***
--ooOoo--
Lời tiếng Việt: Tỳ khưu
Indacanda
(Trương đình Dũng)
XLI. METTEYYAVAGGO - PHẨM METTEYYA:
401. Ký Sự về Trưởng Lão Tissametteyya (3891 - 3918)
402. Ký Sự về Trưởng Lão Puṇṇaka (3919 - 3934)
403. Ký Sự về Trưởng Lão Mettagū (3935 - 3961)
404. Ký Sự về Trưởng Lão Dhotaka (3962 - 3989)
405. Ký Sự về Trưởng Lão Upasiva (3990 - 4049)
406. Ký Sự về Trưởng Lão Nandaka (4050 - 4071)
407. Ký Sự về Trưởng Lão Hemaka (4072 - 4112)
408. Ký Sự về Trưởng Lão Todeyya (4113 - 4164)
409. Ký Sự về Trưởng Lão Jatukaṇṇi (4165 - 4218)
410. Ký Sự về Trưởng Lão Udena (4219 - 4267)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
XLII. BHADDĀLIVAGGO - PHẨM BHADDĀLI:
411. Ký Sự về Trưởng Lão Bhaddāli (4268 - 4298)
412. Ký Sự về Trưởng Lão Ekachattiya (4299 - 4345)
413. Ký Sự về Trưởng Lão Tiṇasūlakachadaniya (4346 - 4372)
414. Ký Sự về Trưởng Lão Madhumaṃsadāyaka (4373 - 4384)
415. Ký Sự về Trưởng Lão Nāgapallavaka (4385 - 4390)
416. Ký Sự về Trưởng Lão Ekadīpiya (4391 - 4408)
417. Ký Sự về Trưởng Lão Ucchaṅgapupphiya (4409 - 4415)
418. Ký Sự về Trưởng Lão Yāgudāyaka (4416 - 4434)
419. Ký Sự về Trưởng Lão Patthodanadāyaka (4435 - 4448)
420. Ký Sự về Trưởng Lão Mañcadāyaka (4449 - 4461)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
XLIII. SAKIṂSAMMAJJAKAVAGGO - PHẨM SAKIṂSAMMAJJAKA:
421. Ký Sự về Trưởng Lão Sakiṃsammajjaka (4462 - 4475)
422. Ký Sự về Trưởng Lão Ekadussadāyaka (4476 - 4496)
423. Ký Sự về Trưởng Lão Ekāsanadāyaka (4497 - 4521)
424. Ký Sự về Trưởng Lão Sattakadambapupphiya (4522 - 4528)
425. Ký Sự về Trưởng Lão Koraṇḍapupphiya (4529 - 4538)
426. Ký Sự về Trưởng Lão Ghatamaṇḍadāyaka (4539 - 4547)
427. Ký Sự về Trưởng Lão Ekadhammasavaṇiya (4548 - 4566)
428. Ký Sự về Trưởng Lão Sucintita (4567 - 4599)
429. Ký Sự về Trưởng Lão Soṇṇakiṅkaṇiya (4600 - 4616)
430. Ký Sự về Trưởng Lão Soṇṇakontarika (4617 - 4629)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
XLIV. EKAVIHĀRIVAGGO - PHẨM EKAVIHĀRĪ:
431. Ký Sự về Trưởng Lão Ekavihāriya (4630 - 4641)
432. Ký Sự về Trưởng Lão Ekasaṃkhiya (4642 - 4654)
433. Ký Sự về Trưởng Lão Pāṭihīrasaññaka (4655 - 4663)
434. Ký Sự về Trưởng Lão Ñāṇatthavika (4664 - 4672)
435. Ký Sự về Trưởng Lão Ucchukhaṇḍika (4673 - 4678)
436. Ký Sự về Trưởng Lão Kalambadāyaka (4679 - 4683)
437. Ký Sự về Trưởng Lão Ambāṭakadāyaka (4684 - 4688)
438. Ký Sự về Trưởng Lão Harītakadāyaka (4689 - 4700)
439. Ký Sự về Trưởng Lão Ambapiṇḍiya (4701 - 4709)
440. Ký Sự về Trưởng Lão Jambuphaliya (4710 - 4716)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
XLV. VIBHĪṬAKAVAGGO - PHẨM VIBHĪṬAKA:
441. Ký Sự về Trưởng Lão Vibhīṭakamiñjiya (4717 - 4723)
442. Ký Sự về Trưởng Lão Koladāyaka (4724 - 4730)
443. Ký Sự về Trưởng Lão Billaphaliya (4731 - 4737)
444. Ký Sự về Trưởng Lão Bhallātakadāyaka (4738 - 4746)
445. Ký Sự về Trưởng Lão Uttalipupphiya (4747 - 4751)
446. Ký Sự về Trưởng Lão Ambāṭakiya (4752 - 4757)
447. Ký Sự về Trưởng Lão Sīhāsanika (4758 - 4765)
448. Ký Sự về Trưởng Lão Pādapīṭhiya (4766 - 4776)
449. Ký Sự về Trưởng Lão Vedikāraka (4777 - 4784)
450. Ký Sự về Trưởng Lão Bodhighariya (4785 - 4796)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
XLVI. JAGATIDĀYAKAVAGGO - PHẨM JAGATIDĀYAKA:
451. Ký Sự về Trưởng Lão Jagatidāyaka (4797 - 4804)
452. Ký Sự về Trưởng Lão Morahatthiya (4805 - 4812)
453. Ký Sự về Trưởng Lão Sīhāsanavījaka (4813 - 4817)
454. Ký Sự về Trưởng Lão Ti-ukkādhāraka (4818 - 4822)
455. Ký Sự về Trưởng Lão Akkamanadāyaka (4823 - 4827)
456. Ký Sự về Trưởng Lão Vanakoraṇḍiya (4828 - 4832)
457. Ký Sự về Trưởng Lão Ekachattiya (4833 - 4844)
458. Ký Sự về Trưởng Lão Jātipupphiya (4845 - 4853)
459. Ký Sự về Trưởng Lão Paṭṭipupphiya (4854 - 4858)
460. Ký Sự về Trưởng Lão Gandhapūjaka (4859 - 4863)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
XLVII. SĀLAKUSUMIYAVAGGO - PHẨM SĀLAKUSUMIYA:
461. Ký Sự về Trưởng Lão Sālakusumiya (4864 - 4868)
462. Ký Sự về Trưởng Lão Citakapūjaka (4869 - 4873)
463. Ký Sự về Trưởng Lão Citakanibbāpaka (4874 - 4878)
464. Ký Sự về Trưởng Lão Setudāyaka (4879 - 4883)
465. Ký Sự về Trưởng Lão Sumanatālavaṇṭiya (4884 - 4888)
466. Ký Sự về Trưởng Lão Avaṇṭaphaliya (4889 - 4894)
467. Ký Sự về Trưởng Lão Labujadāyaka (4895 - 4902)
468. Ký Sự về Trưởng Lão Pilakkhaphaladāyaka (4903 - 4907)
469. Ký Sự về Trưởng Lão Sayampaṭibhāṇiya (4908 - 4921)
470. Ký Sự về Trưởng Lão Nimittavyākaraṇiya (4922 - 4935)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
XLVIII. NAḶAMĀLIVAGGO - PHẨM NAḶAMĀLĪ:
471. Ký Sự về Trưởng Lão Naḷamāliya (4936 - 4942)
472. Ký Sự về Trưởng Lão Maṇipūjaka (4943 - 4964)
473. Ký Sự về Trưởng Lão Ukkāsatika (4965 - 4980)
474. Ký Sự về Trưởng Lão Sumanavījaniya (4981 - 4985)
475. Ký Sự về Trưởng Lão Kummāsadāyaka (4986 - 4990)
476. Ký Sự về Trưởng Lão Kusaṭṭhadāyaka (4991 - 4995)
477. Ký Sự về Trưởng Lão Giripunnāgiya (4996 - 5000)
478. Ký Sự về Trưởng Lão Vallikāraphaladāyaka (5001 - 5005)
479. Ký Sự về Trưởng Lão Pānadhidāyaka (5006 - 5024)
480. Ký Sự về Trưởng Lão Pulinacaṅkamiya (5025 - 5030)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
XLIX. PAṂSUKŪLAVAGGO - PHẨM PAṂSUKŪLA:
481. Ký Sự về Trưởng Lão Paṃsukūlasaññaka (5031 - 5038)
482. Ký Sự về Trưởng Lão Buddhasaññaka (5039 - 5056)
483. Ký Sự về Trưởng Lão Bhisadāyaka (5057 - 5075)
484. Ký Sự về Trưởng Lão Ñāṇatthavika (5076 - 5104)
485. Ký Sự về Trưởng Lão Candanamāliya (5105 - 5134)
486. Ký Sự về Trưởng Lão Dhātupūjaka (5135 - 5139)
487. Ký Sự về Trưởng Lão Pulinuppādaka (5140 - 5176)
488. Ký Sự về Trưởng Lão Taraṇiya (5177 - 5192)
489. Ký Sự về Trưởng Lão Dhammaruci (5193 - 5218)
490. Ký Sự về Trưởng Lão Sālamaṇḍapiya (5219 - 5248)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
L. TIKIṄKAṆIPUPPHIYAVAGGO - PHẨM TIKIṄKAṆIPUPPHIYA:
491. Ký Sự về Trưởng Lão Tikiṅkaṇipupphiya (5249 - 5255)
492. Ký Sự về Trưởng Lão Paṃsukūlapūjaka (5256 - 5262)
493. Ký Sự về Trưởng Lão Koraṇḍapupphiya (5263 - 5272)
494. Ký Sự về Trưởng Lão Kiṃsukapupphiya (5273 - 5278)
495. Ký Sự về Trưởng Lão Upaḍḍhadussadāyaka (5279 - 5288)
496. Ký Sự về Trưởng Lão Ghatamaṇḍadāyaka (5289 - 5297)
497. Ký Sự về
Trưởng Lão Udakadāyaka (5298 - 5303)
498. Ký Sự về Trưởng Lão Pulinathūpiya (5304 - 5340)
499. Ký Sự về Trưởng Lão Naḷakuṭidāyaka (5341 - 5351)
500. Ký Sự về Trưởng Lão Piyālaphaladāyaka (5352 - 5357)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
Atha vagguddānaṃ - Giờ là phần tóm lược của các phẩm
***
LI. KAṆIKĀRAVAGGO - PHẨM KAṆIKĀRA:
501. Ký Sự về Trưởng Lão Tikaṇikārapupphiya (5358 - 5395)
502. Ký Sự về Trưởng Lão Ekapattadāyaka (5396 - 5407)
503. Ký Sự về Trưởng Lão Kāsumāriphaladāyaka (5408 - 5413)
504. Ký Sự về Trưởng Lão Avaṭaphaliya (5414 - 5419)
505. Ký Sự về Trưởng Lão Vāraphaliya (5420 - 5424)
506. Ký Sự về Trưởng Lão Mātuluṅgaphaladāyaka (5425 - 5430)
507. Ký Sự về Trưởng Lão Ajeliphaladāyaka (5431 - 5436)
508. Ký Sự về Trưởng Lão Amodaphaliya (5437 - 5441)
509. Ký Sự về Trưởng Lão Tālaphaladāyaka (5442 - 5447)
510. Ký Sự về Trưởng Lão Nāḷikeradāyaka (5448 - 5456)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
LII. PHALADĀYAKAVAGGO - PHẨM PHALADĀYAKA:
511. Ký Sự về Trưởng Lão Kurañjiyaphaladāyaka (5457 - 5462)
512. Ký Sự về Trưởng Lão Kapitthaphaladāyaka (5463 - 5467)
513. Ký Sự về Trưởng Lão Kosumbhaphaladāyaka (5468 - 5472)
514. Ký Sự về Trưởng Lão Ketakapupphiya (5473 - 5478)
515. Ký Sự về Trưởng Lão Nāgapupphiya (5479 - 5483)
516. Ký Sự về Trưởng Lão Ajjunapupphiya (5484 - 5492)
517. Ký Sự về Trưởng Lão Kuṭajapupphiya (5493 - 5499)
518. Ký Sự về Trưởng Lão Ghosasaññaka (5500 - 5504)
519. Ký Sự về Trưởng Lão Sabbaphaladāyaka (5505 - 5531)
520. Ký Sự về Trưởng Lão Padumadhāraka (5532 - 5537)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
LIII. TIṆADĀYAKAVAGGO - PHẨM TIṆADĀYAKA:
521. Ký Sự về Trưởng Lão Tiṇamuṭṭhidāyaka (5538 - 5549)
522. Ký Sự về Trưởng Lão Mañcadāyaka (5550 - 5555)
523. Ký Sự về Trưởng Lão Saraṇagamaniya (5556- 5560)
524. Ký Sự về Trưởng Lão Abbhañjanadāyaka (5561 - 5567)
525. Ký Sự về Trưởng Lão Supaṭadāyaka (5568 - 5572)
526. Ký Sự về Trưởng Lão Daṇḍadāyaka - (5573 - 5578)
527. Ký Sự về Trưởng Lão Girinelapūjaka (5579 - 5584)
528. Ký Sự về Trưởng Lão Bodhisammajjaka (5583 - 5610)
529. Ký Sự về Trưởng Lão Āmaṇḍaphaladāyaka (5611 - 5617)
530. Ký Sự về Trưởng Lão Sugandha (5618 - 5663)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
LIV. KACCĀNAVAGGO - PHẨM KACCĀNA:
531. Ký Sự về Trưởng Lão Mahākaccāna (5664 - 5690)
532. Ký Sự về Trưởng Lão Vakkali (5691 - 5728)
533. Ký Sự về Trưởng Lão Mahākappina (5729 - 5770)
534. Ký Sự về Trưởng Lão Dabba (5771 - 5812)
535. Ký Sự về Trưởng Lão Kumārakassapa (5813 - 5840)
536. Ký Sự về Trưởng Lão Bāhiya (5841 - 5882)
537. Ký Sự về Trưởng Lão Koṭṭhita (5883 - 5912)
538. Ký Sự về Trưởng Lão Uruvelakassapa (5913 - 5957)
539. Ký Sự về Trưởng Lão Rādha (5958 - 5988)
540. Ký Sự về Trưởng Lão Mogharāja (5989 - 6024)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
***
LV. BHADDIYAVAGGO - PHẨM BHADDIYA:
541. Ký Sự về Trưởng Lão Lakuṇṭakabhaddiya (6025 - 6057)
542. Ký Sự về Trưởng Lão Kaṅkhārevata (6058 - 6077)
543. Ký Sự về Trưởng Lão Sīvali (6078 - 6119)
544. Ký Sự về Trưởng Lão Vaṅgīsa (6120 - 6166)
545. Ký Sự về Trưởng Lão Nandaka (6167 - 6188)
546. Ký Sự về Trưởng Lão Kāḷudāyi (6189 - 6218)
547. Ký Sự về Trưởng Lão Abhaya (6219 - 6248)
548. Ký Sự về Trưởng Lão Lomasakaṅgiya (6249 - 6274)
549. Ký Sự về Trưởng Lão Vanavaccha (6275 - 6295)
550. Ký Sự về Trưởng Lão Cūḷasugandha (6296 - 6332)
Uddānaṃ - Phần Tóm Lược
Atha vagguddānaṃ - Giờ là phần tóm lược của các phẩm
***
LVI. YASAVAGGO - PHẨM YASA:
551. Ký Sự về Trưởng Lão Yasa (6333 - 6359)
552. Ký Sự về Trưởng Lão Nadīkassapa (6360 - 6365)
553. Ký Sự về Trưởng Lão Gayākassapa (6366 - 6372)
554. Ký Sự về Trưởng Lão Kimbila (6373 - 6379)
555. Ký Sự về Trưởng Lão Vajjiputta (6380 - 6385)
556. Ký Sự về Trưởng Lão Uttara (6386 - 6423)
557. Ký Sự về Trưởng Lão Apara-uttara (6424 - 6428)
558. Ký Sự về Trưởng Lão Bhaddaji (6429 - 6446)
559. Ký Sự về Trưởng Lão Sīvaka (6447 - 6451)
Tassuddānaṃ - Tóm lược của phẩm này
--ooOoo--
Apadānapāḷi là tựa đề của tập Kinh thứ mười ba thuộc Tiểu Bộ. Chúng tôi đề nghị tựa đề tiếng Việt là Thánh Nhân Ký Sự. Sự chọn lựa tựa đề như vậy được căn cứ vào nội dung của tập Kinh, vì ý nghĩa của từ apadāna cho đến nay vẫn chưa có được kết luận dứt khoát.
Apadānapāḷi gồm có bốn phần:
1/- Buddhāpadāna (liên quan đến Phật Toàn Giác)
2/- Paccekabuddhāpadāna (liên quan đến Phật Độc Giác)
3/- Therāpadāna (559 câu chuyện về các vị trưởng lão)
4/- và Therī-apadāna (40 câu chuyện về các vị trưởng lão ni).
Chú giải của tập Kinh Apadānapāḷi có tên là Visuddhajanavilāsinī chỉ đề cập đến ba phần đầu.
Dựa theo văn bản Pāḷi – Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Series của nước quốc giáo Sri Lanka, bộ Kinh song ngữ Apadānapāḷi - Thánh Nhân Ký Sự được trình bày thành 3 tập:
- Apadānapāḷi tập I gồm có có hai phần đầu nói về Phật Toàn Giác và Phật Độc Giác, cộng với 400 ký sự về các vị trưởng lão của phần ba Therāpadāna tạm dịch ra tiếng Việt là Trưởng Lão Ký Sự.
- Apadānapāḷi tập II gồm có 159 ký sự còn lại của phần ba Therāpadāna - Trưởng Lão Ký Sự, đã được chúng tôi ghi lại phần tiếng Việt và trình bày ở đây.
- Apadānapāḷi tập III gồm 40 ký sự về các trưởng lão ni thuộc phần bốn có tên là Therī-apadāna - Trưởng Lão Ni Ký Sự, cũng đã được hoàn tất phần tiếng Việt.
Về nội dung, Apadānapāḷi tập II được chia làm 16 phẩm (vagga) có số thứ tự các phẩm từ XLI - LVI. Mỗi phẩm gồm có 10 ký sự, riêng phẩm cuối cùng chỉ có 9. Tên của ký sự đầu tiên trong mỗi phẩm cũng được sử dụng lại để đặt tên cho mỗi phẩm, ví dụ phẩm XLI Metteyyavaggo - Phẩm Metteyya được lấy tên dựa vào tên của ký sự 401 là Tissametteyyattherāpadānaṃ - Ký Sự về Trưởng Lão Tissametteyya. Điều được lưu ý là chỉ có một số ít vị trưởng lão được xác định danh tánh, các vị còn lại có tên được gọi theo hành động phước thiện đã làm, ví dụ ký sự 403 về Trưởng Lão Mettagū vì vị này hành trì tâm từ ái (mettā), ký sự 404 về Trưởng Lão Dhotaka vì vị này có nhận xét rằng các vị tỳ khưu là những vị đã gội rửa (dhota) các điều ác xấu, v.v...
Các câu chuyện của Therāpadāna - Trưởng Lão Ký Sự có chủ đề liên quan đến những hành động phước thiện của các vị tỳ khưu ở trong thời quá khứ. Những thiện nghiệp này đã đem lại phước báu cho các vị ấy trong nhiều kiếp, cuối cùng vào kiếp chót các vị này đã xuất gia với đức Phật Gotama trở thành tỳ khưu, được chứng quả vị A-la-hán, đã thành tựu tam minh, đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí. Các điểm chi tiết được trình bày ở mỗi ký sự đã được các vị tỳ khưu đích thân thuật lại. Có nhiều ký sự dài với nhiều chi tiết hay lạ, những cũng có những ký sự ngắn được tóm tắt chỉ trong một hoặc hai câu kệ ngôn (2 hoặc 4 dòng). Một số nghiệp bất thiện cũng đã được đề cập đến và nghiệp quả xấu phải gánh chịu do những hành động ấy đem lại cũng không phải là nhỏ.
Đa số các thiện nghiệp đều lấy đối tượng cúng dường là chư Phật trong thời quá khứ, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến những phước thiện được làm nhắm đến các đối tượng khác xét rằng chúng sanh vẫn còn có cơ duyên được gần gũi trong thời điểm hiện nay. Các thiện nghiệp này xét ra là đơn giản dễ làm nhưng cũng có kết quả vô cùng lớn lao. Ký sự 494 ghi nhận việc chỉ có tưởng nhớ đến đức Phật và cúng dường bông hoa ở không trung cũng thoát khỏi khổ cảnh 31 kiếp, ký sự 498 xác nhận rằng tâm ý trong việc phước thiện là quan trọng, còn đối tượng thọ lãnh không hẳn là chủ yếu (câu kệ 5324-5327), ký sự 524 ghi lại rằng chỉ cần nương nhờ (quy y) với vị tỳ khưu cũng có kết quả thoát khỏi khổ cảnh 31 kiếp, ký sự 538 thuật lại việc hốt lá cây Bồ Đề đem đi đổ cũng đã giúp cho người hành thiện được sanh làm Trời và nếu phải làm người thì được sanh vào giai cấp cao quý, ký sự 549 đề cập đến trường hợp vị phải chịu sự tái sanh làm con chim bồ câu, nhưng nhờ vào nghiệp lực của quá khứ vẫn tìm đến để phục vụ vị tỳ khưu đang tu tập ở trong rừng từ đó được sanh thiên, ký sự 557 nói về quả báu của việc cúng dường xá-lợi đức Phật. Đặc biệt ký sự 539 vốn quen thuộc nhưng lại có kết cuộc bất ngờ, đáng ngạc nhiên, hoan hỷ. Đây là câu chuyện của một người Bà-la-môn đến với Giáo Pháp của đức Phật Thích Ca lúc tuổi đã già và đã bị các vị tỳ khưu đương thời từ chối việc cho xuất gia. Nhờ công đức cúng dường một muỗng thức ăn đến ngài Sāriputta (Xá-lợi-phất) trước đây mà người Bà-la-môn này đã được ngài Sāriputta cho xuất gia trở thành tỳ khưu theo lời chỉ dạy của đức Phật. Điều ngạc nhiên ở đây người này lại chính là vị trưởng lão Rādha đã được đức Thế Tôn tán dương là vị đứng đầu trong số các vị tỳ khưu có tài biện giải.
Về hình thức, Therī-apadāna - Trưởng Lão Ký Sự được viết theo thể kệ thơ (gāthā), mỗi câu kệ gồm có bốn pāda được trình bày thành hai dòng. Đa số các câu kệ của cuốn Kinh này làm theo thể thông thường gồm có tám âm cho mỗi pāda. Các câu kệ Pāḷi đã được ghi lại bằng dạng chữ nghiêng xen kẽ với lời dịch Việt theo lối văn xuôi; mỗi câu kệ Pāḷi tương đương với hai hoặc ba dòng văn Việt được trình bày thành từng đoạn tách biệt. Đôi chỗ, hai câu kệ hoặc nhiều hơn được dịch chung thành một đoạn dựa theo tính chất hoàn chỉnh về văn phạm hoặc về ý nghĩa của chúng. Chúng tôi trình bày song ngữ Pāḷi - Việt không gì khác hơn là nhằm tạo điều điện cho quý độc giả được gần gũi hơn với lời dạy của đức Phật ngỏ hầu củng cố niềm tin hoặc sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và học tập cho bản thân. Cũng cần nói thêm về văn bản Pāḷi được trình bày ở đây đã được phiên âm lại từ văn bản Pāḷi – Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Series của nước quốc giáo Sri Lanka. Liên quan đến việc này, chúng tôi xin thành tâm tán dương công đức của Ven. Mettāvihārī đã hoan hỷ cho phép chúng tôi sử dụng văn bản đã được phiên âm sẵn đang phổ biến trên mạng internet, phần việc của chúng tôi là kiểm tra đối chiếu lại với văn bản chánh và sửa chữa lại những lỗi sai sót.
Về phương diện dịch thuật, có điều cần lưu ý như sau: Toàn bộ văn bản là các lời tự thuật, tuy nhiên chúng tôi chỉ trình bày ở dạng chữ nghiêng cho những đoạn có tính chất đối thoại trực tiếp hoặc những điều ước nguyện, suy nghĩ. Về từ xưng hô của hàng đệ tử đối với đức Phật, chúng tôi sử dụng từ “con” ở ngôi thứ nhất cho những trường hợp trực tiếp, và “tôi” cho những trường hợp xét rằng người nghe là các đối tượng khác. Về văn phong của lời dịch, chủ trương chúng tôi là cố gắng tìm hiểu đúng ý nghĩa của văn tự, và ghi lại lời tiếng Việt sát theo văn bản ấy với sự cố gắng không bỏ sót từ nào không dịch. Việc làm này sẽ giúp cho chúng tôi dễ dàng kiểm tra những sai sót trong quá trình phiên dịch, cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho các bậc cao minh thẩm định khả năng nắm bắt ngôn ngữ gốc của chúng tôi, đồng thời cũng phần nào giúp cho những ai có ý thích nghiên cứu Pāḷi tìm hiểu thêm cấu trúc của loại ngôn ngữ này. Điều quan tâm chính yếu của chúng tôi là qua phần trình bày tiếng Việt quý độc giả có thể nắm được nội dung của văn bản gốc, và đành phải làm ngơ trước yêu cầu về nét hay đẹp thanh nhã của tiếng Việt. Dẫu sao, chúng tôi tin tưởng rằng việc làm của chúng tôi sẽ đóng góp được phần nào trong việc thúc đẩy phong trào nghiên cứu cổ ngữ Phật Học của người Việt Nam. Mặc dầu đã cố gắng hết sức mình, một số sai sót trong quá trình phiên dịch đương nhiên không thể tránh khỏi, chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về trình độ yếu kém. Cũng cần nói thêm rằng văn bản này sẽ được ấn tống vào đầu năm 2008 thuộc Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi - Việt. Ngưỡng mong các bậc cao minh và quý độc giả góp ý cho những điểm sai sót hoặc yếu kém để việc nghiên cứu tu học của chúng tôi thêm phần phát triển cũng như việc đem lại những kiến thức chính xác có nhiều lợi ích cho hàng độc giả. Mọi sự góp ý phê bình xin email về: tamtangpaliviet@gmail.com hoặc tamtangpaliviet@yahoo.com
Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành tán dương sự sách tấn và ủng hộ của quý vị hữu ân: Thầy Thích Tâm Không (Seattle), gia đình Phật tử Phạm Trọng Độ, gia đình Phật tử Lý Hoàng Anh, Phật tử Võ Đức Hùng, cô Bùi Anh Tú, và nhóm Phật tử California do Cô Phạm Thị Thi đại diện. Thành tâm cầu chúc quý vị luôn giữ vững niềm tin và thành tựu được nhiều kết quả trong công việc tu tập giải thoát và hộ trì Tam Bảo.
Cũng xin chân thành ghi nhận sự quan tâm chăm sóc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với công tác phiên dịch của chúng tôi về phương diện vật thực bồi dưỡng và thuốc men chữa bệnh của các vị hữu ân sau: Bhikkhunī Nichanaporn Ketjan Sukhetta (Thái), Cô Phạm Thu Hương và Cô Hoàng Thị Thịnh (Hồng Kông). Công việc soạn thảo này được thông suốt, không bị gián đoạn, chính là nhờ có sự hỗ trợ quý báu của quý vị. Ngưỡng mong phước báu hộ trì quý vị luôn được an vui, sức khỏe, và mọi ước nguyện đều được thành tựu như ý.
Một điều thiếu sót lớn nếu không đề cập đến sự hỗ trợ về việc phiên dịch của Ven. Nandaratana, hiệu trưởng trường Phật Học ở Kalutara (Sri Lanka), và sự nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi của sinh viên Karunaratna trong việc tham khảo bản dịch tiếng bản xứ. Cũng không quên không nhắc đến những sự ủng hộ, khích lệ, và góp ý của chư vị Đại Đức tỳ khưu và tỳ khưu ni đang tu học ở Sri Lanka trong thời gian chúng tôi nghiên cứu và ghi lại lời tiếng Việt cho tập Kinh này. Đặc biệt xin chân thành tri ân sự quan tâm của Thượng Tọa Giác Trí (India), Đại Đức Tâm Quang (India), và Đại Đức Chánh Kiến (Canada) dầu ở xa nhưng cũng đã gởi đến chúng tôi những lời thăm hỏi và khích lệ.
Công đức này xin dâng đến Hòa Thượng Devahandiye Paññāsekara Nāyaka Mahāthera, trụ trì chùa Sri Jayawardhanaramaya, Colombo, Tích Lan, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong công việc tu học và nghiên cứu Phật Pháp thời gian qua.
Cuối cùng, ngưỡng mong phước báu phát sanh trong công việc soạn thảo cuốn Kinh này được thành tựu đến thầy tổ, song thân, và tất cả chúng sanh trong tam giới. Nguyện cho hết thảy đều được an vui, sức khỏe, có trí tuệ, và tinh tấn tu tập ngõ hầu thành đạt cứu cánh giải thoát, chấm dứt khổ đau.
Mong sao hết thảy chúng sanh đều được tiến hóa trong ánh hào quang của Chánh Pháp.
Tỳ khưu Indacanda
(Trương đình Dũng)