***
5031. Tisso nāmāsi bhagavā
sayambhū aggapuggalo,
paṃsukūlaṃ ṭhapetvāna vihāraṃ pāvisī jino.
Đức Thế Tôn, bậc Tự Chủ tên Tissa là nhân vật cao cả. Sau khi để qua tấm y may từ vải bị quăng bỏ, đấng Chiến Thắng đă đi vào trú xá.
5032. Vinataṃ dhanumādāya
bhakkhatthāya cariṃ ahaṃ,
maṇḍalaggaṃ gahetvāna kānanaṃ pāvisiṃ ahaṃ.
Sau khi cầm lấy cây cung đă được uốn cong, tôi đă bước đi v́ nhu cầu thức ăn. Tôi đă nắm lấy con dao cong và đă đi vào khu rừng rậm.
5033. Tatthaddasaṃ
paṃsukūlaṃ dumagge laggitaṃ tadā,
cāpaṃ tattheva nikkhippa sire katvāna añjaliṃ.
Khi ấy, tôi đă nh́n thấy tấm y may từ vải bị quăng bỏ được treo ở ngọn cây tại nơi ấy. Tôi đă để cây cung xuống ngay tại nơi ấy và đă chắp tay lên ở đầu.
5034. Pasannacitto sumano
vipulāya ca pītiyā,
buddhaseṭṭhaṃ saritvāna paṃsukūlaṃ avandahaṃ.
Với tâm hoan hỷ, với ư vui mừng, tôi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đă đảnh lễ tấm y may từ vải bị quăng bỏ với niềm phỉ lạc dạt dào.
5035. Dvenavute ito kappe
paṃsukūlamavandahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi vandanāya idaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă đảnh lễ tấm y may từ vải bị quăng bỏ cho đến chín mươi hai kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc đảnh lễ.
5036. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5037. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5038. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Paṃsukūlasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Paṃsukūlasaññaka[1] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Paṃsukūlasaññakattherassa apadānaṃ paṭhamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Paṃsukūlasaññaka là phần thứ nhất.
--ooOoo--
***
5039. Ajjhāyako mantadharo
tiṇṇaṃ vedāna pāragū,
lakkhaṇe itihāse ca sanighaṇḍusakeṭubhe.
Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, về tướng mạo, về truyền thống gồm cả văn tự và nghi thức.
5040. Nadīsotapaṭibhāgā
sissā āyanti me tadā,
tesāhaṃ mante vācemi rattindivamatandito.
Lúc bấy giờ, những người học tṛ đi đến với tôi tợ là làn nước chảy ở ḍng sông. Tôi dạy bọn họ về các chú thuật đêm ngày không biếng nhác.
5041. Siddhattho nāma
sambuddho loke uppajji tāvade,
tamandhakāraṃ nāsetvā ñāṇālokaṃ pavattayī.
Trong khi ấy, đấng Toàn Giác Siddhattha đă hiện khởi ở thế gian. Ngài đă xua đi điều tăm tối ấy và đă vận hành ánh sáng của trí tuệ.
5042. Mama aññataro sisso
sissānaṃ so kathesi me,
sutvāna te etamatthaṃ ārocesuṃ mamaṃ tadā.
Tôi có người đệ tử nọ, vị ấy đă thuật lại cho các đệ tử của tôi. Khi ấy, sau khi nghe được sự việc này, bọn họ đă nói với tôi rằng:
5043. “Buddho loke
samuppanno sabbaññū lokanāyako,
tassānuvattati jano lābho amhaṃ na hessati.”
“Đức Phật, đấng Toàn Tri, bậc Lănh Đạo Thế Gian đă hiện khởi ở trên đời. Dân chúng đi theo vị ấy, lợi lộc cho chúng ta sẽ không c̣n.”
5044. Adhiccuppattikā
buddhā cakkhumanto mahāyasā,
yannūnahaṃ buddhaseṭṭhaṃ passeyyaṃ lokanāyakaṃ.
(Tôi đă nói rằng): “Chư Phật, các bậc Hữu Nhăn có danh vọng lớn lao là những vị hiếm khi hiện khởi. Hay là ta nên nh́n thấy đức Phật tối thượng, đấng Lănh Đạo Thế Gian?”
5045. Ajinaṃ me gahetvāna
vākacīraṃ kamaṇḍaluṃ,
assamā abhinikkhamma sisse āmantayiṃ āha.
Tôi đă cầm lấy tấm da dê, bộ y phục vỏ cây, và túi đựng nước của tôi rồi đă rời khỏi khu ẩn cư. Tôi đă thông báo với các đệ tử rằng:
5046. “Odumbarikapupphaṃ ca
candamhi sasakaṃ yathā,
vāyasānaṃ yathā khīraṃ dullabhā lokanāyakā.
“Tương tợ như bông hoa của cây odumbara và chú thỏ ở mặt trăng, tương tợ như sữa của các con quạ, chư vị Lănh Đạo Thế Gian là khó mà đạt được.
5047. Buddho lokamhi
uppanno manussattampi dullabhaṃ,
ubhosu vijjamānesu savaṇaṃ ca sudullabhaṃ.
Đức Phật đă hiện khởi ở thế gian cũng như bản thể nhân loại là khó mà đạt được. Và trong khi có được cả hai, việc nghe (Giáo Pháp) là vô cùng khó khăn mà đạt được.
5048. Buddho loke
samuppanno cakkhuṃ lacchāma no bhavaṃ,
etha sabbe gamissāma sammāsambuddhasantikaṃ.”
Đức Phật đă hiện khởi ở thế gian. Này chư vị, chúng ta sẽ nhận được (Pháp) nhăn của chúng ta. Chư vị hăy đến, tất cả chúng ta sẽ đi gặp đấng Chánh Đẳng Giác.”
5049. Kamaṇḍaludharā sabbe
kharājinanivāsino,
te jaṭābhārabharitā nikkhamuṃ vipinā tadā.
Khi ấy, tất cả các vị ấy đều mang túi đựng nước, mặc y phục da dê thô xấu, quấn búi tóc rối đă rời khỏi khu rừng.
5050. Yugamattaṃ pekkhamānā
uttamatthagavesino,
āsattidosarahitā asambhitāva kesarī.
Những vị tầm cầm mục đích tối thượng (ấy) trong khi nh́n với khoảng cách của cán cày, không c̣n các vướng bận và sân hận, tợ như những con sư tử không bị hăi sợ.
5051. Appakicchā aloluppā
nipakā santavuttino,
uñchāya caramānā te buddhaseṭṭhaṃ upāgamuṃ.
Ít bị bận rộn, không tham lam, thận trọng, có hành vi thanh tịnh, các vị ấy trong khi lang thang cho việc kiếm sống đă đi đến gần đức Phật tối thượng.
5052. Diyaḍḍhayojane sese
vyādhi me upapajjatha,
buddhaseṭṭhaṃ saritvāna tattha kālakato ahaṃ.
Khi chỉ c̣n một do-tuần rưỡi, có cơn bệnh đă sanh khởi đến tôi. Sau khi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng, tôi đă qua đời ở tại nơi ấy.
5053. Catunavute ito kappe
yaṃ saññamalabhiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhasaññā idaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă đạt được sự tưởng niệm cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc tưởng nhớ đến đức Phật.
5054. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5055. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5056. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Buddhasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Buddhasaññaka[2] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Buddhasaññakattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Buddhasaññaka là phần thứ nh́.
--ooOoo--
***
5057. Ogayhāhaṃ pokkharaṇiṃ
nānākuñjarasevitaṃ,
uddharāmi bhisaṃ tattha ghāsahetu ahaṃ tadā.
Lúc bấy giờ, tôi đă lội xuống hồ nước đă bị nhiều con voi sử dụng, và v́ lư do đói (bụng) tôi (đă) nhổ lên củ sen ở tại nơi ấy.
5058. Bhagavā tamhi samaye
padumuttarasavhayo,
rattambaradharo buddho gacchati anilañjase.
Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn danh hiệu Padumuttara là vị Phật mặc y màu đỏ (đang) di chuyển ở trên không trung.
5059. Dhunanto paṃsukūlāni
saddamassosahaṃ tadā,
uddhaṃ nijjhāyamānohaṃ addasaṃ lokanāyakaṃ.
Khi ấy, trong khi Ngài đang phất phơ các lá y may từ vải bị quăng bỏ, tôi đă nghe được tiếng động. Trong khi chú ư ở phía bên trên, tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian.
5060. Tattheva ṭhitako
santo āyāciṃ lokanāyakaṃ,
madhuṃ bhisehi sahitaṃ khīraṃ sappiṃ muḷālikaṃ.
5061. Patigaṇhātu me buddho
anukampāya cakkhumā,
tato kāruṇiko satthā oruhitvā mahāyaso.
Trong khi đứng ngay tại nơi ấy, tôi đă thỉnh cầu đấng Lănh Đạo Thế Gian rằng: “Xin đức Phật, bậc Hữu Nhăn, v́ ḷng thương tưởng hăy thọ lănh mật ong cùng với các củ sen, sữa, bơ lỏng, và rễ sen của con.” Do đó, đấng Bi Mẫn, bậc Đạo Sư có danh vọng lớn lao, đă ngự xuống.
5062. Paṭigaṇhi mamaṃ
bhikkhaṃ anukampāya cakkhumā,
paṭiggahetvā sambuddho akā me anumodanaṃ.
Bậc Hữu Nhăn v́ ḷng thương tưởng đă thọ nhận vật thực của tôi. Sau khi thọ nhận, bậc Toàn Giác đă thực hiện lời tùy hỷ đến tôi rằng:
5063. “Sukhī hohi mahāpuñña
gati tuyhaṃ samijjhatu,
iminā bhisadānena labhassu vipulaṃ sukhaṃ.”
“Này người có đại phước, mong rằng ngươi được an lạc. Mong rằng cảnh giới tái sanh được thành tựu cho ngươi. Do việc dâng cúng củ sen này, ngươi sẽ đạt được sự an lạc lớn lao.”
5064. Idaṃ vatvāna
sambuddho jalajuttamanāmako,
bhikkhamādāya sambuddho ambaren’ agamā jino.
Sau khi nói lên điều ấy, đấng Toàn Giác tên Padumuttara, bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng đă cầm lấy thức ăn rồi đă ra đi bằng đường không trung.
5065. Tato bhisaṃ gahetvāna
āgacchiṃ mama assamaṃ,
bhisiṃ rukkhe lagetvāna mama dānaṃ anussariṃ.
Sau đó, tôi đă cầm lấy củ sen và đă đi về lại khu ẩn cư của ḿnh. Sau khi đă treo củ sen ở trên cây, tôi đă tưởng nhớ lại việc dâng cúng của ḿnh.
5066. Mahāvāto vuṭṭhahitvā
sañcālesi vanaṃ tadā,
ākāso abhinādittha asaniyā phalantiyā.
Khi ấy, có cơn gió lớn đă nổi lên và đă làm lay chuyển khu rừng. Bầu trời đă gào thét bởi sấm sét đang nổ ra.
5067. Tato me asanīpāto
matthake nipatī tadā,
sohaṃ nisinnako santo tattha kālakato ahuṃ.
Sau đó, tia sét đánh xuống đă giáng vào đầu của tôi. Khi ấy, trong khi bị khuỵu xuống tôi đây đă ĺa đời ở tại nơi ấy.
5068. Puññakammena saṃyutto
tusitaṃ upapajjahaṃ,
kalebaraṃ me patitaṃ devaloke ramiṃ ahaṃ.
Được gắn liền với nghiệp phước thiện, tôi đă đi đến cơi trời Đẩu Suất. (Khi) thân thể của tôi bị ngă xuống, tôi đă vui sướng ở thế giới chư Thiên.
5069. Chaḷāsītisahassāni
nāriyo samalaṅkatā,
sāyapātaṃ upaṭṭhanti bhisadānassidaṃ phalaṃ.
Có tám mươi sáu ngàn nữ nhân đă được trang điểm hầu cận sáng tối; điều này là quả báu của việc dâng cúng củ sen.
5070. Manussayonimāgantvā
sukhito homahaṃ sadā,
bhoge me ūnatā natthi bhisadānassidaṃ phalaṃ.
Sau khi đi đến sự sanh ra ở loài người, tôi luôn luôn được sung sướng. Tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc dâng cúng củ sen.
5071. Anukampitako tena
devadevena tādinā,
sabbāsavaparikkhīṇo natthidāni punabbhavo.
Là người được thương tưởng bởi vị Trời của chư Thiên như thế ấy, tôi đă được cạn kiệt tất cả các lậu hoặc, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.
5072. Satasahasse ito kappe
yaṃ bhikkhamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi bhisadānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thực cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng củ sen.
5073. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5074. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5075. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Bhisadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Bhisadāyaka[3] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bhisadāyakattherassa apadānaṃ tatiyaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Bhisadāyaka là phần thứ ba.
--ooOoo--
***
5076. Dakkhiṇe himavantassa
sukato assamo mama,
uttamatthaṃ gavesanto vasāmi vipine tadā.
Khu ẩn cư của tôi được xây dựng khéo léo ở phía nam của núi Hi-mă-lạp. Vào lúc bấy giờ, trong khi tầm cầu mục đích tối thượng tôi cư ngụ ở trong rừng.
5077. Lābhālābhena
santuṭṭho mūlena ca phalena ca,
anvesanto ācariyaṃ vasāmi ekako ahaṃ.
Trong lúc t́m kiếm vị thầy, tôi sống mỗi một ḿnh với rễ và trái cây, hài ḷng với việc có hay không có.
5078. Sumedho nāma
sambuddho loke uppajji tāvade,
catusaccaṃ pakāseti uddharanto mahājanaṃ.
Trong khi ấy, đấng Toàn Giác tên Sumedha đă hiện khởi ở thế gian. Trong lúc tiếp độ đám đông dân chúng, Ngài công bố về bốn Sự Thật.
5079. Nāhaṃ suṇomi
sambuddhaṃ napi me koci bhāsati,
aṭṭhavasse atikkante assosiṃ lokanāyakaṃ.
Tôi không được nghe về đấng Toàn Giác, cũng không có ai nói với tôi. Khi tám năm đang trôi qua, tôi đă nghe về đấng Lănh Đạo Thế Gian.
5080. Aggidāruṃ nīharitvā
sammajjitvāna assamaṃ,
khāribhāraṃ gahetvāna nikkhamiṃ vipinā ahaṃ.
Sau khi dập tắt củi lửa và quét dọn khu ẩn cư, tôi đă cầm lấy gói vật dụng và đă rời khỏi khu rừng.
5081. Ekarattiṃ vasantohaṃ
gāmesu nigamesu ca,
anupubbena candavatiṃ tadāhaṃ upasaṅkamiṃ.
Trong khi cư ngụ chỉ một đêm ở các ngôi làng và các khu phố chợ, khi ấy theo tuần tự tôi đă đi đến gần con sông Candavatī.
5082. Bhagavā tamhi samaye
sumedho lokanāyako,
uddharanto bahū satte deseti amataṃ padaṃ.
Vào thời điểm ấy, trong lúc tiếp độ nhiều chúng sanh, đức Thế Tôn đấng Lănh Đạo Thế Gian Sumedha thuyết giảng về đạo lộ Bất Tử.
5083. Janakāyamatikkamma
vanditvā jinasāgaraṃ,
ekaṃsaṃ ajinaṃ katvā santhaviṃ lokanāyakaṃ:
Tôi đă vượt qua đám đông người và đă đảnh lễ đấng Chiến Thắng sánh tợ đại dương. Tôi đă khoác tấm da dê một bên vai rồi đă ngợi ca đấng Lănh Đạo Thế Gian rằng:
5084. “Tuvaṃ satthā ca ketu
ca dhajo yūpo ca pāṇinaṃ,
parāyaṇo patiṭṭhā ca dīpo ca dipaduttamo.
“Ngài là đấng Tối Thượng của loài người, là bậc thầy, là cờ hiệu, là ngọn cờ, là chốn để hy sinh, là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ, là ngọn đèn của chúng sanh.
(Ekavīsatimo bhāṇavāro).
(Tụng phẩm thứ hai mươi mốt).
5085. Nepuñño dassane vīro
tāresi janataṃ tuvaṃ,
natthañño tārako loke tavuttaritaro mune.
Bạch bậc Hiền Triết, Ngài là bậc khôn khéo về kiến thức, là đấng Anh Hùng đă giúp cho chúng sanh vượt qua, ở thế gian không có người nào khác là đấng Tiếp Độ, không ai là trội hơn Ngài.
5086. Sakkā have kusaggena
pametuṃ sāgaruttamo,
natveva tava sabbaññū ñāṇaṃ sakkā pametave.
Biển cả vĩ đại hiển nhiên là có thể đo lường bằng đầu ngọn cỏ kusa, tuy nhiên bạch đấng Toàn Tri, trí tuệ của Ngài là không thể đo lường được.
5087. Tulāmaṇḍale
ṭhapetvāna mahiṃ sakkā dharetave,
natveva tava paññāya pamāṇaṃ atthi cakkhuma.
Bạch đấng Hữu Nhăn, sau khi đặt trái đất lên đĩa cân là có thể xác định, tuy nhiên sự đo lường trí tuệ của Ngài là không thể có.
5088. Ākāso minituṃ sakkā
rajjuyā aṅgulena vā,
natveva tava sabbaññū sīlaṃ sakkā pametave.
Không gian có thể ước lượng bằng sợi dây thừng hoặc bằng ngón tay, tuy nhiên bạch đấng Toàn Tri, giới hạnh của Ngài là không thể đo lường.
5089. Mahāsamudde udakaṃ
ākāso ca vasundharā,
parimeyyāni etāni appameyyosi cakkhuma.”
Bạch đấng Hữu Nhăn, nước ở đại dương, bầu trời, và trái đất, những vật này là có thể đo lường, c̣n Ngài là không thể đo lường.”
5090. Chahi gāthāhi
sabbaññuṃ kittayitvā mahāyasaṃ,
añjaliṃ paggahetvāna tuṇhī aṭṭhāsahaṃ tadā.
Sau khi đă tán dương đấng Toàn Tri có danh vọng lớn lao bằng sáu câu kệ ngôn, khi ấy tôi đă chắp tay lên rồi đứng im lặng.
5091. Yaṃ vadanti sumedhoti
bhūripaññaṃ sumedhasaṃ,
bhikkhusaṅghe nisīditvā imā gāthā abhāsatha:
Người ta nói về người có tuệ bao la, sáng suốt là “bậc trí tuệ.” Ngài đă ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đă nói lên những lời kệ này:
5092. “Yo me ñāṇaṃ
pakittesi pasanno sena cetasā,
tamahaṃ kittayissāmi suṇotha mama bhāsato:
“Người nào, được tịnh tín, đă tán dương trí tuệ của Ta bằng tâm ư của ḿnh, ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.
5093. Sattasattatikappāni
devaloke ramissati,
sahassakkhattuṃ devindo devarajjaṃ karissati.
Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong bảy mươi bảy kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần.
5094. Anekasatakkhattuñca
cakkavattī bhavissati,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
Và (người này) sẽ là vị Chuyển Luân Vương hàng trăm lần. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
5095. Devabhūto manusso vā
puññakammasamāhito,
anūnamanasaṅkappo tikkhapañño bhavissati.
Được hội tụ lại bởi nghiệp phước thiện, dầu trở thành vị Thiên nhân hay là nhân loại, (người này) sẽ có tuệ nhạy bén, tâm tư không bị kém sút.
5096. Tiṃsakappasahassamhi
okkākakulasambhavo,
gotamo nāma nāmena satthā loke bhavissati.
Vào ba chục ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
5097. Agārā abhinikkhamma
pabbajissatakiñcano,
jātiyā sattavassena arahattaṃ phusissati.”
Sau khi ĺa khỏi gia đ́nh, (người này) sẽ xuất gia, không c̣n sở hữu ǵ, và sẽ chạm đến quả vị A-la-hán vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh.”
5098. Yato sarāmi attānaṃ
yato pattosmi sāsanaṃ,
etthantare na jānāmi cetanaṃ amanoramaṃ.
Từ khi tôi nhớ lại bản thân, từ khi tôi đạt được Giáo Pháp, trong khoảng thời gian này tôi không biết đến tâm tư không được thích ư.
5099. Saṃsaritvā bhave
sabbe sampattānubhaviṃ ahaṃ,
bhoge me ūnatā natthi phalaṃ ñāṇassa thomane.
Tôi đă luân hồi ở tất cả các cơi và đă thọ hưởng đầy đủ, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.
5100. Tivaggī nibbutā
mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.
Ba ngọn lửa của tôi đă được dập tắt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.
5101. Tiṃsakappasahassamhi
yaṃ ñāṇamabhithomayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi phalaṃ ñāṇassa thomane.
Kể từ khi tôi đă ngợi ca trí tuệ cho đến ba chục ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.
5102. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5103. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5104. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ñāṇatthaviko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Ñāṇatthavika[4] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ñāṇatthavikattherassa apadānaṃ catutthaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Ñāṇatthavika là phần thứ tư.
--ooOoo--
***
5105. Pañcakāmaguṇe hitvā
piyarūpe manorame,
asītikoṭiyo hitvā pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Sau khi từ bỏ năm phần dục lạc, các sắc yêu quư, các vật thích ư, tôi đă từ bỏ tám mươi koṭi và đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.
5106. Pabbajitvāna kāyena
pāpakammaṃ vivajjayiṃ,
vacīduccaritaṃ hitvā nadīkūle vasāmahaṃ.
Sau khi xuất gia, tôi đă tránh xa nghiệp ác do thân. Sau khi từ bỏ ác hạnh do khẩu, tôi cư ngụ ở bờ sông.
5107. Ekakaṃ maṃ viharantaṃ
buddhaseṭṭho upāgami,
nāhaṃ jānāmi buddhoti akāsiṃ paṭisantharaṃ.
Trong khi tôi đang sống mỗi một ḿnh, đức Phật tối thượng đă đi đến gặp tôi. Tôi không biết về “Đức Phật.” Tôi đă thực hiện việc chào hỏi.
5108. Karitvā paṭisanthāraṃ
nāmagottamapucchahaṃ,
devatānu ’si gandhabbo ādu sakko purindado.
Sau khi thực hiện việc chào hỏi, tôi đă hỏi tên và ḍng họ: “Phải chăng ngài là Thiên thần, là vị Càn-thát-bà, hay là Chúa của chư Thiên Sakka?
5109. Ko vā tvaṃ kassa vā
putto mahābrahmā idhāgato,
virocesi disā sabbā udayaṃ suriyo yathā.
Ngài là ai? Là con trai của ai? Phải chăng vị Đại Phạm Thiên đă đi đến nơi đây? Ngài tỏa sáng tất cả các phương giống như là mặt trời đang mọc.
5110. Sahassārāni cakkāni
pāde dissanti mārisa,
ko vā tvaṃ kassa vā putto kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ,
nāmagottaṃ pavedehi saṃsayaṃ apanehi me.
Thưa ngài, một ngàn cây căm bánh xe được thấy ở bàn chân. Ngài là ai? Là con trai của ai? Làm thế nào chúng tôi nhận biết ngài? Xin ngài cho biết tên và ḍng họ, xin ngài hăy xua đi nỗi nghi hoặc của tôi.”
5111. “Namhi devo na
gandhabbo nāpi sakko purindado,
brahmabhāvo ca me natthi etesaṃ uttamo ahaṃ.
“Ta không phải là Thiên thần, không phải là Càn-thát-bà, cũng không phải là Chúa của chư Thiên Sakka. Và Ta cũng không có bản thể của Phạm Thiên, đối với các vị này Ta là bậc Tối Thượng.”
5112. Atīto visayaṃ tesaṃ
dālayiṃ kāmabandhanaṃ,
sabbe kilese jhāpetvā patto sambodhimuttamaṃ.”
Ta đă vượt lên phạm vi của các vị ấy, ta đă cắt ĺa sự trói buộc của các dục. Sau khi thiêu đốt tất cả các phiền năo, ta đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.”
5113. Tassa vācaṃ
suṇitvāhaṃ idaṃ vacanamabraviṃ:
“Yadi buddhosi sabbaññū nisīda tvaṃ mahāmuni,
tamhaṃ pūjayissāmi dukkhassantakaro tuvaṃ.”
Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, tôi đă nói lời nói này: “Bạch đấng Đại Hiền Triết, nếu Ngài là đức Phật, đấng Toàn Tri, bậc làm chấm dứt khổ đau, xin thỉnh Ngài ngồi xuống, tôi sẽ cúng dường Ngài.”
5114. Pattharitvājinacammaṃ
adāsiṃ satthuno ahaṃ,
nisīdi tattha bhagavā sīhova girigabbhare.
Tôi đă trải ra tấm da dê và tôi đă dâng cúng đến đấng Đạo Sư. Đức Thế Tôn đă ngồi xuống ở tại nơi ấy tợ như con sư tử (ngồi xuống) ở hang núi.
5115. Khippaṃ
pabbatamāruyha ambassa phalamaggahiṃ,
sālakalyāṇikaṃ pupphaṃ candanaṃ ca mahārahaṃ.
Tôi đă cấp tốc leo lên ngọn núi và đă hái trái xoài, bông hoa sālā xinh xắn, và gỗ trầm hương vô cùng giá trị.
5116. Khippaṃ paggayha taṃ
sabbaṃ upetvā lokanāyakaṃ,
phalaṃ buddhassa datvāna sālapupphamapūjayiṃ.
Tôi đă nâng lên cao tất cả các thứ ấy và đă mau chóng đi đến gần đấng Lănh Đạo Thế Gian. Tôi đă dâng cúng trái cây và đă cúng dường bông hoa sālā đến đức Phật.
5117. Candanaṃ anulimpitvā
avandiṃ satthuno ahaṃ,
pasannacitto sumano vipulāya ca pītiyā.
Với tâm hoan hỷ, với ư vui mừng, tôi đă thoa trầm hương và đă đảnh lễ bậc Đạo Sư với niềm phỉ lạc dạt dào.
5118. Ajinamhi nisīditvā
sumedho lokanāyako,
mama kammaṃ pakittesi haṃsayanto mamaṃ tadā:
Khi ấy, đấng Lănh Đạo Thế Gian Sumedha đă ngồi xuống ở tấm da dê. Trong khi làm cho tôi được hoan hỷ, Ngài đă tán dương việc làm của tôi rằng:
5119. “Iminā phaladānena
gandhamālehi cūbhayaṃ,
pañcavīse kappasate devaloke ramissati,
anūnamanasaṃkappo vasavattī bhavissati.
“Do cả hai việc dâng cúng trái cây cùng với hương thơm tràng hoa này, (người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong hai trăm năm mươi kiếp, và sẽ trở thành người vận dụng quyền lực với tâm tư không bị sút kém.
5120. Chabbīsatikappasate
manussattaṃ gamissati,
bhavissati cakkavattī cāturanto mahiddhiko.
(Người này) sẽ đi đến bản thể nhân loại trong hai ngàn sáu trăm kiếp và sẽ trở thành vị Chuyển Luân Vương có đại thần lực (chinh phục) bốn phương.
5121. Vebhāraṃ nāma nagaraṃ
vissakammena māpitaṃ,
hessati sabbasovaṇṇaṃ nānāratanabhūsitaṃ.
Có thành phố tên là Vebhāra toàn bằng vàng được tô điểm với châu báu các loại sẽ được hóa hiện ra bởi vị thần Vissakamma.
5122. Eteneva upāyena
saṃsarissati so bhave,
sabbattha pūjito hutvā devatte atha mānuse,
pacchime bhave sampatte brahmabandhu bhavissati.
Theo phương cách này đây, người ấy sẽ luân hồi các cơi. Dầu ở bản thể Thiên nhân hay nhân loại, (người này) sẽ được tôn vinh ở khắp mọi nơi. Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, (người này) sẽ là thân quyến của đấng Phạm Thiên.[5]
5123. Agārā abhinikkhamma
anagārī bhavissati,
abhiññāpāragū hutvā nibbāyissatanāsavo.”
Sau khi ĺa khỏi gia đ́nh, (người này) sẽ trở thành người không có gia đ́nh, sẽ thông suốt về các thắng trí, và sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”
5124. Idaṃ vatvāna
sambuddho sumedho lokanāyako,
mama nijjhāyamānassa pakkāmi anilañjase.
Nói xong điều này, trong lúc tôi đang trầm tư, bậc Toàn Giác đấng Lănh Đạo Thế Gian Sumedha đă ra đi bằng đường không trung.
5125. Tena kammena sukatena
cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
5126. Tusitāto cavitvāna
nibbattiṃ mātukucchiyaṃ,
bhoge me ūnatā natthi yamhi gabbhe vasāmahaṃ.
Sau khi mệnh chung từ cơi trời Đẩu Suất, tôi đă tái sanh vào bụng mẹ. Khi tôi sống ở trong bào thai, tôi không có thiếu hụt về sự thọ hưởng.
5127. Mātukucchigate mayhaṃ
annaṃ pānañca bhojanaṃ,
mātuyā mama chandena nibbattati yadicchakaṃ.
Khi tôi đă ở trong bụng mẹ, do ước muốn của tôi, thức ăn nước uống và vật thực cho người mẹ được sanh lên theo như ư thích.
5128. Jātiyā pañcavassena
pabbajiṃ anagāriyaṃ,
oropitamhi kesamhi arahattamapāpuṇiṃ.
Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Khi tóc (cạo) được rơi xuống, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.
5129. Pubbakammaṃ gavesanto
orena nāddasaṃ ahaṃ,
tiṃsakappasahassamhi mama kammaṃ anussariṃ.
Trong lúc suy tầm về nghiệp quá khứ, tôi đă nh́n thấy không phải là kém cỏi, tôi đă nhớ lại việc làm của tôi trong ba mươi ngàn kiếp.
5130. Namo te purisājañña
namo te purisuttama,
tava sāsanamāgamma pattomhi acalaṃ padaṃ.
“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Sau khi đi đến với Giáo Pháp của Ngài, con đă đạt được vị thế bất động.”
5131. Tiṃsakappasahassamhi
yaṃ buddhamabhipūjayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă cúng dường đức Phật cho đến ba mươi ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
5132. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5133. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5134. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Candanamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Candanamāliya[6] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Candanamāliyattherassa apadānaṃ pañcamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Candanamāliya là phần thứ năm.
--ooOoo--
***
5135. Nibbute lokanāthamhi
siddhatthe lokanāyake,
mama ñātī samānetvā dhātupūjaṃ akāsahaṃ.
Khi đấng Bảo Hộ thế gian, bậc Lănh Đạo thế gian Siddhattha Niết Bàn, tôi đă đưa các thân quyến của tôi đến và tôi đă thực hiện việc cúng dường xá-lợi.
5136. Catunavute ito kappe
yaṃ dhātumabhipūjayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi dhātupūjāyidaṃ phalaṃ.
Việc tôi đă cúng dường xá-lợi kể từ đây cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường xá-lợi.
5137. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5138. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5139. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Dhātupūjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Dhātupūjaka[7] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Dhātupūjakattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Dhātupūjaka là phần thứ sáu.
--ooOoo--
***
5140. Pabbate himavantamhi
devaḷo nāma tāpaso,
tattha me caṅkamo āsi amanussehi māpito.
Ở ngọn núi Hi-mă-lạp, (tôi là) vị đạo sĩ khổ hạnh tên Devaḷa. Con đường kinh hành của tôi ở tại nơi ấy đă được tạo nên bởi các vị phi nhân.
5141. Jaṭābhārena bharito
kamaṇḍaludharo tadā,
uttamatthaṃ gavesanto pavanā abhinikkhamiṃ.
Lúc bấy giờ, (tôi) là vị quấn búi tóc rối mang túi đựng nước, trong khi tầm cầu mục đích tối thượng, tôi đă rời khỏi khu rừng.
5142. Cullāsītisahassāni
sissā mayhaṃ upaṭṭhahuṃ,
sakakammābhipasutā vasanti pavane tadā.
Khi ấy, tám mươi bốn ngàn người đệ tử đă phục vụ tôi. Được sanh ra theo nghiệp của ḿnh, các vị sống ở trong khu rừng.
5143. Assamā abhinikkamma
akaṃ pulinacetiyaṃ,
nānāpupphaṃ samānetvā taṃ cetiyamapūjayiṃ.
Sau khi rời khỏi khu ẩn cư, tôi đă tạo nên ngôi bảo tháp bằng cát. Tôi đă gom góp các bông hoa các loại và đă cúng dường ngôi bảo tháp ấy.
5144. Tattha cittaṃ
pasādetvā assamaṃ pavisāmahaṃ,
sabbe sissā samāgantvā etamatthamapucchu maṃ.
Ở tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tính, tôi đi vào khu ẩn cư. Tất cả các người đệ tử đă tụ hội lại và đă hỏi tôi về sự việc này:
5145. “Pulinena kate thūpe
yaṃ tvaṃ devaṃ namassasi,
mayampi ñātumicchāma puṭṭho ācikkha no tuvaṃ.”
“Chúng tôi cũng muốn biết ngài sẽ tôn kính vị Thiên thần nào ở ngôi bảo tháp đă được xây dựng bằng cát. Được hỏi, xin ngài hăy giải thích cho chúng tôi.”
5146. Niddiṭṭhā no
mantapade cakkhumanto mahāyasā,
te kho ahaṃ namassāmi buddhaseṭṭhe mahāyase.
“Các đấng Hữu Nhăn có danh vọng lớn lao đă được xác định rơ ở trong câu chú thuật của chúng ta. Đương nhiên, ta sẽ tôn kính các vị Phật tối thượng có danh vọng lớn lao ấy.”
5147. “Kīdisā te mahāvīrā
sabbaññū lokanāyakā,
kathaṃ vaṇṇā kathaṃ sīlā kīdisā te mahāyasā?”
“Các bậc Đại Hùng, các đấng Toàn Tri, các vị Lănh Đạo Thế Gian ấy là như thế nào? Màu da thế nào? Giới hạnh thế nào? Các vị có danh vọng lớn lao ấy là như thế nào?”
5148. Battiṃsalakkhaṇā
buddhā cattārīsadvijāpi ca,
nettā gopakhumā tesaṃ jiñjukāphalasannibhā.
“Chư Phật có ba mươi hai tướng trạng, và cũng có bốn mươi cái răng. Với lông mi dài như của ḅ cái tơ, các con mắt của các vị ấy trông giống như trái cam thảo rừng.
5149. Gacchamānā ca te
buddhā yugamattaṃva pekkhare,
na tesaṃ jāṇu nadati sandhisaddo na suyyati.
Và trong khi bước đi, chư Phật ấy chỉ nh́n với khoảng cách của cán cày. Đầu gối của các vị ấy không phát tiếng, âm thanh của các khớp không nghe được.
5150. Gacchamānā ca sugatā
uddharantāva gacchare,
paṭhamaṃ dakkhiṇaṃ pādaṃ buddhānaṃ esa dhammatā.
Và trong khi bước đi, các đấng Thiện Thệ bước đi đều nhấc lên bàn chân phải trước tiên; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
5151. Asambhītā ca te buddhā migarājāva kesarī,
nevukkaṃsenti attānaṃ no ca vambhenti pāṇinaṃ.
Và chư Phật ấy không bị hăi sợ tương tợ như con sư tử chúa của loài thú. Các vị chẳng bao giờ ca tụng bản thân và không khinh miệt các hạng chúng sanh.
5152. Mānāvamānato muttā
samā sabbesu pāṇisu,
anattukkaṃsakā buddhā buddhānaṃ esa dhammatā.
Được thoát khỏi sự kiêu ngạo và chê bai, là b́nh đẳng đối với tất cả sanh linh, chư Phật là những vị không ca tụng chính ḿnh; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
5153. Uppajjantā ca
sambuddhā ālokaṃ dassayanti te,
chappakāraṃ pakampenti kevalaṃ vasudhaṃ imaṃ.
Và trong khi được sanh ra, chư Phật Toàn Giác ấy thị hiện ánh sáng và làm toàn thể trái đất này rung chuyển theo sáu cách.
5154. Passanti nirayaṃ cete
nibbāti nirayo tadā,
pavassati mahāmegho buddhānaṃ esa dhammatā.
Và chư vị này nh́n thấy địa ngục, khi ấy địa ngục được tiêu diệt, có đám mây lớn đổ mưa; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
5155. Edisā te mahānāgā
atulyā ca mahāyasā,
vaṇṇato anatikkantā appameyyā tathāgatā.
Các bậc Đại Long ấy là như thế, và có danh vọng lớn lao không thể sánh bằng, không bị vượt trội về thể h́nh, các đấng Như Lai là vô lượng.”
5156. Anumodiṃsu me vākyā
sabbe sissā sagāravā,
tathā ca paṭipajjiṃsu yathāsatti yathābalaṃ.
Tất cả các người đệ tử đă tùy hỷ những lời nói của tôi với sự kính trọng. VÀ họ đă thực hành theo đúng như thế, tùy theo sức mạnh, tùy theo năng lực.
5157. Patipūjenti pulinaṃ
sakakammābhilāsino,
saddahantā mamaṃ vākyaṃ buddhattagatamānasā.
Trong khi tin tưởng lời nói của tôi, những đệ tử có sự mong mỏi về nghiệp của ḿnh tôn vinh (ngôi bảo tháp) cát với tâm ư hướng về bản thể đức Phật.
5158. Tadā cavitvā tusitā
devaputto mahāyaso,
uppajji mātukucchismiṃ dasasahassī pakampatha.
Vào lúc bấy giờ, vị Thiên tử có danh vọng lớn lao sau khi mệnh chung ở cơi trời Đẩu Suất đă sanh vào bụng mẹ, mười ngàn thế giới đă rung động.
5159. Assamassāvidūramhi
caṅkamamhi ṭhito ahaṃ,
sabbe sissā samāgantvā āgacchuṃ mama santikaṃ.
Tôi đă đứng ở đường kinh hành không xa khu ẩn cư. Tất cả các đệ tử đă tụ tập lại và đă đi đến ở bên tôi (hỏi rằng):
5160. Usabho ’va mahī
nadati migarājā ’va kūjati,
suṃsumāro ’va salati kiṃ vipāko bhavissati.
“Trái đất gầm thét như loài ḅ mộng, rống lên như loài sư tử, khuấy động như loài cá sấu, sẽ có hậu quả ǵ đây?”
5161. “Yaṃ pakittemi
sambuddhaṃ sikatāthūpasantike,
so dāni bhagavā satthā mātukucchimupāgami.”
“Đấng Toàn Giác mà ta tán dương lúc ở gần ngôi bảo tháp bằng cát, giờ đây đức Thế Tôn bậc Đạo Sư ấy đă nhập vào bụng mẹ.”
5162. Tesaṃ dhammakathaṃ
katvā kittayitvā mahāmuniṃ,
uyyojetvā sake sisse pallaṅkaṃ ābhujiṃ ahaṃ.
Sau khi thực hiện việc giảng pháp cho họ và tán dương bậc Đại Hiền Triết, tôi đă giải tán các đệ tử của ḿnh rồi đă xếp vào thế kiết già.
5163. Balañca vata me
khīṇaṃ vyādhito paramenahaṃ,
buddhaseṭṭhaṃ saritvāna tattha kālakato ahaṃ.
Và sức lực của tôi quả nhiên đă cạn kiệt, tôi đă bị bệnh một cách trầm trọng. Tôi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đă mệnh chung ở tại nơi ấy.
5164. Sabbe sissā
samāgantvā akaṃsu citakaṃ tadā,
kalebaraṃ ca me gayha citakaṃ abhiropayuṃ.
Khi ấy, tất cả các người đệ tử đă tụ hội lại và đă thực hiện giàn hỏa táng. Và sau khi nắm lấy thi thể của tôi họ đă đặt lên giàn hỏa táng.
5165. Citakaṃ parivāretvā
sīse katvāna añjaliṃ,
sokasallaparetā te vikandiṃsu samāgatā.
Các vị ấy đă tụ hội lại, vây quanh giàn hỏa táng, và đă chắp tay lên ở đầu. Bị ưu phiền bởi mũi tên sầu muộn, các vị ấy đă khóc rống lên.
5166. Tesaṃ lālappamānānaṃ
agamāsiṃ citantikaṃ,
“Ahaṃ ācariyo tumhaṃ mā socittha sumedhasā.
Trong khi các vị ấy đang than văn, tôi đă đi đến gần giàn hỏa táng (nói rằng): “Này các bậc trí tuệ, ta là thầy của các ngươi, các ngươi chớ có sầu muộn.
5167. Sadatthe vāyameyyātha
rattindivamatanditā,
mā vo pamattā ahuvattha khaṇo vo paṭipādito.”
Các ngươi hăy nên nỗ lực cho lợi ích của ḿnh đêm ngày không biếng nhác. Các ngươi chớ trở nên xao lăng, thời khắc của các ngươi đă được xếp đặt.”
5168. Sake sissenusāsitvā
devalokaṃ punāgamiṃ,
aṭṭhārasa ca kappāni devaloke ramiṃ ahaṃ.
Sau khi chỉ dạy các đệ tử của ḿnh, tôi đă trở lại thế giới chư Thiên. Và tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên mười tám kiếp.
5169. Satānaṃ
pañcakkhattuñca cakkavattī ahosahaṃ,
anekasatakkhattuñca devarajjamakārayiṃ.
Và tôi đă trở thành vị Chuyển Luân Vương năm trăm lần và đă cai quản Thiên quốc hàng trăm lần.
5170. Avasesesu kappesu
vokiṇṇaṃ saṃsariṃ ahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi pulinapūjāyidaṃ phalaṃ.
Trong những kiếp c̣n lại, tôi đă luân hồi xen lẫn (ở cơi trời và cơi người), tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường cát.
5171. Yathā komudike māse
bahū pupphanti pādapā,
tathevāhampi samaye pupphitomhi mahesinā.
Giống như vào tháng Komudī, có nhiều giống cây trổ hoa. Tương tợ y như thế, nhờ bậc Đại Ẩn Sĩ tôi cũng được trổ hoa vào thời điểm.
5172. Viriyameva
dhuradhorayhaṃ yogakkhemādhivāhanaṃ,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Chính sự tinh tấn là có khả năng tiến hành các phận sự, là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5173. Satasahasse ito kappe
yaṃ buddhamabhikittayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi kittanāya idaṃ phalaṃ.
Việc tôi đă tán dương đức Phật từ đây cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc tán dương.
5174. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5175. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5176. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Pulinuppādako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Pulinuppādaka[8] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Pulinuppādakattherassa apadānaṃ sattamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Pulinuppādaka là phần thứ bảy.
--ooOoo--
***
5177. Atthadassī tu bhagavā
sayambhū lokanāyako,
vinakānadiyā tīraṃ upagacchi tathāgato.
Đức Thế Tôn Atthadassī, bậcTự Chủ, đấng Lănh Đạo Thế Gian, đức Như Lai đă đi đến gần bờ của con sông Vinakā.
5178. Udakā abhinikkhamma
kacchapo vārigocaro,
buddhaṃ tāretukāmohaṃ upesiṃ lokanāyakaṃ.
Là loài rùa di chuyển ở trong nước, có ư định đưa đức Phật vượt qua, tôi đă đi ra khỏi nước và đă đi đến gần đấng Lănh Đạo Thế Gian.
5179. Abhirūhatu maṃ buddho
atthadassī mahāmuni,
ahaṃ taṃ tārayissāmi dukkhassantakaro tuvaṃ.
“Xin đức Phật Atthadassī bậc Đại Hiền Triết hăy bước lên ngựi con, con sẽ đưa Ngài vượt qua. Ngài là bậc Đoạn Tận Khổ Đau.”
5180. Mama saṅkappamaññāya
atthadassī mahāyaso,
āruhitvāna me piṭṭhiṃ aṭṭhāsi lokanāyako.
Sau khi biết được ư định của tôi, đấng Lănh Đạo Thế Gian Atthadassī có danh vọng lớn lao đă bước lên và đứng ở trên lưng của tôi.
5181. Yato sarāmi attānaṃ
yato pattosmi viññutaṃ,
sukhaṃ me tādisaṃ natthi phuṭṭhe pādatale yathā.
Từ khi tôi nhớ lại bản thân, từ khi tôi đạt được hiểu biết, tôi chưa từng có sự sung sướng dường thế ấy giống như khi được ḷng bàn chân (Ngài) chạm đến.
5182. Uttaritvāna sambuddho
atthadassī mahāyaso,
nadītīramhi ṭhatvāna imā gāthā abhāsatha:
Sau khi vượt qua, đấng Toàn Giác Atthadassī có danh vọng lớn lao đă đứng ở bờ sông và đă nói lên những lời kệ này:
5183. “Yāvatā vattate
cittaṃ gaṅgāsotaṃ tarāmahaṃ,
ayañca kacchapo rājā tāresi mama paññavā.
“Ngay khi tâm vừa nghĩ rằng: ‘Ta (sẽ) vượt qua ḍng nước chảy của con sông,’ và con rùa chúa có trí tuệ này đă đưa Ta vượt qua.
5184. Iminā buddhataraṇena
mettacittavatāya ca,
aṭṭhārase kappasate devaloke ramissati.
Do sự vượt qua này của đức Phật và do sự hành tŕ tâm từ ái, (đối tượng này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một ngàn tám trăm kiếp.
5185. Devalokā idhāgantvā
sukkamūlena codito,
ekāsane nisīditvā kaṅkhāsotaṃ tarissati.”
Sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến nơi đây, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, (đối tượng này) sau khi ngồi xuống ở trên chỗ ngồi, sẽ vượt qua ḍng chảy nghi hoặc.”
5186. Yathāpi bhaddake
khette bījamappampi ropitaṃ,
sammādhāre pavacchante phalaṃ toseti kassakaṃ.
Cũng giống như chỉ một ít hạt giống được gieo xuống cánh đồng tốt đẹp, khi có mưa rào thích hợp đổ xuống, kết quả làm hài ḷng người nông phu.
5187. Tathevidaṃ
buddhakhettaṃ sammāsambuddhadesitaṃ,
sammādhāre pavacchante phalaṃ maṃ tosayissati.
Tương tợ y như thế, thửa ruộng đức Phật này đă được thuyết giảng bởi đấng Chánh Đẳng Giác, khi có mưa rào thích hợp đổ xuống kết quả sẽ làm tôi hài ḷng.
5188. Padhānapahitattomhi
upasanto nirūpadhi,
sabbāsave pariññāya viharāmi anāsavo.
Tôi đă ra sức tinh tấn, được an tịnh, không c̣n mầm mống tái sanh. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5189. Aṭṭhārase kappasate
yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi taraṇāya idaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy cho đến một ngàn tám trăm kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc vượt qua.
5190. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5191. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5192. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Taraṇiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Taraṇiya[9] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Taraṇiyattherassa apadānaṃ aṭṭhamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Taraṇiya là phần thứ tám.
--ooOoo--
***
5193. Yadā dīpaṅkaro buddho
sumedhaṃ vyākarī jino,
“Aparimeyye ito kappe ayaṃ buddho bhavissati.
Vào lúc đức Phật, đấng Chiến Thắng Dīpaṅkara đă chú nguyện cho Sumedha rằng: “Vô lượng kiếp về sau, vị này sẽ trở thành đức Phật.
5194. Imassa jātiyā mātā
māyā nāma bhavissati,
pitā suddhodano nāma ayaṃ hessati gotamo.
Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
5195. Padhānaṃ padahitvāna
katvā dukkarakārikaṃ,
assatthamūle sambuddho bujjhissati mahāyaso.
Sau khi đă ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được, vị này sẽ được giác ngộ ở gốc cội cây Assattha, trở thành bậc Toàn Giác có danh vọng lớn lao.
5196. Upatisso kolito ca
aggā hessanti sāvakā,
ānando nāmupaṭṭhāko upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.
Upatissa và Kolita sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
5197. Khemā uppalavaṇṇā ca
aggā hessanti sāvikā,
citto āḷavako ceva aggā hessantupāsakā.
Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Citta và luôn cả Āḷavaka sẽ là hai nam cư sĩ hàng đầu.
5198. Khujjuttarā nandamātā
aggā hessantupāsikā,
bodhī imassa vīrassa assatthoti pavuccati.”
Khujjuttarā và Nandamātā sẽ là hai nữ cư sĩ hàng đầu. Cội Bồ Đề của đấng Chiến Thắng này được gọi tên là ‘Assattha’.”[0]
5199. Idaṃ sutvāna vacanaṃ
asamassa mahesino,
āmoditā naramarū namassanti katañjalī.
Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư Thiên và nhân loại, được hoan hỷ, chắp tay lên lễ bái.
5200. Tadāhaṃ māṇavo āsiṃ
megho nāma susikkhito,
sutvā vyākaraṇaṃ seṭṭhaṃ sumedhassa mahāmune.
Khi ấy, tôi đă là người trai trẻ khéo được học tập tên Megha. Tôi đă nghe được lời chú nguyện thù thắng của bậc Đại Hiền Triết đến vị Sumedha.
5201. Saṃvissattho
bhavitvāna sumedhe karuṇāsaye,
pabbajantañca taṃ vīraṃ sahāva anupabbajiṃ.
Có được niềm tin với vị Sumedha đầy ḷng bi mẫn, trong khi vị anh hùng ấy đang hành hạnh xuất gia, tôi đă cùng xuất gia.
5202. Saṃvuto
pātimokkhasmiṃ indriyesu ca pañcasu,
suddhājīvo sato vīro jinasāsanakārako.
Tôi đă thu thúc trong giới bổn Pātimokkha và ở năm giác quan, có sự nuôi mạng trong sạch, có niệm, là vị anh hùng, là người thực hành lời dạy của đấng Chiến Thắng.
5203. Evaṃ viharamānohaṃ
pāpamittena kenaci,
niyojito anācāre sumaggā paridhāsito.
Trong khi đang an trú như thế, do một người bạn xấu xa nào đó tôi bị xúi giục vào hành vi sai trái và đă đánh mất đạo lộ tốt đẹp.
5204. Vitakkavasiko hutvā
sāsanāto apakkamiṃ,
pacchā tena kumittena payutto mātughātanaṃ.
Là người bị tác động bởi sự suy tầm, tôi đă xa ĺa lời giáo huấn. Sau đó v́ ngựi bạn tồi ấy, tôi đă phạm vào việc giết chết người mẹ.
5205. Akariṃ ānantariyaṃ
ghātayiṃ duṭṭhamānaso,
tato cuto mahāvīciṃ upapanno sudāruṇaṃ.
Tôi đă thực hiện nghiệp vô gián, với tâm ư xấu xa tôi đă giết chết (người mẹ). Từ nơi ấy chết đi, tôi đă đi đến đại địa ngục Avīci vô cùng khiếp đảm.
5206. Vinipātagato santo
sañcariṃ dukkhito ciraṃ,
na puno addasaṃ vīraṃ sumedhaṃ narapuṅgavaṃ.
Trong khi đang ở chốn đọa đày, bị khổ sở, tôi đă chịu đựng dài lâu. Tôi đă không nh́n thấy vị anh hùng Sumedha bậc cao quư của loài người nữa.
5207. Asmiṃ kappe
samuddamhi maccho āsiṃ timiṅgalo,
disvāhaṃ sāgare nāvaṃ gocaratthamupāgamiṃ.
Trong kiếp này, tôi đă là loài cá khổng lồ ở biển cả. Sau khi nh́n thấy con thuyền ở biển khơi, tôi đă đến gần mục tiêu của việc kiếm ăn.
5208. Disvā maṃ vāṇijā
bhītā buddhaseṭṭhamanussaruṃ,
gotamoti mahāghosaṃ sutvā tehi udīritaṃ.
Sau khi nh́n thấy tôi, các người thương buôn kinh sợ đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Tôi đă nghe tiếng kêu lớn “Gotama” đă được cất lên bởi những người ấy.
5209. Pubbasaññaṃ saritvāna tato kālakato ahaṃ,
sāvatthiyaṃ kule iddhe jāto brāhmaṇajātiyaṃ.
Sau khi nhớ lại sự hiểu biết trước đây, từ nơi ấy tôi đă mệnh chung. Tôi đă được sanh ra trong gia đ́nh sung túc ḍng dơi Bà-la-môn ở thành Sāvatthī.
5210. Āsiṃ dhammaruci nāma
sabbapāpajigucchako,
disvāhaṃ lokapajjotaṃ jātiyā sattavassiko.
Có tên là Dhammaruci, tôi đă là người ghê tởm tất cả các điều ác. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă nh́n thấy bậc Quang Đăng của thế gian.
5211. Mahājetavanaṃ gantvā
pabbajiṃ anagāriyaṃ,
upemi buddhaṃ tikkhattuṃ rattiyā divasassa ca.
Tôi đă đi đến tu viện Jetavana to lớn và đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Tôi đă đi đến (nương nhờ) đức Phật ba lần vào ban đêm và ban ngày.
5212. Tadā disvā munī āha
ciraṃ dhammarucīti maṃ,
tatohaṃ avacaṃ buddhaṃ pubbakammapabhāvitaṃ:
Khi ấy, bậc Hiền Triết đă nh́n thấy và đă nói với tôi rằng: “Này Dhammaruci, lâu thật.” Do đó, tôi đă nói với đức Phật về sự việc quá khứ đă xảy ra:
5213. “Suciraṃ
satapuññalakkhaṇaṃ patipubbena visuddhapaccayaṃ,
ahamajja supekkhanaṃ vata tava passāmi nirūpamaviggahaṃ.
“Thật là lâu lắm, hôm nay con quả nhiên được nh́n thấy h́nh dáng xinh đẹp của Ngài, thân thể không ǵ sánh bằng, có một trăm phước tướng, là vật làm duyên đưa đến Niết Bàn trước đây.
5214. Suciraṃ vihatattamo
tayā sucirakkhena nadī visositā
suciraṃ amalaṃ visodhitaṃ nayanaṃ ñāṇamayaṃ mahāmune.
Bạch đấng Đại Hiền Triết, bóng tối đă được Ngài tiêu diệt lâu lắm rồi. Ḍng sông (ái dục) đă được làm cho khô cạn nhờ vào sự hộ tŕ tốt đẹp. Sự ô nhiễm đă được làm trong sạch lâu lắm rồi. Con mắt đă có được cấu tạo bằng trí tuệ.
5215. Cirakālaṃ samaṅgito
tayā na vinaṭṭho punarantaraṃ ciraṃ,
punarajjasamāgato tayā na hi nassanti katāni gotama.”
Bạch đức Gotama, con được gần gũi với Ngài trong thời gian dài, con không bị tiêu hoại lần nữa trong khoảng thời gian dài. Hôm nay con được hội tụ với Ngài lần nữa bởi v́ những việc đă làm không bị hoại diệt.”
5216. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
5217. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
5218. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Dhammaruci thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Dhammaruci đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Dhammarucittherassa apadānaṃ navamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Dhammaruci là phần thứ chín.
--ooOoo--
***
5219. Ajjhogahetvā
sālavanaṃ sukato assamo mama,
sālapupphehi sañchanno vasāmi vipine tadā.
Vào lúc ấy, tôi đă đi sâu vào khu rừng cây sālā. Khu ẩn cư của tôi được xây dựng khéo léo, được phủ lên bởi những bông hoa sālā, tôi cư ngụ ở khu rừng.
5220. Piyadassī ca bhagavā
sayambhū aggapuggalo,
vivekakāmo sambuddho sālavanamupāgamī.
Và đức Thế Tôn Piyadassī, đấng Tự Chủ, là nhân vật cao cả. Có ước muốn ẩn dật, bậc Toàn Giác đă đi đến khu rừng cây sālā.
5221. Assamā abhinikkhamma
pavanaṃ agamāsahaṃ,
mūlaphalaṃ gavesanto āhiṇḍāmi vane tadā.
Khi ấy, tôi đă rời khỏi khu ẩn cư và đă đi đến khu rừng. Trong khi t́m kiếm rễ và trái cây tôi đi lang thang ở trong rừng.
5222. Tatthaddasāsiṃ
sambuddhaṃ piyadassiṃ mahāyasaṃ,
sunisinnaṃ samāpannaṃ virocantaṃ mahāvane.
Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy đấng Toàn Giác Piyadassī, bậc có danh vọng lớn lao, ngồi vững chải, thể nhập (định), đang chói sáng ở trong khu rừng lớn.
5223. Catudaṇḍe ṭhapetvāna
buddhassa uparī ahaṃ,
maṇḍapaṃ sukataṃ katvā sālapupphehi chādayiṃ.
Tôi đă dựng bốn cây gậy và đă thực hiện mái che được tạo lập khéo léo ở phía bên trên của đức Phật, rồi đă phủ lên bằng các bông hoa sālā.
5224. Sattāhaṃ dhārayitvāna
maṇḍapaṃ sālachāditaṃ,
tattha cittaṃ pasādetvā buddhaseṭṭhaṃ avandahaṃ.
Tôi đă cầm giữ mái che được phủ lên bằng bông hoa sālā trong bảy ngày. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đă đảnh lễ đức Phật tối thượng.
5225. Bhagavā tamhi samaye
vuṭṭhahitvā samādhito,
yugamattaṃ pekkhamāno nisīdi purisuttamo.
Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn đă xuất khỏi định. Trong khi nh́n với khoảng cách của cán cày, bậc Tối Thượng Nhân đă ngồi xuống.
5226. Sāvako varuṇo nāma piyadassissa satthuno,
vasīsatasahassehi upagacchi vināyakaṃ.
Vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư Piyadassī tên là Varuṇa cùng với một trăm ngàn vị có năng lực đă đi đến gặp đấng Hướng Đạo.
5227. Piyadassī ca bhagavā
lokajeṭṭho narāsabho,
bhikkhusaṅghe nisīditvā sitaṃ pātukarī jino.
Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Chiến Thắng sau khi ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu đă để lộ nụ cười.
5228. Anuruddho upaṭṭhāko
piyadassissa satthuno,
ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā apucchittha mahāmuniṃ:
Anuruddha, vị thị giả của bậc Đạo Sư Piyadassī, đă khoác y một bên vai rồi đă hỏi bậc Đại Hiền Triết rằng:
5229. Ko nu kho bhagavā
hetu sitakammassa satthuno,
kāraṇe vijjamānamhi satthā pātukare sitaṃ.
“Bạch đức Thế Tôn