XLVIII. NAḶAMĀLIVAGGO

XLVIII. PHẨM NAḶAMĀLĪ:

 

 

471. Naḷamāliyattherāpadānaṃ

471. Ký Sự về Trưởng Lão Naḷamāliya:

 

***

 

4936. Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ āhutīnaṃ paṭiggahaṃ,
pavanaggena gacchantaṃ addasaṃ lokanāyakaṃ.

Tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, đang di chuyển ở phía trên đỉnh chóp của khu rừng.

 

4937. Naḷamālaṃ gahetvāna nikkhamantova tāvade,
tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ oghatiṇṇamanāsavaṃ.

Sau khi cầm lấy tràng hoa sậy và ngay trong khi đang đi ra, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng lũ, vị không còn lậu hoặc ở tại nơi ấy.

 

4938. Pasannacitto sumano naḷamālaṃ apūjayiṃ,
dakkhiṇeyyaṃ mahāvīraṃ sabbalokānukampakaṃ.

Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cúng dường tràng hoa sậy đến đấng Đại Hùng, bậc xứng đáng cúng dường, vị có lòng thương tưởng đến tất cả thế gian.

 

4939. Ekatiṃse ito kappe yaṃ pupphamabhiropayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đã dâng lên bông hoa cho đến ba mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

 

4940. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

4941. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

4942. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Naḷamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Naḷamāliya[1] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Naḷamāliyattherassa apadānaṃ paṭhamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Naḷamāliya là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

472. Maṇipūjakattherāpadānaṃ

472. Ký Sự về Trưởng Lão Maṇipūjaka:

 

***

 

4943. Padumuttaro nāma jino sabbadhammāna pāragū,
vivekakāmo sambuddho gacchate anilañjase.

Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Có ước muốn ẩn dật, bậc Toàn Giác di chuyển ở trên không trung.

 

4944. Avidūre himavato mahājātassaro ahu,
tattha me bhavanaṃ āsi puññakammena saṃyutaṃ.

Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có cái hồ thiên nhiên rộng lớn. Ở tại nơi ấy đã là chỗ cư ngụ của tôi, được liên quan đến nghiệp phước thiện.

 

4945. Bhavanā abhinikkhamma addasaṃ lokanāyakaṃ,
indivaraṃva jalitaṃ ādittaṃva hutāsanaṃ.

Sau khi rời khỏi nơi cư ngụ, tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian được chói sáng như là bông hoa súng, được cháy rực như là ngọn lửa tế thần.

 

4946. Vicinaṃ nāddasaṃ pupphaṃ pūjayissanti nāyakaṃ,
sakaṃ cittaṃ pasādetvā avandiṃ satthuno ahaṃ.

Trong lúc xem xét, tôi đã không nhìn thấy bông hoa tôi sẽ cúng dường đến đấng Lãnh Đạo. Sau khi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín, tôi đã đảnh lễ bậc Đạo Sư.

 

4947. Mama sīse maṇiṃ gayha pūjayiṃ lokanāyakaṃ,
imāya maṇipūjāya vipāko hotu bhaddako.

Tôi đã cầm lấy viên ngọc ma-ni ở trên đầu của tôi và đã cúng dường đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian (ước nguyện rằng): “Do sự cúng dường viên ngọc ma-ni này, cầu mong quả thành tựu được tốt đẹp.”

 

4948. Padumuttaro lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
antaḷikkhe ṭhito satthā imaṃ gāthaṃ abhāsatha.

Đứng ở trên không trung, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đạo Sư đã nói lên lời kệ này:

 

4949. So te ijjhatu saṅkappo labhassu vipulaṃ sukhaṃ,
imāya maṇipūjāya anubhohi mahāyasaṃ.

Mong rằng ý định ấy được thành tựu cho ngươi. Ngươi sẽ đạt được sự an lạc lớn lao. Ngươi hãy thọ hưởng danh vọng lớn lao do sự cúng dường ngọc ma-ni này.”

 

4950. Idaṃ vatvāna bhagavā jalajuttamanāmako,
agamāsi buddhaseṭṭho yattha cittaṃ paṇīhitaṃ.

Nói xong điều ấy, đức Thế Tôn tên Padumuttara, vị Phật tối thượng, đã đi đến nơi mà tâm đã dự tính.

 

4951. Saṭṭhikappāni devindo devarajjamakārayiṃ,
anekasatakkhattuñca cakkavattī ahosahaṃ.

Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc sáu mươi kiếp. Và tôi đã trở thành vị Chuyển Luân Vương hàng trăm lần.

 

4952. Pubbakammaṃ sarantassa devabhūtassa me sato,
maṇi nibbattate mayhaṃ ālokakaraṇo mamaṃ.

Trong khi tôi ở bản thể Thiên nhân đang nhớ lại việc làm trước đây thì ngọc ma-ni, là vật tạo ra ánh sáng của tôi, hiện ra cho tôi.

 

4953. Chaḷāsītisahassāni nāriyo me pariggahā,
vicittavatthābharaṇā āmuttamaṇikuṇḍalā.

Tám mươi sáu ngàn nữ nhân có đồ trang sức và vải vóc đủ màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni là những người vợ của tôi.

 

4954. Aḷārapamhā hasulā sutthanā tanumajjhimā,
parivārenti maṃ niccaṃ maṇipūjāyidaṃ phalaṃ.

(Các nàng) có làn mi cong, có nụ cười, có bộ ngực xinh, có eo thon, thường xuyên vây quanh tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường ngọc ma-ni.

 

4955. Soṇṇamayā maṇimayā lohitaṅkamayā tathā,
bhaṇḍā me sukatā honti yadicchāya piḷandhanā.

Các đồ trang sức là theo như ước muốn là các vật dụng của tôi được thực hiện khéo léo làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng hồng ngọc tương tợ như thế.

 

4956. Kūṭāgārā guhā rammā sayanañca mahārahaṃ,
mama saṅkappamaññāya nibbattanti yadicchakaṃ.

Các ngôi nhà mái nhọn, các hang động đáng yêu, và chỗ nằm ngồi vô cùng xứng đáng, sau khi biết được ý định của tôi, chúng hiện ra theo như ước muốn.

 

4957. Lābhā tesaṃ suladdhaṃ ca ye labhanti upassutiṃ,
puññakkhettaṃ manussānaṃ osadhaṃ sabbapāṇinaṃ.

Và lợi ích là được khéo thành tựu cho những người nào đạt được sự lắng nghe vì sự lắng nghe là thửa ruộng phước của nhân loại, là phương thuốc cho tất cả các sanh linh.

 

4958. Mayhampi sukataṃ kammaṃ yohaṃ addakkhi nāyakaṃ,
vinipātā pamuttomhi pattomhi acalaṃ padaṃ.

Việc làm của tôi cũng đã được thực hiện tốt đẹp là việc tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo, tôi được thoát khỏi đọa xứ, tôi đạt được vị thế bất động.

 

4959. Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi devattaṃ atha mānusaṃ,
samantā sattaratanā āloko hoti me sadā.

Nơi nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi luôn luôn có ánh sáng từ bảy loại châu báu ở xung quanh.

 

4960. Tāyeva maṇipūjāya anubhotvāna sampadā,
ñāṇāloko mayā diṭṭho pattomhi acalaṃ padaṃ.

Do chính sự cúng dường ngọc ma-ni ấy, tôi đã thọ hưởng sự thành tựu, ánh sáng trí tuệ đã được tôi nhìn thấy, tôi đạt đến vị thế bất động.

 

4961. Satasahasse ito kappe yaṃ maṇiṃ abhipūjayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi maṇipūjāyidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đã cúng dường ngọc ma-ni cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường ngọc ma-ni.

 

4962. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

4963. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

4964. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Maṇipūjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Maṇipūjaka[2] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Maṇipūjakattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.

Ký sự về trưởng lão Maṇipūjaka là phần thứ hai.

 

--ooOoo--

 

 

473. Ukkāsatikattherāpadānaṃ

473. Ký Sự về Trưởng Lão Ukkāsatika:

 

***

 

4965. Kosiko nāma bhagavā cittakūṭe vasī tadā,
jhāyī jhānarato buddho vivekābhirato muni.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tên là Kosika đã cư ngụ tại núi Cittakūṭa. Đức Phật, bậc Hiền Triết là vị chứng thiền, thỏa thích với thiền, vui thích với sự ẩn dật.

 

4966. Ajjhogahetvā himavantaṃ nārīgaṇapurakkhato,
addasaṃ kosikaṃ buddhaṃ puṇṇamāseva candimaṃ.

Tôi đã dẫn đầu nhóm phụ nữ đi sâu vào núi Hi-mã-lạp và tôi đã nhìn thấy đức Phật Kosika tợ như mặt trăng ngày rằm.

 

4967. Ukkāsate gahetvāna parivāresahaṃ tadā,
sattarattindivaṃ ṭhatvā aṭṭhamena agacchahaṃ.

Khi ấy, tôi đã cầm lấy một trăm ngọn đuốc và đặt vòng quanh (đức Phật). Tôi đã đứng bảy ngày đêm và đã ra đi vào ngày thứ tám.

 

4968. Vuṭṭhitaṃ kosikaṃ buddhaṃ sayambhuṃ aparājitaṃ,
pasannacitto vanditvā ekaṃ bhikkhaṃ adāsahaṃ.

Khi đức Phật Kosika, đấng Tự Chủ, bậc không bị hàng phục đã xuất khỏi (thiền), với tâm tịnh tín tôi đã đảnh lễ Ngài và đã dâng cúng một phần vật thực.

 

4969. Tena kammena dipadinda lokajeṭṭha narāsabha,
uppajjiṃ tusite kāye ekabhikkhāyidaṃ phalaṃ.

Bạch vị Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, do việc làm ấy con đã sanh lên cõi trời Đẩu Suất; điều này là quả báu của một phần vật thực.”

 

4970. Divasañceva rattiñca āloko hoti me sadā,
samantā yojanasataṃ obhāsena pharāmahaṃ.

Luôn luôn có ánh sáng cho tôi vào ban ngày và cả ban đêm nữa. Tôi tỏa ra ánh sáng ở xung quanh một trăm do-tuần.

 

4971. Pañcapaññāsakappamhi cakkavattī ahosahaṃ,
cāturanto vijitāvī jambusaṇḍassa issaro.

Tôi đã là vị Chuyển Luân Vương, người chinh phục bốn phương, đấng chúa tể của vùng đất Jambu năm mươi lăm kiếp.

 

4972. Tadā me nagaraṃ āsi iddhaṃ phītaṃ sunimmitaṃ,
tiṃsayojanamāyāmaṃ vitthārena ca vīsati.

Khi ấy, thành phố của tôi đã được sung túc, thịnh vượng, khéo được xây dựng có chiều dài ba mươi do-tuần, và chiều rộng hai mươi do-tuần.

 

4973. Sobhanaṃ nāma nagaraṃ vissakammena māpitaṃ,
dasasaddāvivittantaṃ sammatāḷasamāhitaṃ.

Thành phố tên là Sobhana đã được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma, không thiếu vắng mười loại âm thanh được kết hợp với (âm thanh của) samma và chũm chọe.

 

4974. Na tasmiṃ nagare atthi vallikaṭṭhaṃ ca mattikā,
sabbasoṇṇamayaṃ yeva jotate niccakālikaṃ.

Ở trong thành phố ấy không có dây thừng, gỗ, và gạch ngói. Toàn bộ chỉ làm bằng vàng và chiếu sáng trong thời gian liên tục.

 

4975. Catupākāraparikkhittaṃ tayo āsuṃ maṇimayā,
vemajjhe tālapantī ca vissakammena māpitā.

Có bốn tường thành bao bọc, ba mặt đã được làm bằng ngọc ma-ni, và ở chính giữa có hàng cây cọ đã được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma.

 

4976. Dasasahassā pokkharañño padumuppalachāditā,
puṇḍarīkehi sañchannā nānāgandhasameritā.

Có mười ngàn ngàn hồ nước được che đậy bởi sen hồng và sen xanh, được phủ lên bởi những sen trắng, được tỏa ra với nhiều hương thơm khác loại.

 

4977. Catunavute ito kappe yaṃ ukkaṃ dhārayiṃ ahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi ukkādhārassidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đã cầm giữ ngọn đuốc cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc cầm giữ cây đuốc.

 

4978. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

4979. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

4980. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ukkāsatiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Ukkāsatika[3] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Ukkāsatikattherassa apadānaṃ tatiyaṃ.

Ký sự về trưởng lão Ukkāsatika là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

 

474. Sumanavījaniyattherāpadānaṃ

474. Ký Sự về Trưởng Lão Sumanavījaniya:

 

***

 

4981. Vipassino bhagavato bodhiyā pādaputtame,
sumanāvījaniṃ gayha avījiṃ bodhimuttamaṃ.

Tôi đã cầm lấy cây quạt hoa lài ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Thế Tôn Vipassī và đã quạt mát cội cây Bồ Đề tối thượng.

 

4982. Ekanavute ito kappe avījiṃ bodhimuttamaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi vījanāya idaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đã quạt mát cội cây Bồ Đề tối thượng cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc hầu quạt.

 

4983. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

4984. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

4985. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Sumanavījaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Sumanavījaniya[4] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Sumanavījaniyattherassa apadānaṃ catutthaṃ.

Ký sự về trưởng lão Sumanavījaniya là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

 

475. Kummāsadāyakattherāpadānaṃ

475. Ký Sự về Trưởng Lão Kummāsadāyaka:

 

***

 

4986. Esanāya carantassa vipassissa mahesino,
rittakaṃ pattaṃ disvāna kummāsaṃ purayiṃ ahaṃ.

Trong khi bậc Đại Ần Sĩ Vipassī đang đi tìm kiếm (vật thực), tôi đã nhìn thấy bình bát (của Ngài) trống không và tôi đã đặt đầy sữa đông (ở bình bát).

 

4987. Ekanavute ito kappe yaṃ bhikkhamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi kummāsassa idaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thực cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của sữa đông.

 

4988. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

4989. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

4990. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Kummāsadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Kummāsadāyaka[5] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Kummāsadāyakattherassa apadānaṃ pañcamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Kummāsadāyaka là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

 

476. Kusaṭṭhadāyakattherāpadānaṃ

476. Ký Sự về Trưởng Lão Kusaṭṭhadāyaka:

 

***

 

4991. Kassapassa bhagavato brāhmaṇassa vusīmato,
pasannacitto sumano kusaṭṭhakamadāsahaṃ.

Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng tám thẻ vật thực đến đức Thế Tôn Kassapa, vị Bà-la-môn toàn hảo.

 

4992. Imasmiṃ yeva kappasmiṃ kusaṭṭhakamadāsahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi kusaṭṭhakassidaṃ phalaṃ.

Ngay trong chính kiếp này (kể từ khi) tôi đã dâng cúng tám thẻ vật thực, tôi không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của tám thẻ vật thực.

 

4993. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

4994. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

4995. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Kusaṭṭhadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Kusaṭṭhadāyaka[6] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Kusaṭṭhadāyakattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.

Ký sự về trưởng lão Kusaṭṭhadāyaka là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

 

477. Giripunnāgiyattherāpadānaṃ

477. Ký Sự về Trưởng Lão Giripunnāgiya:

 

***

 

4996. Sobhito nāma sambuddho cittakūṭe vasī tadā,
gahetvā giripunnāgaṃ sayambhumabhipūjayiṃ.

Lúc bấy giờ, bậc Toàn Giác tên Sobhita đã cư ngụ tại núi Cittakūṭa. Tôi đã hái bông hoa nguyệt quế mọc ở núi và đã cúng dường đến đấng Tự Chủ.

 

4997. Catunavute ito kappe yaṃ buddhamabhipūjayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đã cúng dường đức Phật cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

 

4998. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

4999. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

5000. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Giripunnāgiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Giripunnāgiya[7] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Giripunnāgiyattherassa apadānaṃ sattamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Giripunnāgiya là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

 

 

478. Vallikāraphaladāyakattherāpadānaṃ

478. Ký Sự về Trưởng Lão Vallikāraphaladāyaka:

 

***

 

5001. Sumano nāma sambuddho takkarāyaṃ vasī tadā,
vallikāraphalaṃ gayha sayambhussa adāsahaṃ.

Lúc bấy giờ, bậc Toàn Giác tên Sumana đã cư ngụ tại thành phố Takkarā. Tôi đã cầm lấy trái cây vallikāra và đã dâng cúng đến đấng Tự Chủ.

 

5002. Ekatiṃse ito kappe yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi phaladānassidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây cho đến ba mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

 

5003. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

5004. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

5005. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Vallikāraphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti. Đại đức trưởng lão Vallikāraphaladāyaka[8] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Vallikāraphaladāyakattherassa apadānaṃ aṭṭhamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Vallikāraphaladāyaka là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

 

 

479. Pānadhidāyakattherāpadānaṃ

479. Ký Sự về Trưởng Lão Pānadhidāyaka:

 

***

 

5006. Anomadassī bhagavā lokajeṭṭho narāsabho,
divāvihārā nikkhamma pathamāruhi cakkhumā.

Sau khi đã rời khỏi việc nghỉ ngơi ban ngày, đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Hữu Nhãn đã bước lên đường lộ.

 

5007. Pānadhiṃ sukataṃ gayha addhānaṃ paṭipajjahaṃ,
tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ pattikaṃ cārudassanaṃ.

Sau khi cầm lấy đôi dép đã được làm khéo léo, tôi đã tiến hành đi đường xa. Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác, vị có ánh nhìn thu hút, đang đi bộ.

 

5008. Sakaṃ cittaṃ pasādetvā nīharitvāna pānadhiṃ,
pādamūle ṭhapetvāna idaṃ vacanamabraviṃ:

Sau khi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín, tôi đã đem đôi dép lại và đặt xuống ở cạnh bàn chân (đức Phật) rồi đã nói lời nói này:

 

5009. Abhirūha mahāvīra sugatinda vināyaka,
ito phalaṃ labhissāmi yo me attho samijjhatu.

Bạch bậc Đại Hùng, vị Chúa của chốn an vui, đấng Hướng Đạo, xin Ngài hãy bước lên, mong sao mục đích của con được thành tựu là con sẽ đạt được quả báu do việc này.”

 

5010. Anomadassī bhagavā lokajeṭṭho narāsabho,
pānadhiṃ abhirūhitvā idaṃ vacanamabravī:

Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã bước lên đôi dép rồi đã nói lời nói này:

 

5011. “Yo pānadhiṃ me adadā pasanno sehi pāṇihi,
tamhaṃ kittayissāmi, suṇotha mama bhāsato.”

Người nào được tịnh tín tự tay mình đã dâng cúng đến Ta đôi đép, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.

 

5012. Buddhassa giramaññāya sabbe devā samāgatā,
uddaggacittā sumanā vedajātā katañjalī.

Nhận biết giọng nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đã tụ hội lại, với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, có hai tay chắp lên.

 

5013. “Pānadhīnaṃ padānena sukhitoyaṃ bhavissati,
pañcapaññāsakkhattuñca devarajjaṃ karissati.

Do việc dâng cúng đôi dép, người này sẽ được sung sướng và sẽ cai quản Thiên quốc năm mươi lăm lần.

 

5014. Sahassakkhattuṃ rājā ca cakkavattī bhavissati,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.

Và sẽ là vị Chuyển Luân Vương một ngàn lần. Vương quyền về lãnh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

 

5015. Aparimeyye ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma nāmena satthā loke bhavissati.

Vào vô lượng kiếp về sau này, có bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

5016. Tassa dhammesu dāyādo oraso dhammanimmito,
sabbāsave pariññāya nibbāyissatanāsavo.

(Người này) sẽ là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, (người này) sẽ Niết Bàn, không còn lậu hoặc.

 

5017. Devaloke manusse vā nibbattissati puññavā,
devayānapaṭibhāgaṃ yānaṃ paṭilabhissati.”

Người có phước báu (này) sẽ được sanh lên ở thế giới chư Thiên hoặc là loài người, sẽ nhận lãnh chiếc xe tương tợ chiếc xe của chư Thiên.

 

5018. Pāsādā sīvikā mayhaṃ hatthino samalaṅkatā,
rathā vājaññasaṃyuttā sadā pātubhavanti me.

Các tòa lâu đài, các kiệu khiêng, các con voi của tôi là được trang điểm. Các chiếc xe được thắng ngựa giống tốt luôn luôn hiện hữu cho tôi.

 

5019. Agārā nikkhamantopi rathena nikkhamiṃ ahaṃ,
kesesu chijjamānesu arahattamapāpuṇiṃ.

Ngay cả trong khi lìa khỏi gia đình, tôi đã rời khỏi bằng xe ngựa. Trong khi các sợi tóc đang được cạo, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.

 

5020. Lābhā mayhaṃ suladdhaṃ me vāṇijjaṃ suppayojitaṃ,
datvāna pānadhiṃ ekaṃ pattomhi acalaṃ padaṃ.

Điều lợi ích cho tôi đã được tôi đạt thành một cách tốt đẹp, việc đổi trao đã được gắn liền tốt đẹp. Sau khi dâng cúng một đôi dép, tôi được đạt đến vị thế bất động.

 

5021. Aparimeyye ito kappe yaṃ pānadhimadāsahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi pānadhissa idaṃ phalaṃ.

Việc tôi đã dâng cúng đôi dép từ đây cho đến vô lượng kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của đôi dép.

 

5022. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

5023. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

5024. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Pānadhidāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Pānadhidāyaka[9] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Pānadhidāyakattherassa apadānaṃ navamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Pānadhidāyaka là phần thứ chín.

 

--ooOoo--

 

 

480. Pulinacaṅkamiyattherāpadānaṃ

480. Ký Sự về Trưởng Lão Pulinacaṅkamiya:

 

***

 

5025. Migaluddo pure āsiṃ araññe kānane ahaṃ,
vātamigaṃ gavesanto caṅkamaṃ addasaṃ ahaṃ.

Trong thời quá khứ, tôi đã là thợ săn thú rừng ở rừng hoang, ở rừng rậm. Trong lúc tìm kiếm loài linh dương, tôi đã nhìn thấy con đường kinh hành.

 

5026. Ucchaṅgā pulinaṃ gayha caṅkamaṃ okiriṃ ahaṃ,
pasannacitto sumano sugatassa sirīmato.

Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã ôm cát ở bên hông (bằng vạt y) và đã rải lên con đường kinh hành của đấng Thiện Thệ quang vinh.

 

5027. Ekatiṃse ito kappe pulinaṃ okiriṃ ahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi pulinassa idaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đã rải cát cho đến ba mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của cát.

 

5028. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

5029. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

5030. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Pulinacaṅkamiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Pulinacaṅkamiya[10] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Pulinacaṅkamiyattherassa apadānaṃ dasamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Pulinacaṅkamiya là phần thứ mười.

 

Naḷamālīvaggo aṭṭhacattāḷīsamo.

Phẩm Naḷamālī là phẩm thứ bốn mươi tám

 

--ooOoo--

 

Uddānaṃ

Phần Tóm Lược:

 

Naḷamālī maṇidado ukkāsatikavījanī,
kummāso ca kusaṭṭho ca giripunnāgiyopi ca.
Vallikāro pānadhido atho pulinacaṅkamo,
gāthāyo pañcanavuti gaṇitāyo vibhāvihi.

Vị có tràng hoa sậy, vị dâng ngọc ma-ni, vị có trăm ngọn đuốc, vị có cây quạt, món sữa đông, thẻ vật thực, luôn cả bông hoa nguyệt quế ở núi, trái cây vallikāra, vị dâng đôi dép, và đường kinh hành rải cát. Có chín mươi lăm câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.

 

--ooOoo--

 


[1] Naḷamāliya nghĩa là “vị liên quan đến tràng hoa (mālā) bằng bông của cây sậy (naḷa).”

[2] Maṇipūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) ngọc ma-ni (maṇi).”

[3] Ukkāsatika nghĩa là “vị liên quan đến một trăm (sata) cây đuốc (ukkā).

[4] Sumanavījaniya nghĩa là “vị liên quan đến cây quạt (vījana) hoa lài (sumana).”

[5] Kummāsadāyaka nghĩa là “vị cúng dường (dāyaka) sữa đông (kummāsa).”

[6] Kusaṭṭhadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) tám (aṭṭha) thẻ vật thực (kusa).” Lá cỏ kusa được dùng làm thăm để chọn ra các vị tỳ khưu đi đến nhà thí chủ thọ thực (ND).

[7] Giripunnāgiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa nguyệt quế (punnāga) mọc ở núi (giri).”

[8] Vallikāraphaladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) vallikāra.”

[9] Pānadhidāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) đôi dép (pānadhi).” Chú Giải giải thích từ pānadhiṃupāhanayugaṃ nên được dịch là đôi dép (ApA. i, 448, PTS).

[10] Pulinacaṅkamiya nghĩa là “vị liên quan đến được kinh hành (caṅkama) rải cát (pulina).”