***
4717. Kakusandho mahāvīro
sabbadhammāna pāragū,
gaṇamhā vūpakaṭṭho so agamāsi vanantaraṃ.
Bậc Đại Hùng Kakusandha là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Ngài đã đi vào bên trong khu rừng, tách biệt khỏi đám đông.
4718. Bījamiñjaṃ gahetvāna
latāya āvuṇiṃ ahaṃ,
bhagavā tamhi samaye jhāyate pabbatantare.
Sau khi cầm lấy phần hột và ruột (của trái vibhīṭaka), tôi đã buộc lại bằng sợi dây leo. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tham thiền ở trong vùng đồi núi.
4719. Disvānahaṃ devadevaṃ
vippasannena cetasā,
dakkhiṇeyyassa vīrassa bījamiñjamadāsahaṃ.
Sau khi nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, với tâm ý trong sạch tôi đã dâng cúng phần hột và ruột đến đấng Anh Hùng là bậc xứng đáng sự cúng dường.
4720. Imasmiññeva kappasmiṃ
yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi bījamiñjassidaṃ phalaṃ.
Ngay trong chính kiếp này kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của phần hột và ruột (của trái cây).
4721. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4722. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4723. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Vibhīṭakamiñjiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Vibhīṭakamiñjiya[1] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Vibhīṭakamiñjiyattherassa apadānaṃ paṭhamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Vibhīṭakamiñjiya là phần thứ nhất.
--ooOoo--
***
4724. Ajinena nivatthohaṃ
vākacīradharo tadā,
khāribhāraṃ haritvāna kolamāharimassamaṃ.
Khi ấy, là vị mang y phục vỏ cây, tôi đã trang phục bằng da dê. Sau khi mang theo gói nặng trái táo, tôi đã mang về khu ẩn cư.
4725. Tamhi kāle sikhī
buddho eko adutiyo ahu,
mamassamamupāgañchi jānanto sabbakālikaṃ.
Vào thời điểm ấy, đức Phật Sikhī đã là vị đơn độc không có người thứ hai. Trong khi biết được về mọi thời điểm, Ngài đã đi đến khu ẩn cư của tôi.
4726. Sakaṃ cittaṃ
pasādetvā vanditvāna ca subbataṃ,
ubho hatthehi paggayha kolaṃ buddhassadāsahaṃ.
Sau khi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín, tôi đã đảnh lễ bậc có sự hành trì tốt đẹp. Đưa ra bằng cả hai tay, tôi đã dâng cúng trái táo đến đức Phật.
4727. Ekatiṃse ito kappe
yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi koladānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây cho đến ba mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái táo.
4728. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4729. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4730. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Koladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Koladāyaka[2] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Koladāyakattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.
Ký sự về trưởng lão Koladāyaka là phần thứ nhì.
--ooOoo--
***
4731. Candabhāgānadītīre
assamo sukato mama,
billarukkhehi ākiṇṇo nānādumanisevito.
Khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng ở bờ sông Candabhāgā, được rải rác với những cây billa, được mọc lên với nhiều giống cây khác loại.
4732. Sugandhaṃ beluvaṃ
disvā buddhaseṭṭhamanussariṃ,
khāribhāraṃ pūrayitvā tuṭṭho saṃviggamānaso.
Sau khi nhìn thấy trái cây billa có mùi thơm ngát, tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Được hớn hở, với tâm ý bị chấn động tôi đã làm đầy gói nặng.
4733. Kakusandhaṃ upāgamma
billapakkamadāsahaṃ,
puññakkhettassa vīrassa vippasannena cetasā.
Tôi đã đi đến (đức Phật) Kakusandha và đã dâng cúng trái cây billa đã chín đến thửa ruộng phước đến đấng Anh Hùng với tâm ý trong sạch.
4734. Imasmiṃ yeva
kappasmiṃ yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi phaladānassidaṃ phalaṃ.
Ngay trong chính kiếp này kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
4735. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4736. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4737. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Billaphaliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Billaphaliya[3] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Billaphaliyattherassa apadānaṃ tatiyaṃ.
Ký sự về trưởng lão Billaphaliya là phần thứ ba.
--ooOoo--
***
4738. Suvaṇṇavaṇṇaṃ
sambuddhaṃ battiṃsavaralakkhaṇaṃ,
pavanaggena gacchantaṃ sālarājaṃva phullitaṃ.
Đấng Toàn Giác có màu da vàng chói, có ba mươi hai hảo tướng tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa, đang di chuyển ở phía trên đỉnh chóp của khu rừng.
4739. Tiṇattharaṃ
paññapetvā buddhaseṭṭhamayācahaṃ,
anukampatu maṃ buddho bhikkhamicchāmi dātave.
Tôi đã xếp đặt tấm trải cỏ và đã cầu xin đức Phật tối thượng rằng: “Xin đức Phật hãy thương tưởng đến con, con muốn dâng cúng vật thực.”
4740. Anukampako kāruṇiko
atthadassī mahāyaso,
mama saṅkappamaññāya oruhī mama assame.
Sau khi biết được ý định của tôi, đấng Bi Mẫn, vị có lòng thương tưởng, có danh tiếng lớn lao Atthadassī đã ngự xuống khu ẩn cư của tôi.
4741. Oruhitvāna sambuddho
nisīdi paṇṇasanthare,
bhallātakaṃ gahetvāna buddhaseṭṭhassadāsahaṃ.
Sau khi ngự xuống, đấng Toàn Giác đã ngồi xuống ở tấm thảm lá cỏ. Tôi đã cầm lấy trái cây bhallātaka và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
4742. Mama nijjhāyamānassa
paribhuñji tadā jino,
tattha cittaṃ pasādetvā abhivandiṃ tadā jinaṃ.
Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, sau khi khiến tâm được tịnh tín, tôi đã đảnh lễ đấng Chiến Thắng.
4743. Aṭṭhārase kappasate
yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi phaladānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây cho đến một ngàn tám trăm kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
4744. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4745. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4746. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Bhallātakadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Bhallātakadāyaka[4] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bhallātakadāyakattherassa apadānaṃ catutthaṃ.
Ký sự về trưởng lão Bhallātakadāyaka là phần thứ tư.
--ooOoo--
***
4747. Nigrodhe haritobhāse
saṃvirūḷhamhi pādape,
uttalimālaṃ paggayha bodhiyā abhiropayiṃ.
Tôi đã cầm lấy tràng hoa uttalī và đã dâng lên cội Bồ Đề là cây Nigrodha đã được phát triển có ánh sáng màu xanh .
4748. Imasmiṃ yeva kappamhi
yaṃ pupphamabhiropayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi bodhipūjāyidaṃ phalaṃ.
Việc tôi đã dâng lên bông hoa là ngay trong chính kiếp này, tôi không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường cội Bồ Đề.
4749. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4750. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4751. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Uttalipupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Uttalipupphiya[5] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Uttalipupphiyattherassa apadānaṃ pañcamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Uttalipupphiya là phần thứ năm.
--ooOoo--
***
4752. Supupphitaṃ sālavanaṃ
ogayha vessabhū muni,
nisīdi giriduggesu abhijātova kesarī.
Sau khi đi sâu vào trong rừng cây sālā khéo được trổ hoa, bậc Hiền Triết Vessabhū đã ngồi xuống ở những nơi hiểm trở của ngọn núi trông như là con sư tử đã được sanh ra cao quý.
4753. Pasannacitto sumano
ambāṭakamapūjayiṃ,
puññakkhettaṃ mahāvīraṃ pasanno sehi pāṇihi.
Được tịnh tín tôi đã tự tay mình cúng dường (bông hoa) ambāṭaka đến thửa ruộng phước đến bậc Đại Hùng với tâm tịnh tín với ý vui mừng.
4754. Ekatiṃse ito kappe
yaṃ pupphamabhiropayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng lên bông hoa cho đến ba mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4755. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4756. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4757. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ambāṭakiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Ambāṭakiya[6] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ambāṭakiyattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.
Ký sự về trưởng lão Ambāṭakiya là phần thứ sáu.
--ooOoo--
***
4758. Padumuttarassa
bhagavato sabbabhūtahitesino,
pasannacitto sumano sīhāsanamadāsahaṃ.
Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng bảo tọa sư tử đến đức Thế Tôn Padumuttara là bậc tầm cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh.
4759. Devaloke manusse vā
yattha yattha vasāmahaṃ,
labhāmi vipulaṃ vyamhaṃ sīhāsanassidaṃ phalaṃ.
Ở bất cứ nơi đâu tôi sinh sống, ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người, tôi đạt được cung điện đồ sộ; điều này là quả báu của bảo tọa sư tử.
4760. Soṇṇamayā rūpimayā
lohitaṅkamayā bahū,
maṇimayā ca pallaṅkā nibbattanti mamaṃ sadā.
Và có nhiều chiếc ghế dài làm bằng vàng, làm bằng bạc, làm bằng hồng ngọc, làm bằng ngọc ma-ni luôn luôn hiện ra cho tôi.
4761. Bodhiyā āsanaṃ katvā
jalajuttamanāmino,
ucce kule pajāyāmi aho dhammasudhammatā.
Sau khi đã thực hiện chỗ ngồi giác ngộ cho vị tên Padumuttara, tôi được sanh ra trong gia đình thượng lưu. Ôi tính chất tốt đẹp của Giáo Pháp!
4762. Satasahasse ito kappe
sīhāsanamakāsahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi sīhāsanassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã thực hiện bảo tọa sư tử cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của bảo tọa sư tử.
4763. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4764. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4765. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Sīhāsaniko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Sīhāsanika[7] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Sīhāsanikattherassa apadānaṃ sattamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Sīhāsanika là phần thứ bảy.
--ooOoo--
***
4766. Sumedho nāma
sambuddho aggo kāruṇiko muni,
tārayitvā bahū satte nibbuto so mahāyaso.
Đấng Toàn Giác Sumedha là đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Triết. Sau khi đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua, vị có danh vọng lớn lao ấy đã Niết Bàn.
4767. Sīhāsanassa sāmantā
sumedhassa mahesino,
pasannacitto sumano pādapīṭhamakārayiṃ.
Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã thực hiện ghế kê chân ở bên cạnh bảo tọa sư tử của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha.
4768. Katvāna kusalaṃ
kammaṃ sukhapākaṃ sukhudrayaṃ,
puññakammena saṃyutto tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Tôi đã thực hiện nghiệp tốt lành (là nghiệp) có kết quả là sự an lạc, đưa đến sự an lạc. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
4769. Tattha me vasamānassa
puññakammasamaṅgino,
padāni uddharantassa soṇṇapīṭhā bhavanti me.
Trong khi sống ở tại nơi ấy, tôi là người có được nghiệp phước thiện, khi tôi giở các bàn chân lên là có những chiếc ghế đẩu vàng hiện ra cho tôi.
4770. Lābhā tesaṃ suladdhaṃ
vo ye labhanti upassutiṃ,
nibbute kāraṃ katvāna labhanti vipulaṃ sukhaṃ.
Những người nào có được sự lắng nghe ở Ngài, các sự lợi ích cho họ đã được đạt thành tốt đẹp. (Thậm chí) sau khi thể hiện sự tôn kính đến bậc đã Niết Bàn, họ (cũng) đạt được sự an lạc lớn lao.
4771. Mayāpi sukataṃ kammaṃ
vāṇijjaṃ suppayojitaṃ,
pādapīṭhaṃ karitvāna soṇṇapīṭhaṃ labhāmahaṃ.
Việc làm cũng đã được tôi thực hiện tốt đẹp, việc đổi trao đã được gắn liền tốt đẹp. Sau khi thực hiện chiếc ghế kê chân, tôi đạt được chiếc ghế đẩu vàng.
4772. Yaṃ yaṃ disaṃ
pakkamāmi kenaci paccayenahaṃ,
soṇṇapīṭhe akkamāmi puññakammassidaṃ phalaṃ.
Bất cứ phương nào tôi ra đi vì bất cứ lý do gì, tôi đều bước đi ở trên chiếc ghế đẩu vàng; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
4773. Tiṃsakappasahassamhi
yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi pādapīṭhassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy cho đến ba chục ngàn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của ghế kê chân.
4774. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4775. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4776. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Pādapīṭhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Pādapīṭhiya[8] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Pādapīṭhiyattherassa apadānaṃ aṭṭhamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Pādapīṭhiya là phần thứ tám.
--ooOoo--
***
4777. Padumuttarabuddhassa
bodhiyā pādaputtame,
vedikaṃ sukataṃ katvā sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ.
Sau khi thực hiện viền rào đã được làm khéo léo ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Phật Padumuttara, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín.
4778. Atoḷārāni bhaṇḍāni
katāni akatāni ca,
antaḷikkhā pavassanti vedikāya idaṃ phalaṃ.
Các vật dụng nhân tạo và thiên nhiên vô cùng sang trọng đã từ bầu trời rơi xuống; điều này là quả báu của cái viền rào.
4779. Ubhato vyūḷhasaṅgāme
pakkhandanto bhayānake,
bhayabheravaṃ na passāmi vedikāya idaṃ phalaṃ.
Trong khi lao vào cuộc chiến đấu kinh hoàng nổ ra từ hai phe, tôi không nhìn thấy sự kinh hoàng và hãi sợ; điều này là quả báu của cái viền rào.
4780. Mama saṅkappamaññāya
vyamhaṃ nibbattate subhaṃ,
sayanāni mahagghāni vedikāya idaṃ phalaṃ.
Sau khi biết được ý định của tôi, cung điện được sanh lên, xinh đẹp, với những chiếc giường trị giá lớn lao; điều này là quả báu của cái viền rào.
4781. Satasahasse ito kappe
yaṃ vedikamakārayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi vedikāya idaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã xây dựng cái viền rào cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của cái viền rào.
4782. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4783. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4784. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Vedikārako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Vedikāraka[9] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Vedikārakattherassa apadānaṃ navamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Vedikāraka là phần thứ chín.
--ooOoo--
***
4785. Siddhatthassa
bhagavato dipadindassa tādino,
pasannacitto sumano bodhigharamakārayiṃ.
Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cho thực hiện căn nhà ở cội Bồ Đề của đức Thế Tôn Siddhattha là vị Chúa Tể của loài người như thế ấy.
4786. Tusitaṃ upapannomhi
vasāmi ratane ghare,
na me sītaṃ vā uṇhaṃ vā vāto gatte na samphuse.
Tôi đạt đến cõi trời Đẩu Suất. Tôi sống ở trong ngôi nhà châu báu. Sự lạnh hoặc sự nóng không có đến tôi, gió không chạm vào thân thể của tôi.
4787. Pañcasaṭṭhimhito
kappe cakkavattī ahosahaṃ,
kāsikaṃ nāma nagaraṃ vissakammena māpitaṃ.
Tôi đã là vị Chuyển Luân Vương kể từ đây cho đến sáu mươi lăm kiếp. Có thành phố tên là Kāsika đã được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma.
4788. Dasayojana-āyāmaṃ
aṭṭhayojanavitthataṃ,
na tamhi nagare atthi kaṭṭhaṃ vallī ca mattikā.
(Thành phố này) dài mười do-tuần, rộng tám do-tuần. Ở trong thành phố này không có gỗ, dây thừng, và gạch ngói.
4789. Tiriyaṃ yojanaṃ āsi
aḍḍhayojanavitthato,
maṅgalo nāma pāsādo vissakammena māpito.
Có tòa lâu đài tên là Maṅgala đã được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma. Chiều ngang đã là một do-tuần, chiều rộng nửa do-tuần.
4790. Cullāsītisahassāni
thambhā soṇṇamayā ahuṃ,
maṇimayā ca niyyūhā chadanaṃ rūpiyaṃ ahu.
Đã có tám mươi bốn ngàn cột làm bằng vàng và các tháp nhọn làm bằng ngọc ma-ni, mái che đã là bằng bạc.
4791. Sabbasoṇṇamayaṃ
gharaṃ vissakammena māpitaṃ,
ajjhāvutthaṃ mayā etaṃ gharadānassidaṃ phalaṃ.
Có ngôi nhà làm bằng vàng toàn bộ đã được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma. Nơi này đã được tôi cư ngụ; điều này là quả báu của sự dâng cúng căn nhà.
4792. Te sabbe anubhotvāna
devamānusake bhave,
ajja pattomhi nibbānaṃ santipadamanuttaraṃ.
Sau khi thọ hưởng tất cả các thứ ấy ở cõi trời và người. Hôm nay, tôi đã đạt đến Niết Bàn là vị thế an tịnh không gì hơn được.
4793. Catunavute ito kappe
bodhigharamakārayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi gharadānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã cho thực hiện căn nhà ở cội Bồ Đề cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng căn nhà.
4794. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4795. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4796. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Bodhighariyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Bodhighariya[10] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bodhighariyattherassa apadānaṃ dasamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Bodhighariya là phần thứ mười.
--ooOoo--
Viṭabhīkī kolaphalī billa
bhallātakappadā,
uttalambāṭakī ceva āsanī pādapīṭhako.
Vediko bodhighariko gāthāyo gaṇitā viha,
ekūnāsītikā sabbā asmiṃ vagge sakittitā.
Vị có trái cây vibhīṭaka,
vị dâng trái táo, vị dâng trái billa, vị dâng
trái bhallātaka, vị dâng tràng hoa
uttalī, vị dâng bông hoa
ambāṭaka, luôn cả vị có chỗ ngồi, vị dâng ghế
kê chân, vị làm cái viền rào, vị cho thực hiện căn nhà của cội Bồ Đề. Ở đây, các
câu kệ đã được tính đếm là bảy mươi chín câu, toàn bộ được kể lại ở phẩm này.
Vibhīṭakavaggo pañcacattāḷīsamo.
Phẩm Vibhīṭaka là phẩm thứ bốn mươi lăm.
--ooOoo--
[1] Vibhīṭakamiñjiya nghĩa là “vị liên quan đến phần ruột (miñja) của trái cây vibhīṭaka.”
[2] Koladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái táo (kola).”
[3] Billaphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phala) có tên là billa.”
[4] Bhallātakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây bhallātaka.”
[5] Uttalipupphiya nghĩa là “vị có liên quan đến bông hoa (puppha) uttalī.”
[6] Ambāṭakiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa ambāṭaka.”
[7] Sīhāsanika nghĩa là “vị liên quan đến bảo tọa (āsana) sư tử (sīha),” là chỗ ngồi ở cội cây Bồ Đề (bodhiyā āsanaṃ) và trên chỗ ngồi đó đức Phật đã chứng quả vị Giác Ngộ (ND).
[8] Pādapīṭhiya nghĩa là “vị liên quan đến cái ghế (pīṭha) kê chân (pāda).”
[9] Vedikāraka nghĩa là “vị thực hiện (kāraka) cái viền rào (vedi, vedikā).”
[10] Bodhighariya nghĩa là “vị liên quan đến căn nhà (ghara) ở cội cây Bồ Đề (bodhi).”