve bhave saṃsarāmi devatte atha mānuse,
aññe bhave na jānāmi ekāsanaphalaṃ idaṃ.

Tôi (đă) luân hồi ở hai cảnh giới, trong bản thể chư thiên và nhân loại. Tôi (đă) không biết đến các cơi khác; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.

 

180. Duve kule pajāyāmi khattiye cāpi brāhmaṇe,
uccākulīnā sabbattha ekāsanaphalaṃ idaṃ.

Tôi (đă) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và cả Bà-la-môn nữa. Ở mọi nơi, tôi đều thuộc gia đ́nh thượng lưu; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.

 

181. Domanassaṃ na jānāmi cittasantāpanaṃ mama,
vevaṇṇiyaṃ na jānāmi ekāsanaphalaṃ idaṃ.

Tôi không biết đến tâm bực bội và tôi có sự thỏa măn ở tâm. Tôi không biết đến việc tàn tạ dung nhan; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.

 

182. Dhātiyo maṃ upaṭṭhanti khujjā kheḷāsikā bahū,
aṅkena aṅkaṃ gacchāmi ekāsanaphalaṃ idaṃ.

Các nữ tỳ hầu hạ tôi, nhiều người bị gù lưng, bị chảy nước dăi. Tôi đă (được ẳm bồng) di chuyển từ hông này đến hông khác; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.

 

183. Aññā nahāpenti bhojenti aññā ramenti maṃ sadā,
aññā gandhaṃ vilimpenti ekāsanaphalaṃ idaṃ.

Luôn luôn có các cô này tắm (cho tôi), các cô kia chăm lo thức ăn, các cô khác làm cho tôi vui thích, các cô nọ thoa dầu thơm (cho tôi); điều này là quả báu của một chỗ ngồi.

 

184. Maṇḍape rukkhamūle vā suññāgāre vasantiyā,
mama saṅkappamaññāya pallaṅko upatiṭṭhati.

Trong lúc tôi sống ở mái che, ở gốc cây, hoặc ở ngôi nhà trống vắng, chiếc ghế dựa biết được ư định của tôi hiện diện ở bên cạnh.

 

185. Ayaṃ pacchimako mayhaṃ carimo vattate bhavo,
ajjāpi rajjaṃ chaḍḍetvā pabbajiṃ anagāriyaṃ.

Đây là kiếp sống cuối cùng của tôi, là lần hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Hiện nay, tôi đă từ bỏ vương quốc và đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.

 

186. Satasahasse ito kappe yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi ekāsanaphalaṃ idaṃ.

Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.

           

187. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

188. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

189. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Ekāsanadāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.

Vị tỳ khưu ni Ekāsanadāyikā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Ekāsanadāyikātheriyāpadānaṃ catutthaṃ.

Kư sự về trưởng lăo ni Ekāsanadāyikā là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

 

15. Pañcadīpadāyikāpadānaṃ
15. Kư Sự về Pañcadīpadāyikā:
[5]

 

***

 

190. Nagare haṃsavatiyā cārikā ās’ ahaṃ tadā,
ārāmena ca ārāmaṃ carāmi kusalatthikā.

Khi ấy, tôi đă là nữ du sĩ ở thành phố Haṃsavatī. Có sự tầm cầu thiện pháp, tôi (đă) đi từ tu viện này đến tu viện khác.

 

191. Kālapakkhamhi divase addasaṃ bodhimuttamaṃ.
tattha cittaṃ pasādetvā bodhimūle nisīdahaṃ.

Vào một ngày thuộc hạ huyền, tôi đă nh́n thấy cội cây Bồ Đề tối thượng. Tại đó, tôi đă khởi tâm tịnh tín và đă ngồi xuống ở gốc cây Bồ Đề.

 

192. Garucittaṃ upaṭṭhapetvā sire katvāna añjaliṃ,
somanassaṃ pavedetvā evaṃ cintesiṃ tāvade.

Sau khi thiết lập tâm cung kỉnh, chắp tay lên ở đầu, và bày tỏ ḷng hoan hỷ, ngay khi ấy tôi đă suy nghĩ như vầy:

 

193. “Yadi buddho amitayaso asamappaṭipuggalo,
dassetu pāṭihīraṃ me bodhi obhāsatu ayaṃ.”

Nếu đức Phật có đức hạnh vô lượng, không người sánh bằng, xin cội Bồ Đề này hăy thị hiện thần thông, hăy chói sáng cho tôi thấy.”

 

194. Saha āvajjanā mayhaṃ bodhi pajjali tāvade,
sabbasoṇṇamayā āsi disā sabbā virocayi.

Với điều suy nghĩ của tôi, cội Bồ Đề ngay khi ấy đă phát sáng, đă biến thành vàng toàn bộ, và đă chiếu sáng tất cả các phương.

 

195. Sattarattindivaṃ tattha bodhimūle nisīdahaṃ,
sattame divase patte dīpapūjaṃ akāsahaṃ.

Tôi đă ngồi xuống tại nơi ấy ở gốc cây Bồ Đề bảy ngày đêm. Khi đă đạt đến ngày thứ bảy, tôi đă thực hiện việc cúng dường các ngọn đèn.

 

196. Āsanaṃ parivāretvā pañcadīpāni pajjaluṃ.
yāva udeti suriyo dīpā me pajjaluṃ tadā.

Sau khi được đặt quanh chỗ ngồi, năm ngọn đèn đă phát sáng. Khi ấy, các ngọn đèn của tôi đă phát sáng cho đến khi mặt trời mọc lên.

 

197. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

 

198. Tattha me sukataṃ vyamhaṃ pañcadīpīti vuccati,
saṭṭhiyojanamubbedhaṃ tiṃsayojanavitthataṃ.

Tại nơi ấy, cung điện đă được kiến tạo khéo léo dành cho tôi được gọi là “Pañcadīpī,” có chiều cao sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.

 

199. Asaṅkhiyāni dīpāni parivāre jalanti me,
yāvatā devabhavanaṃ dīpālokena jotati.

Xung quanh tôi có vô số ngọn đèn chiếu sáng. Cho đến cung điện của chư thiên cũng sáng rực bởi ánh sáng của các ngọn đèn.

 

200. Parammukhā nisīditvā yadi icchāmi passituṃ,
uddhaṃ adho ca tiriyaṃ sabbaṃ passāmi cakkhunā.

Sau khi ngồi xuống mặt quay về hướng khác, nếu tôi muốn nh́n thấy ở bên trên, bên dưới, và chiều ngang, tôi đều nh́n thấy tất cả bằng mắt.

 

201. Yāvatā abhikaṅkhāmi daṭṭhuṃ sugataduggate,
tattha āvaraṇaṃ natthi rukkhesu pabbatesu vā.

Ngay cả khi tôi mong muốn nh́n thấy những việc đi đến tốt đẹp hoặc đi đến xấu xa th́ không có ǵ che đậy được việc ấy dầu ở các cây cối hoặc ở các núi non.

 

202. Asīti devarājūnaṃ mahesittamakārayiṃ,
satānaṃ cakkavattīnaṃ mahesittamakārayiṃ.

Tôi đă được thiết lập vào ngôi chánh hậu của tám mươi vị Thiên Vương. Tôi đă được thiết lập vào ngôi chánh hậu của một trăm vị Chuyển Luân Vương.

 

203. Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi devattaṃ atha mānuse,
dīpasatasahassāni parivāre jalanti me.

Mỗi khi tôi nhập thai bào dầu là cảnh giới chư thiên hoặc loài người, có một trăm ngàn ngọn đèn chiếu sáng ở xung quanh tôi.

 

204. Devalokā cavitvāna uppajjiṃ mātukucchiyaṃ,
mātukucchigatā santī akkhi me na nimīlati.

Sau khi mệnh chung từ thế giới chư thiên, tôi đă tái sanh vào bụng mẹ. Trong khi đi vào bụng mẹ và trụ lại, mắt của tôi không nhắm lại.

 

205. Dīpasatasahassāni puññakammasamaṅgitā,
jalanti sūtikāgehe pañcadīpānidaṃ phalaṃ.

Một trăm ngàn ngọn đèn là kết quả của nghiệp phước thiện, chúng chiếu sáng ở nhà bảo sanh; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.

 

206. Pacchime bhave sampatte mānasaṃ vinivaṭṭayiṃ,
ajarāmaraṃ sītibhūtaṃ nibbānaṃ phassayiṃ ahaṃ.

Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đă ǵn giữ tâm ư. Tôi đă chạm đến Niết Bàn là trạng thái mát mẻ, không già, không chết.

 

207. Jātiyā sattavassāhaṃ arahattamapāpuṇiṃ,
upasampādayī buddho guṇamaññāya gotamo.

Bảy năm kể từ khi sanh, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi biết được đức hạnh (của tôi), đức Phật Gotama đă cho tôi tu lên bậc trên.

 

208. Maṇḍape rukkhamūle vā suññāgāre vasantiyā,
sadā pajjalate dīpaṃ pañcadīpānidaṃ phalaṃ.

Trong lúc sinh sống ở mái che, ở gốc cây, hoặc ở ngôi nhà trống vắng, luôn luôn có ngọn đèn chiếu sáng; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.

 

209. Dibbacakkhu visuddhaṃ me samādhikusalā ahaṃ,
abhiññāpāramippattā pañcadīpānidaṃ phalaṃ.

Thiên nhăn của tôi được thanh tịnh, tôi được thiện xảo về định, được thành đạt các thắng trí và các pháp toàn hảo; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.

 

210. Sabbavositavosānā katakiccā anāsavā,
pañcadīpā mahāvīra pāde vandati cakkhuma.

Bạch đấng Đại Hùng, bậc Hữu Nhăn, con là Pañcadīpā có toàn bộ nguồn nhiên liệu đă cạn, có các phận sự đă được làm xong, không c̣n các lậu hoặc, xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).”

 

211. Satasahasse ito kappe yaṃ dīpamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi pañcadīpānidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đă dâng cúng ngọn đèn cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.

 

212. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

213. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

214. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Pañcadīpayikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.

Vị tỳ khưu ni Pañcadīpadāyikā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.


Pañcadīpayikātheriyāpadānaṃ pañcamaṃ.

 Kư sự về trưởng lăo ni Pañcadīpadāyikā là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

 

16. Sālamālikāpadānaṃ
16. Kư Sự về Sālamālikā:[6]

 

***

 

215. Candābhāgānadītīre ahosiṃ kinnarī tadā,
addasaṃ virajaṃ buddhaṃ sayambhuṃ aparājitaṃ.

Khi ấy, tôi đă là loài kim-sỉ-điểu cái ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đă nh́n thấy đức Phật, bậc Vô Cấu Uế, đấng Tự Chủ, bậc không bị hàng phục.

 

216. Pasannacittā sumanā vedajātā katañjalī,
sālamālaṃ gahetvāna sayambhuṃ abhipūjayiṃ.

Với tâm tịnh tín, với ư hoan hỷ, tràn đầy niềm phấn khởi, tôi đă chắp tay lên cầm lấy tràng hoa Sālā và đă cúng dường đến bậc Tự Chủ.

 

217. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā kinnarīdehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân xác kim-sỉ-điểu, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.

 

218. Chattiṃsa devarājūnaṃ mahesittamakārayiṃ,
manasā patthitaṃ mayhaṃ nibbattati yathicchitaṃ.

Tôi đă được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của ba mươi sáu vị Thiên Vương. Điều ước nguyện trong tâm của tôi là được tái sanh theo ước muốn.

 

219. Dasannaṃ cakkavattīnaṃ mahesittamakārayiṃ,
ocitattāva hutvāna saṃsarāmi bhavesvahaṃ.

Tôi đă được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của mười vị Chuyển Luân Vương. Sau khi thành tựu kết quả, tôi tự luân hồi ở nhiều cơi.

 

220. Kusalaṃ vijjate mayhaṃ pabbajiṃ anagāriyaṃ,
pūjārahā ahaṃ ajja sakyaputtassa sāsane.

Điều tốt lành của tôi đă được t́m thấy, tôi đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Hiện nay, tôi là bậc xứng đáng sự cúng dường ở trong Giáo Pháp của người con trai ḍng dơi Sakya (Thích Ca).

 

221. Visuddhamanasā ajja apetamanapāpikā,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.

Hiện nay, với tâm ư đă được thanh tịnh, các ác pháp đă không c̣n, tất cả các lậu hoặc đă cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

222. Catunavute ito kappe yaṃ buddhamabhipūjayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi sālamālāyidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đă cúng dường đến đức Phật cho đến chính mươi bốn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của tràng hoa Sālā.

 

223. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

224. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

225. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Sālamālikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Vị tỳ khưu ni Sālamālikā đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Sālamālikātheriyāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.

Kư sự về trưởng lăo ni Sālamālikā là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

 

17. Mahāpāpatigotamī-apadānaṃ
17. Kư sự về Mahāpajāpatigotamī:
[7]

 

***

 

226. Ekadā lokapajjoto vesāliyaṃ mahāvane,
kūṭāgāre susālāyaṃ vasate narasārathi.

Một thời, bậc Quang Đăng của thế gian, đấng Điều Phục loài người ngự tại thành Vesālī, khu Đại Lâm, ngôi nhà mái nhọn, trong giảng đường xinh xắn.

 

227. Tadā jinassa mātucchā mahāgotami bhikkhunī,
tahiṃ kate pure ramme vasī bhikkhunupassaye.

Khi ấy, người d́ ruột của đấng Chiến Thắng là tỳ khưu ni Mahāgotamī đă cư ngụ tại tu viện của tỳ khưu ni được xây dựng ở tại nơi ấy, trong thành phố đáng yêu.

 

228. Bhikkhunīhi vimuttāhi satehi saha pañcahi,
rahogatāya tassevaṃ cittassāsi vitakkitaṃ.

Khi đang ở nơi thanh vắng cùng với năm trăm vị tỳ khưu ni đă được hoàn toàn giải thoát, có điều suy tầm đă khởi đến tâm của vị ni ấy như vầy:

 

229. “Buddhassa parinibbāṇaṃ sāvakaggayugassa vā,
rāhulānandanandānaṃ nāhaṃ lacchāmi passituṃ.

Ta sẽ không thể chứng kiến sự viên tịch Niết Bàn của đức Phật, hoặc của hai vị Tối Thượng Thinh Văn, của Rāhula, Ānanda, vā Nanda.

 

230. Paṭigaccāyusaṅkhāre ossajitvāna nibbutiṃ,
gaccheyyaṃ lokanāthena anuññātā mahesinā.”

Trước khi có thể buông bỏ thọ hành rồi thành tựu Niết Bàn, ta cần được đấng Hộ Tŕ Thế Gian, bậc Đại Ẩn Sĩ cho phép.

 

231. Tathā pañcasatānampi bhikkhunīnaṃ vitakkitaṃ,
āsi khemādikānampi etadeva vitakkitaṃ.

Sự suy tầm của năm trăm vị tỳ khưu ni cũng như thế. Chính điều suy tầm này cũng đă khởi đến các vị như là Khemā, v.v...

 

232. Bhūmicālo tadā āsi nāditā devadundubhi,
upassayādhivatthāyo devatā sokapīḷitā.
vipalantā sakaruṇaṃ tathassūni pavattayuṃ.

Khi ấy, đă có sự lay động của trái đất, tiếng trống của cơi trời đă vang lên. Các thiên nhân cư ngụ ở ni viện đă bị dày ṿ bởi sầu muộn. Tại nơi ấy, trong khi than văn với niềm bi mẫn họ đă tuôn rơi những giọt nước mắt.

 

233. Mittā bhikkhuniyo tāhi upagantvāna gotamiṃ,
nipacca sirasā pāde idaṃ vacanamabravuṃ:

Cùng với các vị (thiên nhân) ấy, các vị tỳ khưu ni bạn đă đi đến gặp bà Gotamī. Họ đă cúi ḿnh đê đầu ở bàn chân và đă nói lời nói này:

 

234. “Tattha toyalavāsittā mayamayye rahogatā,
sācalā calitā bhūmi nāditā devadundubhi,
paridevā ca sūyanti kimatthaṃ nūna gotamī.”

Thưa ni sư, ở tại nơi ấy chúng tôi đă tưới ướt với những giọt nước rồi đă đi đến nơi thanh vắng. Trái đất có sự không lay động đă lay động, tiếng trống của cơi trời đă vang lên, và được nghe những tiếng than khóc. Bà Gotamī, chẳng lẽ là có sự việc ǵ hay sao?

 

235. Tadā avoca sā sabbaṃ yathāparivitakkitaṃ,
tāyopi sabbā āhaṃsu yathāparivitakkitaṃ.

Khi ấy, bà Gotamī đă kể lại mọi việc theo như đă được suy tầm. Các vị ni ấy cũng đă kể lại mọi việc theo như đă được suy tầm:

 

236. “Yadi te rucitaṃ ayye nibbāṇaṃ paramaṃ sivaṃ,
nibbāyissāma sabbāpi buddhānuññāya subbate.

Thưa ni sư, thưa vị có sự hành tŕ tốt đẹp, nếu Niết Bàn tối thắng thù diệu được ni sư thích thú, th́ tất cả chúng tôi cũng sẽ Niết Bàn với sự chấp thuận của đức Phật.

 

237. Mayaṃ sahāva nikkhantā gharāpi ca bhavāpi ca,
sahayeva gamissāma nibbāṇapuramuttamaṃ.”

Chúng tôi sẽ cùng nhau rời khỏi ngôi nhà và rời khỏi luôn cả sự hiện hữu, chúng tôi sẽ cùng nhau đi đến thành phố Niết Bàn tối thượng.

 

238. Nibbānāya vajantīnaṃ kiṃ vakkhāmī’ti sā vadaṃ,
saha sabbāhi niggacchi bhikkhunīnilayā tadā.

Bà Gotamī đă nói rằng: “Ta sẽ nói ǵ đây đến những người đang đi đến Niết Bàn?” Khi ấy, cùng với tất cả các vị ni ấy bà Gotamī đă rời khỏi chỗ cư ngụ của các tỳ khưu ni.

 

239. Upassaye yādhivatthā devatā tā khamantu me,
bhikkhunīnilayassedaṃ pacchimaṃ dassanaṃ mama.

Xin chư thiên đang ngự tại trú xá hăy thông cảm cho ta. Đây là sự nh́n thấy ni viện lần cuối cùng của ta.

 

240. Na jarā maccu vā yattha appiyehi samāgamo,
piyehi vippayogo ’tthi taṃ vajissaṃ asaṅkhataṃ.

Nơi nào sự già hoặc sự chết, sự gần gũi với những ǵ không yêu thích, sự xa ĺa với những ǵ yêu thích là không có, th́ ta nên đi đến nơi không bị tạo tác ấy.”

 

241. Avītarāgā taṃ sutvā vacanaṃ sugatorasā,
sokaṭṭā parideviṃsu “Aho no appapuññatā.

Nghe được lời nói ấy, những vị tỳ khưu ni của đấng Thiện Thệ chưa ĺa tham ái bị dằn vặt bởi sầu muộn đă than văn rằng: “Than ôi, chúng tôi có phước báu kém cỏi.

 

242. Bhikkhunīnilayo suñño bhūto tāhi vinā ayaṃ,
pabhāte viya tārāyo na dissanti jinorasā.

Trú xứ này của các tỳ khưu ni thiếu vắng các vị ấy trở nên trống không. Các vị tỳ khưu ni của đấng Chiến Thắng không c̣n được nh́n thấy ví như các v́ sao không c̣n được nh́n thấy vào ban ngày.”

 

243. Nibbānaṃ gotamī yāti satehi saha pañcahi,
nadīsatehiva saha gaṅgā pañcahi sāgaraṃ.”

Bà Gotamī đi đến Niết bàn cùng với năm trăm vị tương tợ như sông Gaṅgā cùng với năm trăm ḍng sông chảy về biển cả.”

 

244. Rathikāya vajantiṃ taṃ disvā saddhā upāsikā,
gharā nikkhamma pādesu nipacca idamabraviṃ:

Sau khi nh́n thấy bà Gotamī đang đi ở trên đường, các nữ cư sĩ thành tín đă rời khỏi nhà rồi đă cúi xuống ở hai bàn chân (của bà) và đă nói điều này:

 

245. “Pasīdassu mahābhoge anāthāyo vihāya no,
tayā na yuttaṃ nibbātuṃ” iccaṭṭaṃ vilapiṃsu tā.

Hỡi vị có tài sản vĩ đại, xin người hoan hỷ. Xin chớ ĺa bỏ chúng con (trở thành) không người lănh đạo. Xin người chớ quyết định Niết Bàn,” họ đă than van ầm ĩ như thế.

 

246. Tāsaṃ sokapahāṇatthaṃ avoca madhuraṃ giraṃ,
“Ruditena alaṃ puttā hāsakālo ’yamajja vo.

Nhằm mục đích xóa đi nỗi sầu muộn của họ, bà Gotamī đă nói với giọng nói ngọt ngào rằng: “Này các con, than khóc đă đủ rồi, hôm nay đây là thời điểm vui cười của các con.

 

247. Pariññātaṃ mayā dukkhaṃ dukkhahetu vivajjito,
nirodho me sacchikato maggo cāpi subhāvito.

Khổ đă được ta biết toàn diện, nhân của Khổ đă được ta dứt bỏ, sự Diệt Tận đă được ta tác chứng, và Đạo cũng đă được ta thực hành khéo léo.

 

 (Bhāṇavāraṃ paṭhamaṃ).

Tụng Phẩm thứ nhất.

 

248. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.

Bậc Đạo Sư đă được ta phục vụ, lời dạy của đức Phật đă được ta thực hành, nhiệm vụ nặng nề đă được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đă được xóa tan.

 

249. Yassatthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaññojanakkhayo.

V́ mục đích nào ta đă rời khỏi gia đ́nh xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đă được ta đạt đến.

 

250. Buddho tassa ca saddhammo anūno yāva tiṭṭhati,

nibbātuṃ tāva kālo me mā maṃ socatha puttikā.

Này các con, đức Phật và Chánh Pháp không bị thiếu sót của Ngài vẫn c̣n tồn tại vào thời điểm Niết Bàn của ta, chớ có khóc than cho ta.

 

251. Koṇḍaññānandanandādī tiṭṭhanti rāhulo jino,
sukhito sahito saṅgho hatadappā ca titthiyā.

Koṇḍañña, Ānanda, Nanda, v.v..., vị Rāhula chiến thắng c̣n tại tiền, hội chúng là được an lạc, ḥa hợp, c̣n đối với các ngoại đạo th́ niềm kiêu hănh đă bị tiêu tan.

 

252. Okkākavaṃsassa yaso usasito māramaddano,
nanu sampati kālo me nibbānatthāya puttikā.

Danh tiếng của ḍng tộc Okkāka với sự tiêu diệt Ma Vương đă được giương cao. Này các con, chẳng phải chính lúc này là thời điểm cho mục đích Niết Bàn của ta hay sao?

 

253. Cirappabhūti yaṃ mayhaṃ patthitaṃ ajja sijjhate,
ānandabherikālo ’yaṃ kiṃ vo assūhi puttikā.

Điều ước nguyện của ta được nung đúc từ lâu hôm nay được thành tựu. Này các con, giờ đây là thời điểm của những tiếng trống vui mừng, việc ǵ với những giọt nước mắt của các con?

 

254. Sace mayi dayā atthi yadi catthi kataññutā,
saddhammaṭṭhitiyā sabbā karotha viriyaṃ daḷhaṃ.

Nếu có ḷng thương mến đối với ta, và nếu có ḷng bi mẫn, tất cả các con hăy thể hiện sự tinh tấn kiên cố cho sự tồn tại của Chánh Pháp.

 

255. Thīnaṃ adāsi pabbajjaṃ sambuddho yācito mayā,
tasmā yathāhaṃ nandissaṃ tathā tamanutiṭṭhatha.

Khi được ta thỉnh cầu, đấng Toàn Giác đă ban cho sự xuất gia một cách lưỡng lự. Do điều đó, ta đă hoan hỷ như thế nào th́ các con hăy thuận theo điều ấy như thế.”

 

256. Tā evamanusāsitvā bhikkhunīhi purakkhatā,
upecca buddhaṃ vanditvā idaṃ vacanamabravi:

Sau khi dặn ḍ như thế, bà Gotamī dẫn đầu các vị tỳ khưu ni đă đi đến đảnh lễ đức Phật rồi đă nói lời nói này:

 

257. “Ahaṃ sugata mātā te tvaṃ ca vīra pitā mama,
saddhammasukhado nātha tayā jātamhi gotama.

Bạch đấng Thiện Thệ, con là mẹ của Ngài. Và bạch đấng Anh Hùng, Ngài là cha của con. Bạch đấng Lănh Đạo, Ngài là người ban cho niềm an lạc trong Chánh Pháp. Bạch ngài Gotama, con đă được sanh ra bởi Ngài.

 

258. Saṃvaḍḍhīto ’yaṃ sugata rūpakāyo mayā tava,
anindiyo dhammakāyo mama saṃvaḍḍhīto tayā.

Bạch đấng Thiện Thệ, h́nh hài và thân xác này của Ngài đă được lớn mạnh là nhờ con. C̣n Pháp thân không thể phê phán của con đă được tăng trưởng là nhờ vào Ngài.

 

259. Muhuttataṇhāsamanaṃ khīraṃ tvaṃ pāyito mayā,
tayāhaṃ santamaccantaṃ dhammakhīraṃ hi pāyitā.

Nhờ con, Ngài đă được uống nước sữa làm dịu đi sự khao khát trong chốc lát. Nhờ Ngài, con cũng đă được uống chính ḍng sữa Giáo Pháp thanh tịnh vô cùng tận.

 

260. Vaddhanarakkhane mayhaṃ anaṇo tvaṃ mahāmune,
puttakāmā thiyo yā tā labhantu tādisaṃ sutaṃ.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, trong việc dưỡng nuôi chăm sóc của con Ngài không có nợ nần. Mong sao cho các phụ nữ có ḷng mong mỏi con trai có thể đạt được người con trai như thế này.

 

261. Mandhātādinarindānaṃ yā mātā sā bhavaṇṇave,
nimuggāhaṃ tayā putta tāritā bhavasāgarā.

Mẹ của các vị vua như đức vua Mandhātu, v.v... là ở trong biển cả của hiện hữu. Này con trai, ta đă bị ch́m đắm, nhờ Ngài ta đă vượt qua khỏi đại dương của hiện hữu.

 

262. Rañño mātā mahesīti sulabhaṃ nāmamitthinaṃ,
buddhamātāti yaṃ nāmaṃ etaṃ paramadullabhaṃ.

Đối với hàng phụ nữ, danh xưng “Hoàng hậu mẹ của đức vua” là dễ dàng đạt được. C̣n danh xưng “Người mẹ của đức Phật” là đạt được vô cùng khó khăn.

 

263. Tañca laddhaṃ mayā vīra paṇidhānaṃ mamaṃ tayā,
aṇukaṃ vā mahantaṃ vā taṃ sabbaṃ pūritaṃ mayā.

Và bạch đấng Anh Hùng, nhờ Ngài con đă đạt được điều ước nguyện ấy của con. Với con toàn bộ điều ấy dầu nhỏ bé hay lớn lao đều đă được tṛn đủ.

 

 264. Parinibbātumicchāmi vihāyemaṃ kalebaraṃ,
anujānāhi me vīra dukkhantakara nāyaka.

Sau khi từ bỏ xác thân này con muốn viên tịch Niết Bàn. Bạch đấng Anh Hùng, vị Lănh Đạo, bậc Đoạn Tận Khổ Đau, xin Ngài hăy cho phép con.

 

265. Cakkaṅkusadhajākiṇṇe pāde kamalakomale,
pasārehi paṇāmaṃ te karissaṃ puttapemasā.

Xin Ngài hăy duỗi ra (hai) bàn chân mềm dịu như hoa sen được điểm tô bằng những cây căm bánh xe và các ngọn cờ, con sẽ thể hiện sự tôn kính đến Ngài với ḷng yêu mến đối với người con trai.

 

266. Suvaṇṇarāsisaṃkāsaṃ sarīraṃ kuru pākaṭaṃ,
katvā dehaṃ sudiṭṭhaṃ te santiṃ gacchāmi nāyaka.”

Bạch đấng Lănh Đạo, xin Ngài hăy thể hiện rơ ràng thân thể tợ như khối vàng, sau khi thực hiện việc chiêm ngưỡng thân thể của Ngài, con sẽ đi về chốn an tịnh.”

 

267. Dvattiṃsalakkhaṇūpetaṃ suppabhālaṅkataṃ tanuṃ,
sañjhāghanāva bālakkaṃ mātucchaṃ dassayī jino.

Đấng Chiến Thắng đă khiến cho người d́ nh́n thấy thân thể được thành tựu ba mươi hai tướng trạng và được điểm tô với những hào quang xinh xắn trông giống như ánh mặt trời non trẻ từ đám mây chiều.

 

268. Phullāravindasaṅkāse taruṇādiccasappabhe,
cakkaṅkite pādatale tato sā sirasā pati.

Sau đó, bà Gotamī đă đê đầu ở ḷng bàn chân được in dấu h́nh bánh xe tợ như đóa hoa sen nở rộ, (và) chói sáng như mặt trời buổi b́nh minh.

 

269. “Paṇamāmi narādiccaṃ ādiccakulaketukaṃ,
pacchime maraṇe mayhaṃ na taṃ ikkhāmahaṃ puno.

Con xin đảnh lễ đấng mặt trời của nhân loại, vị tiêu biểu của ḍng dơi mặt trời. Đây là lần tử biệt cuối cùng của con, con không gặp Ngài nữa rồi.

 

270. Itthiyo nāma lokagga sabbadosakarā matā,
yadi ko catthi doso me khamassu karuṇākara.

Bạch đấng Tối Cao của thế gian, hàng nữ nhân tạo nên mọi điều xấu xa rồi chết đi. Và bạch đấng Thực Hành bi mẫn, nếu con có điều sai trái ǵ xin Ngài tha thứ.

 

271. Itthikānañca pabbajjaṃ yamahaṃ yāciṃ punappunaṃ,
tattha ce atthi doso me taṃ khamassu narāsabha.”

Và bạch đấng Nhân Ngưu, con đă liên tục cầu xin sự xuất gia cho hàng phụ nữ, trong việc này nếu con có điều sai trái, xin Ngài hăy thứ tha điều ấy.

 

272. Mayā bhikkhuniyo vīra tavānuññāya sāsitā,
tatra ce atthi dunnītaṃ taṃ khamassu khamādhipa.

Bạch đấng Đại Hùng, các tỳ khưu ni đă được con dạy dỗ với sự cho phép của Ngài. Bạch đấng Chúa Tể về kham nhẫn, trong trường hợp này nếu có vấn đề huấn luyện kém cỏi, xin Ngài hăy thứ tha điều ấy.”

 

273. “Akkhante nāma khantabbaṃ kiṃ bhave guṇabhūsane,
kimuttaraṃ te vakkhāmi nibbānāya vajantiyā.

Này người có đức hạnh là vật trang điểm, có thể kham nhẫn những điều gọi là không thể kham nhẫn th́ c̣n có việc ǵ? Ta sẽ nói điều ǵ hơn nữa về bà là người đang tiến đến Niết Bàn?

 

274. Suddhe anūne mama bhikkhusaṅghe
lokā ito nissarituṃ kamante,
pabhātakāle vyasanaṃ gahānaṃ
disvāna niyyāti va candalekhā.

Khi hội chúng tỳ khưu của Ta là thanh tịnh không khiếm khuyết đang tiến bước để ra khỏi thế gian này, ví như vầng trăng ra đi vào lúc rạng đông sau khi đă nh́n thấy sự biến mất dần của các v́ thiên thể.”

 

275. Tadetarā bhikkhuniyo jinaggaṃ
tārāva candānugatā sumeruṃ,

padakkhiṇaṃ katva nipacca pāde

ṭhitā mukhantaṃ samudikkhamānā.

Khi ấy, các vị tỳ khưu ni kia đă hướng vai phải nhiễu quanh đấng Chiến Thắng tối cao, trông giống như các v́ sao theo gót mặt trăng di chuyển xung quanh núi Sumeru, sau đó đă quỳ xuống đê đầu ở bàn chân (đức Phật) rồi đứng lên chiêm ngưỡng khuôn mặt (của Ngài).

 

276. “Na tittapubbaṃ tava dassanena
cakkhuṃ na sotaṃ tava bhāsitena,
cittaṃ mamaṃ kevalamekameva
pappuyya taṃ dhammarasena tittiṃ.

Mắt chưa có sự thỏa măn đối với việc nh́n ngắm Ngài, tai chưa có sự thoả măn đối với việc được (nghe) Ngài thuyết giảng, chỉ riêng một ḿnh tâm của con đă đạt được sự thoả măn ấy nhờ vào hương vị của Giáo Pháp.

 

277. Nadato parisāyaṃ te vādidappāpahārino,
ye te dakkhanti vadanaṃ dhaññā te narapuṅgava.

Bạch đấng Cao Quư của loài người, Ngài là vị đánh đổ sự kiêu căng của những người đối chất, khi Ngài đang tuyên thuyết ở hội chúng những người nào nh́n thấy khuôn mặt của Ngài, những người ấy là hữu duyên.

 

278. Dīghaṅgulī tambanakhe subhe āyatapaṇhike,
ye pāde paṇamissanti tepi dhaññā guṇandhara.

Bạch đấng có lóng (tay chân) dài, những người nào sẽ khom ḿnh ở bàn chân xinh đẹp có gót chân nhô ra, bạch bậc Thượng Đức, những người ấy cũng là hữu duyên.

 

279. Madhurāni pahaṭṭhāni dosagghāni hitāni ca,
ye te vākyāni sossanti tepi dhaññā naruttama.

Bạch đấng Thượng Nhân, những người nào sẽ lắng nghe những lời nói ngọt ngào, vui vẻ, tiêu diệt lỗi lầm, và có lợi ích của Ngài, những người ấy cũng là hữu duyên.

 

280. Dhaññāhaṃ te mahāvīra pādapūjanatapparā,
tiṇṇasaṃsārakantārā suvākyena sirīmato.”

Bạch đấng Đại Hùng, với sự nhiệt tâm trong việc lễ bái bàn chân (Ngài), con đă vượt qua khu rừng rậm luân hồi nhờ vào lời thiện thuyết của đấng Quang Vinh, con là hữu duyên với Ngài.

 

281. Tato sā anusāsetvā bhikkhusaṅghampi subbatā,
rāhulānandanande ca vanditvā idamabravi:

Sau đó, vị ni có hạnh kiểm tốt đẹp ấy cũng đă thông báo đến hội chúng tỳ khưu. Và sau khi đảnh lễ các vị Rāhula, Ānanda, Nanda, bà đă nói điều này:

 

282. “Āsīvisālayasame rogāvāse kalebare,
nibbinnā dukkhasaṃghāte jarāmaraṇagocare.

Ta nhờm gớm cái xác thân tợ như chỗ trú của rắn độc, là chỗ ngụ của bệnh tật, bị chồng chất khổ đau, là chốn lai văng của sự già và sự chết, ...

 

283. Nānākalimalākiṇṇe parāyatte nirīhake,
tena nibbātumicchāmi anumaññatha puttakā.”

... đầy rẫy nhiễm ô và tội lỗi, lệ thuộc vào người khác, không năng động. V́ thế Mẹ muốn Niết Bàn. Này các con trai, hăy thông cảm (cho Mẹ).”

 

284. Nando rāhulabhaddo ca vītasokā nirāsavā,
ṭhītācalaṭṭhītithīrā dhammataṃ anucintayuṃ.

Vị Nanda và bậc hiền thiện Rāhula, có sầu muộn đă ĺa, không c̣n lậu hoặc, bền vững, không bị lay động, chắc chắn, kiên quyết, đă suy xét về lẽ tự nhiên rằng:

 

285. Dhīratthu saṅkhataṃ lolaṃ asāraṃ kadalūpamaṃ,
māyāmarīcisadisaṃ ittaraṃ anavaṭṭhitaṃ.

Thật là xấu hổ cho (xác thân) bị tạo tác, chao đảo, không có lơi tương tợ như cây chuối, giống như tṛ xảo thuật hay ảo ảnh, ngắn ngủi, không bền vững.

 

286. Yattha nāma jinassāyaṃ mātucchā buddhaposikā,
gotamī nidhanaṃ yāti aniccaṃ sabbasaṅkhataṃ.”

Ngay cả bà Gotamī này, đối với đấng Chiến Thắng là người d́, là người nuôi dưỡng Đức Phật, rồi cũng đi đến sự tử vong; tất cả pháp hữu vi là vô thường.”

 

287. Ānando ca tadā sekho sokaṭṭo jinavacchalo,
tatthassūni dharanto so karuṇaṃ paridevati.

Và lúc bấy giờ, ngài Ānanda, vị có ḷng thương mến đối với đấng Chiến Thắng, là bậc hữu học, đă bị dằn vặt v́ sầu muộn. Tại đó, trong khi tuôn trào những giọt lệ, vị ấy rên rĩ nỗi tiếc thương:

 

288. “Hā santiṃ gotamī yāti nūna buddhopi nibbutiṃ,
gacchati na cireneva aggiriva nirindhano.”

Hỡi ôi! Bà Gotamī đi đến chốn thanh tịnh. Hiển nhiên, chẳng bao lâu nữa đức Phật cũng đi đến tịch diệt ví như ngọn lửa hết nguồn nhiên liệu.”

 

289. Evaṃ vilapamānaṃ taṃ Ānandaṃ āha gotamī:
“Sutisāgaragambhīra buddhupaṭṭhānatappara.

Bà Gotamī đă nói với vị Ānanda đang than văn ấy như vầy: “Này vị sâu sắc như biển cả về việc nghe (học hỏi). Này vị nhiệt tâm trong việc hầu cận đức Phật ...

 

290. Na yuttaṃ socituṃ putta hāsakāle upaṭṭhite,
tava me saraṇaṃ putta nibbānaṃ samupāgataṃ.

Này con trai, chớ miệt mài thương tiếc khi thời điểm cười vui đă đến đối với con. Này con trai, nơi nương nhờ của ta là Niết Bàn đă đến.

 

291. Tayā tāta samajjhiṭṭho pabbajjaṃ anujāni no,
mā putta vimano hohi saphalo te parissamo.

Này con yêu, được cầu khẩn bởi con (đức Phật) đă cho phép sự xuất gia đến chúng tôi. Này con trai, chớ có phiền muộn, sự nỗ lực của con là có kết quả.

 

292. Yaṃ na diṭṭhaṃ purāṇehi titthikācariyehi pi,
taṃ padaṃ sukumārīhi sattavassāhi veditaṃ.

Đạo lộ ấy thậm chí không được nh́n thấy bởi các vị ngoại đạo sư trước đây lại được biết đến bởi những bé gái hiền thiện bảy tuổi.