***
4630. Imamhi bhaddake kappe
brahmabandhu mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.
Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
4631. Nippapañco nirālambo
ākāsasamamānaso,
suññatābahulo tādī animittarato vasī.
Bậc như thế ấy đã sống không còn pháp chướng ngại, không cần sự nâng đỡ, có tâm ý sánh bằng bầu không gian, thường xuyên (trú vào) không tánh, thỏa thích ở vô tướng.
4632. Asaṅgacitto nikleso
asaṃsaṭṭho kule gaṇe,
mahākāruṇiko vīro vinayopāyakovido.
Bậc Đại Bi, đấng Anh Hùng, rành rẽ về phương thức huấn luyện, có tâm không quyến luyến, lìa phiền não, không thân cận với gia đình và đồ chúng.
4633. Uyyutto parakiccesu
vinayanto sadevake,
nibbānagamanaṃ maggaṃ gatipaṅkavisosanaṃ.
4634. Amataṃ paramassādaṃ
jarāmaccunivāraṇaṃ,
mahāparisamajjhe so nisinno lokatāraṇo.
Bị bận rộn trong những việc hữu ích cho những người khác, đấng Tế Độ Thế Gian ấy ngồi giữa đại chúng đang hướng dẫn chúng sanh luôn cả chư Thiên về Đạo Lộ đưa đến Niết Bàn, về việc làm khô cạn bãi lầy đưa đến cảnh giới (tái sanh), về pháp Bất Tử có phẩm vị tối thắng, có sự cản ngăn sự già và sự chết.
4635. Karavīkaruto nātho
brahmaghoso tathāgato,
uddharanto mahāduggā vipannaddhe anāyake.
Thốt lên âm điệu của loài chim karavīka (ca-lăng-tầng-già), đấng Bảo Hộ, đức Như Lai, với âm thanh của Phạm Thiên đang tiếp độ những người có lối đi bị lầm lạc, không người hướng dẫn, ra khỏi chốn vô cùng khốn khổ.
4636. Desento virajaṃ
dhammaṃ diṭṭho me lokanāyako,
tassa dhammaṃ suṇitvāna pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Trong lúc đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang thuyết giảng Giáo Pháp không bợn nhơ, tôi đã nhìn thấy Ngài. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, tôi đã xuất gia vào cuộc sống không gia đình.
4637. Pabbajitvā tadā cāhaṃ
cintento jinasāsanaṃ,
ekakova vane ramme vasiṃ saṃsaggapīḷito.
Và sau khi xuất gia, lúc bấy giờ trong khi suy nghĩ về Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, bị quấy rối bởi việc chung đụng nên tôi đã sống chỉ mỗi một mình ở trong khu rừng đáng yêu.
4638. Sakāyavūpakasso me
hetubhūto mahābhavi,
manaso vūpakassassa saṃsaggabhayadassino.
Sự yên tịnh về thân của tôi trở thành nhân duyên chính yếu cho tôi có được sự yên tịnh ở tâm, có được sự nhìn thấy nỗi sợ hãi trong việc chung đụng.
4639. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4640. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4641. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekavihāriyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Ekavihāriya[1] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ekavihāriyattherassa apadānaṃ paṭhamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Ekavihāriya là phần thứ nhất.
--ooOoo--
***
4642. Vipassino bhagavato
mahābodhimaho ahu,
mahājanā samāgamma pūjenti bodhimuttamaṃ.
Đã có lễ hội ở cội Đại Bồ Đề của đức Thế Tôn Vipassī. Đám đông dân chúng đã cùng nhau đi đến và cúng dường cội Bồ Đề tối thượng.
4643. Na hi taṃ orakaṃ
maññe buddhaseṭṭho bhavissati,
yassāyamediso bodhi pūjanīyo ca satthuno.
Tôi không nghĩ rằng bậc đạo sư nào có cội Bồ Đề được cúng dường như thế này lại là vị kém cỏi, Ngài phải là vị Phật tối thượng.
4644. Tato saṅkhaṃ
gahetvāna bodhirukkhaṃ upaṭṭhahiṃ,
dhamento sabbadivasaṃ avandiṃ bodhimuttamaṃ.
Do đó, tôi đã cầm lấy chiếc tù và vỏ ốc và đã phục vụ cội cây Bồ Đề. Trong khi thổi (tù và) trọn cả ngày, tôi đã đảnh lễ cội Bồ Đề tối thượng.
4645. Āsannake kataṃ kammaṃ
devalokaṃ apāpayī,
kaḷebaraṃ me patitaṃ devaloke ramāmahaṃ.
Hành động được thực hiện vào lúc cận kề cái chết đã đưa tôi đến thế giới chư Thiên. Cơ thể của tôi vừa ngã xuống là tôi sướng vui ở thế giới chư Thiên.[2]
4646. Saṭṭhituriyasahassāni
tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā,
sadā mayhaṃ upaṭṭhanti buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Có sáu mươi ngàn nhạc công luôn luôn hớn hở vui mừng hoan hỷ phục vụ tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4647. Ekasattatime kappe
rājā āsiṃ sudassano,
cāturanto vijitāvī jambusaṇḍassa issaro.
Tôi đã là đức vua Sudassana bảy mươi mốt kiếp, là người chinh phục bốn phương, là vị chúa tể của dải đất Jambu.
4648. Tato aṅgasatā tūrā
parivārenti maṃ sadā,
anubhomi sakaṃ kammaṃ upaṭṭhānassidaṃ phalaṃ.
Kế đó, có trăm loại nhạc cụ luôn luôn vây quanh tôi. Tôi thọ hưởng hành động của chính mình; điều này là quả báu của việc phục vụ.
4649. Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi
devattaṃ atha mānusaṃ,
mātukucchigatassāpi vajjare bheriyo sadā.
Nơi chốn nào tôi sanh lên, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, các chiếc trống luôn luôn vang lên đến tôi ngay cả khi (nhập thai) đi vào bụng mẹ.
4650. Upaṭṭhahitvā
sambuddhaṃ anubhotvāna sampadā,
sivaṃ sukhemaṃ amataṃ pattomhi acalaṃ padaṃ.
Sau khi phục vụ đấng Toàn Giác, sau khi thọ hưởng sự thành đạt, tôi đã đạt đến vị thế bất động là Niết Bàn, bình yên, bất tử.
4651. Ekanavute ito kappe
yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4652. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4653. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4654. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekasaṅkhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Ekasaṅkhiya[3] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ekasaṅkhiyattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.
Ký sự về trưởng lão Ekasaṅkhiya là phần thứ hai.
--ooOoo--
***
4655. Padumuttaro nāma jino
āhutīnaṃ paṭiggaho,
vasīsatasahassehi nagaraṃ pāvisī tadā.
Khi ấy, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã đi vào thành phố cùng với một trăm ngàn vị có năng lực (A-la-hán).
4656. Nagaraṃ pavisantassa
upasantassa tādino,
ratanāni pajjotiṃsu nigghoso āsi tāvade.
Trong khi các vị thanh tịnh như thế ấy đang đi vào thành phố, các châu báu đã phát sáng, đã có tiếng reo hò vào ngay lúc ấy.
4657. Buddhassa anubhāvena
bherī vajjumaghaṭṭitā,
sayaṃ vīṇā pavajjanti buddhassa visato puraṃ.
Trong khi đức Phật đang đi vào thành phố, do năng lực của đức Phật những chiếc trống đã vang lên dầu không được vỗ, các cây đàn vīṇā tự phát ra âm thanh.
4658. Buddhaseṭṭhaṃ na
passāmi padumuttaraṃ mahāmuniṃ,
pāṭihīraṃ ca passitvā tattha cittaṃ pasādayiṃ.
Tôi không nhìn thấy đức Phật tối thượng bậc Đại Hiền Triết Padumuttara. Và sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu, tại nơi ấy tôi đã khiến tâm được tịnh tín.
4659. Aho buddho aho dhammo
aho no satthusampadā.
acetanāpi turiyā sayameva pavajjare.
“Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư chúng ta! Dầu không có tâm tư, các nhạc cụ tự chính mình phát ra âm thanh.”
4660. Satasahasse ito kappe
yaṃ saññamalabhiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhasaññāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã đạt được ý tưởng ấy cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc nghĩ tưởng đến đức Phật.
4661. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā vihārāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4662. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4663. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhopi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Pāṭihīrasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Pāṭihīrasaññaka[4] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Pāṭihīrasaññakattherassa apadānaṃ tatiyaṃ.
Ký sự về trưởng lão Pāṭihīrasaññaka là phần thứ ba.
--ooOoo--
***
4664. Kaṇikāraṃva jalitaṃ
dīparukkhaṃva jotitaṃ,
kañcanaṃva virocantaṃ addasaṃ dipaduttamaṃ.
Tôi đã nhìn thấy bậc Tối Thượng Nhân giống như là cây kaṇikāra được cháy sáng, như là cây đèn được chiếu sáng, như là vàng kim loại đang tỏa sáng.
4665. Kamaṇḍaluṃ ṭhapetvāna
vākacīraṃ ca kuṇḍikaṃ,
ekaṃsaṃ ajinaṃ katvā buddhaseṭṭhaṃ thaviṃ ahaṃ.
Sau khi xếp đặt túi nước, y phục vỏ cây, và bình đựng nước, tôi đã khoác tấm da dê một bên vai rồi đã ngợi ca đức Phật tối thượng rằng:
4666. Tamandhakāraṃ
vidhamaṃ mohajālasamākulaṃ,
ñāṇālokaṃ dassayitvā nittiṇṇosi mahāmuni.
“Bạch đấng Đại Hiền Triết, trong khi hủy diệt điều tăm tối được che đậy bởi màng lưới si mê ấy, sau khi thể hiện ánh sáng trí tuệ, Ngài đã vượt qua.
4667. Samuddharasimaṃ lokaṃ
sabbāvantamanuttara,
ñāṇe te upamā natthi yāvatā jagato gati.
Bạch đấng Vô Thượng, xin Ngài hãy tiếp độ thế gian này bao gồm tất cả. Dầu cho đi khắp trái đất không có gì tương đương với trí tuệ của Ngài.
4668. Tena ñāṇena sabbaññū
iti buddho pavuccati,
vandāmi taṃ mahāvīra sabbaññutamanāvaraṃ.
Với trí tuệ ấy, đức Phật được gọi là ‘Đấng Toàn Tri.’ Bạch đấng Đại Hùng, con xin đảnh lễ đấng Toàn Tri không gì che lấp ấy.”
4669. Satasahasse ito kappe
buddhaseṭṭhaṃ thaviṃ ahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi ñāṇatthavāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã ngợi ca đức Phật tối thượng cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc ngợi ca trí tuệ.
4670. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4671. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4672. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ñāṇatthaviko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Ñāṇatthavika[5] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ñāṇatthavikattherassa apadānaṃ catutthaṃ.
Ký sự về trưởng lão Ñāṇatthavika là phần thứ tư.
--ooOoo--
***
4673. Nagare bandhumatiyā
dvārapālo ahosahaṃ,
addasaṃ virajaṃ buddhaṃ sabbadhammāna pāraguṃ.
Tôi đã là người gác cổng ở thành phố Bandhumatī. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, đấng Vô Nhiễm, bậc thông suốt về tất cả các pháp.
4674. Ucchukhaṇḍakamādāya
buddhaseṭṭhassadāsahaṃ,
pasannacitto sumano vipassissa mahesino.
Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cầm lấy khúc mía và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng, bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī..
4675. Ekanavute ito kappe
yaṃ ucchumadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi ucchukhaṇḍassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng mía cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của khúc mía.
4676. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4677. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4678. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ucchukhaṇḍiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Ucchukhaṇḍika[6] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ucchukhaṇḍikattherassa apadānaṃ pañcamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Ucchukhaṇḍika là phần thứ năm.
--ooOoo--
***
4679. Romaso nāma sambuddho
vasatī pabbatantare,
kalambaṃ tassa pādāsiṃ pasanno sehi pāṇihi.
Đấng Tự Giác Ngộ tên Romasa ngụ ở trong vùng đồi núi. Được tịnh tín, tôi đã tự tay mình dâng lên Ngài bông hoa kalamba.
4680. Catunavute ito kappe
yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi kalambassa idaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của bông hoa kalamba.
4681. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4682. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4683. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Kalambadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Kalambadāyaka[7] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Kalambakattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.
Ký sự về trưởng lão Kalambadāyaka là phần thứ sáu.
--ooOoo--
***
4684. Vipine buddhaṃ
disvāna sayambhuṃ aparājitaṃ,
ambāṭakaṃ gahetvāna sayambhussa adāsahaṃ.
Sau khi nhìn thấy đức Phật, đấng Tự Chủ, bậc không bị hàng phục trong khu rừng, tôi đã cầm lấy trái cây ambāṭaka và đã dâng cúng đến đấng Tự Chủ.
4685. Ekatiṃse ito kappe
yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi phaladānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây cho đến ba mươi mốt kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
4686. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4687. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4688. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ambāṭakadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Ambāṭakadāyaka[8] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ambāṭakadāyakattherassa apadānaṃ sattamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Ambāṭakadāyaka là phần thứ bảy.
--ooOoo--
***
4689. Harītakaṃ āmalakaṃ
ambajambu vibhītakaṃ,
kolaṃ bhallātakaṃ billaṃ sayamevāharāmahaṃ.
Tôi đích thân mang lại các loại trái cây như trái harītaka, trái āmalaka, trái xoài, trái mận đỏ, trái vibhīṭaka, trái táo, trái bhallātaka, và trái billa.
4690. Disvāna pabbhāragataṃ
jhāyiṃ jhānarataṃ muniṃ,
ābādhena papīḷentaṃ adutiyaṃ mahāmuniṃ.
Tôi đã nhìn thấy bậc Hiền Triết, chứng thiền, thỏa thích về thiền, đã đi đến sườn núi. Bậc Đại Hiền Triết không có người thứ hai đang bị hành hạ bởi cơn bệnh.
4691. Harītakaṃ gahetvāna
sayambhussa adāsahaṃ,
katamattamhi bhesajje vyādhi passambhi tāvade.
Tôi đã cầm lấy trái harītaka và đã dâng cúng đến đấng Tự Chủ. Khi thuốc men vừa mới tác dụng, cơn bệnh đã lắng dịu ngay lập tức.
4692. Pahīnadaratho buddho
anumodaniyaṃ akā,
bhesajjadāneniminā vyādhivūpasamena ca.
Có sự khó chịu đã được loại trừ, đức Phật đã nói lời tùy hỷ rằng: “Do sự dâng cúng thuốc men, và do sự dứt hẳn cơn bệnh,
4693. Devabhūto manusso vā
jāto vā aññajātiyā,
sabbattha sukhito hohi mā ca te vyādhi āgamā.
mong rằng ngươi được sung sướng ở khắp mọi nơi, dầu được trở thành Thiên nhân hay loài người hoặc ở sanh chủng khác, và bệnh hoạn chớ xảy đến cho ngươi.”
4694. Idaṃ vatvāna
sambuddho sayambhū aparājito,
nabhaṃ abbhuggami dhīro haṃsarājāva ambare.
Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác, đấng Tự Chủ, vị không bị hàng phục, bậc trí tuệ đã bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
4695. Yato harīṭakamadaṃ
sayambhussa mahesino,
imaṃ jātimupādāya vyādhi me nupajjatha.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái harītaka đến đấng Tự Chủ, bậc Đại Ẩn Sĩ, cho đến kiếp sống này, bệnh hoạn đã không xảy đến cho tôi.
4696. Ayaṃ pacchimako
mayhaṃ carimo vattate bhavo.
tisso vijjā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển, tam minh đã được tác chứng, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
4697. Catunavute ito kappe
bhesajjamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi bhesajjassa idaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng thuốc men cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của thuốc men.
4698. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4699. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4700. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Harītakadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Harītakadāyaka[9] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Harītakadāyakattherassa apadānaṃ aṭṭhamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Harītakadāyaka là phần thứ tám.
--ooOoo--
***
4701. Hatthirājā tadā āsiṃ
īsādanto urūḷhavā,
vicaranto brahāraññe addasaṃ lokanāyakaṃ.
Khi ấy, tôi đã là con voi chúa có ngà dài như gọng xe, vững chải. Trong khi đi lang thang ở khu rừng mênh mông tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
4702. Ambapiṇḍiṃ gahetvāna
adāsiṃ satthuno ahaṃ,
paṭigaṇhi mahāvīro siddhattho lokanāyako.
Sau khi cầm lấy chùm trái xoài, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư. Đấng Đại Hùng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Siddhattha đã thọ lãnh.
4703. Mama nijjhāyamānassa
paribhuñji tadā jino,
tattha cittaṃ pasādetvā tusitaṃ upapajjahaṃ.
Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, sau khi đã khiến tâm được tịnh tín, tôi đã đạt đến cõi trời Đẩu Suất.[10]
4704. Tato ahaṃ cavitvāna
cakkavattī ahosahaṃ,
eteneva upāyena anubhotvāna sampadā.
Từ nơi ấy tôi đã mệnh chung, và tôi đã trở thành vị Chuyển Luân Vương. Tôi thọ hưởng sự thành đạt theo đường lối thế ấy.
4705. Padhānapahitattohaṃ
upasanto nirūpadhi,
sabbāsave pariññāya viharāmi anāsavo.
Tôi đã ra sức nỗ lực, trở nên an tịnh, không còn việc tái sanh. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
4706. Catunavute ito kappe
yaṃ phalaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi phaladānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
4707. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4708. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4709. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ambapiṇḍiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Ambapiṇḍiya[11] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ambapiṇḍiyattherassa apadānaṃ navamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Ambapiṇḍiya là phần thứ chín.
--ooOoo--
***
4710. Padumuttarabuddhassa
lokajeṭṭhassa tādino,
piṇḍāya vicarantassa dhāreto uttamaṃ yasaṃ.
Đức Phật Padumuttara, vị đang nắm giữ danh vọng tối thượng, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy đang đi đó đây để khất thực.
4711. Aggaphalaṃ gahetvāna
vippasannena cetasā,
dakkhiṇeyyassa vīrassa adāsiṃ satthuno ahaṃ.
Sau khi thâu hoạch trái cây đầu mùa, với tâm ý trong sạch tôi đã dâng cúng đến đấng Đạo Sư, bậc Anh Hùng xứng đáng sự cúng dường.
4712. Tena kammena
dipadinda lokajeṭṭha narāsabha,
pattomhi acalaṃ ṭhānaṃ hitvā jayaparājayaṃ.
“Bạch vị Chúa của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, nhờ vào hành động ấy, sau khi từ bỏ sự hơn thua con đã đạt được vị thế bất động.”
4713. Satasahasse ito kappe
yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi aggadānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đã) không biết đến cõi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng vật đầu mùa.
4714. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
4715. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4716. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Jambuphaliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lão Jambuphaliya[12] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Jambuphaliyattherassa apadānaṃ dasamaṃ.
Ký sự về trưởng lão Jambuphaliya là phần thứ mười.
--ooOoo--
Thero ekavihārī ca saṅkhiko
pāṭihīrako,
thaviko ucchukhaṇḍi ca kalambambāṭakappadā.
Harītakambapiṇḍi ca jambudo dasamo sati,
chaḷāsīti ca gāthāyo gaṇitāyo vibhāvīhi.
Vị trưởng lão sống một mình, vị (thổi) tù và vỏ ốc, vị (tưởng đến) điều kỳ diệu, vị ngợi ca (đức Phật), vị có khúc mía, vị dâng bông hoa kalamba, vị dâng trái ambāṭaka, vị (dâng) trái cây harītaka, vị có chùm xoài, vị dâng trái mận đỏ là thứ mười. Và các câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí là tám mươi sáu câu kệ.
Ekavihārivaggo catucattāḷisamo.
Phẩm Ekavihārī là phẩm thứ bốn mươi bốn.
--ooOoo--
[1] Ekavihāriya nghĩa là “vị liên quan đến sự cư ngụ (vihāra) một mình (eka).”
[2] Vị ấy bị té chết và được sanh lên cõi trời ngay khi ấy.
[3] Ekasaṅkhiya nghĩa là “vị liên quan đến một lần (eka) thổi chiếc chiếc tù và vỏ ốc (saṅkha).”
[4] Pāṭihīrasaññaka nghĩa là “vị tưởng nhớ (saññaka) đến điều kỳ diệu (pāṭihīra).”
[5] Ñāṇatthavika nghĩa là “vị ngợi ca (thavika) trí tuệ (ñāṇa) của đức Phật.”
[6] Ucchukhaṇḍika nghĩa là “vị liên quan đến khúc (khaṇḍa) mía (ucchu).”
[7] Kalambadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) bông hoa kalamba.”
[8] Ambāṭakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây ambāṭaka.”
[9] Harītakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây harītaka.”
[10] Vị ấy đã chết đi sanh lên cõi trời Đẩu Suất (ND).
[11] Ambapiṇḍiya nghĩa là “vị liên quan đến chùm (piṇḍa) trái xoài (amba).”
[12] Jambuphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phala) mận đỏ (jambu).”