***
4462. Vipassino bhagavato
pāṭaliṃ bodhimuttamaṃ,
disvāva taṃ pādapaggaṃ tattha cittaṃ pasādayiṃ.
Đối với đức Thế Tôn Vipassī, cây Pāṭalī là (tên của) cội cây Bồ Đề tối thượng. Sau khi nh́n thấy cội cây cao cả ấy tôi đă khiến tâm được tịnh tín.
4463. Sammajjaniṃ gahetvāna
bodhiṃ sammajji tāvade,
sammajjitvāna taṃ bodhiṃ avandiṃ pāṭaliṃ ahaṃ.
Sau khi cầm lấy cái chổi, tôi đă quét cội Bồ Đề liền khi ấy. Sau khi quét cội Bồ Đề ấy, tôi đă đảnh lễ cây Pāṭalī.
4464. Tattha cittaṃ
pasādetvā sire katvāna añjaliṃ,
namassamāno taṃ bodhiṃ gacchiṃ paṭikūṭī ahaṃ.
Tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đă chắp tay lên ở đầu, trong khi tôn kính cội Bồ Đề ấy tôi đă đi về lại liêu cốc.
4465. Cārimaggena gacchāmi
saranto bodhimuttamaṃ,
ajagaro maṃ pīḷesi ghorarūpo mahābalo.
Trong khi tưởng nhớ đến cội cây Bồ Đề tối thượng, tôi bước đi ở lối đi bộ. Có con trăn có bộ dạng khủng khiếp, có sức mạnh lớn lao đă bức hiếp tôi.
4466. Āsanne me kataṃ
kammaṃ phalena tosayī mamaṃ,
kaḷebaraṃ me gilati devaloke ramāmahaṃ.
Hành động đă được tôi làm trong lúc gần đây đă khiến cho tôi được vui ḷng với kết quả. Con trăn nuốt chửng lấy thân h́nh của tôi, và tôi sướng vui ở thế giới chư Thiên.[1]
4467. Anāvilaṃ mama cittaṃ
visuddhaṃ paṇḍaraṃ sadā,
sokasallaṃ na jānāmi cittasantāpanaṃ mama.
Tâm của tôi không bị chộn rộn, luôn luôn tinh khiết, trong trắng. Tôi (đă) không biết đến mũi tên sầu muộn (và) sự bực bội ở tâm của tôi.
4468. Kuṭṭhaṃ gaṇḍo kilāso
ca apamāro vitacchikā,
daddu kaṇḍu ca me natthi phalaṃ sammajjane idaṃ.
Bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh động kinh, bệnh ghẻ, bệnh lở loét, và bệnh ngứa không có ở tôi; điều này là quả báu của việc quét.
4469. Soko ca paridevo ca
hadaye me na vijjati,
abhantaṃ ujukaṃ cittaṃ phalaṃ sammajjane idaṃ.
Sự sầu muộn và sự than văn ở trong trái tim của tôi là không được biết đến, tâm không bị cong quẹo, được ngay thẳng; điều này là quả báu của việc quét.
4470. Samādhīsu na sajjāmi
visadaṃ hoti mānasaṃ,
yaṃ yaṃ samādhimicchāmi so so sampajjate mama.
Tôi không vị vướng mắc ở các tầng định, tâm ư được tự tín. Tôi muốn bất cứ tầng định nào, chính tầng định ấy tự đạt đến cho tôi.
4471. Rajanīye na rajjāmi
atho dosaniyesu ca,
mohanīye na muyhāmi phalaṃ sammajjane idaṃ.
Tôi không say đắm ở điều quyến rũ và các sự việc xấu xa, tôi không bị mê muội ở điều ngu xuẩn; điều này là quả báu của việc quét.
4472. Ekanavute ito kappe
yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi phalaṃ sammajjane idaṃ.
Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc quét.
4473. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4474. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4475. Paṭisambhidā catasso
vimokkhā pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Sakiṃsammajjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Sakiṃsammajjaka[2] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Sakiṃsammajjakattherassa apadānaṃ paṭhamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Sakiṃsammajjaka là phần thứ nhất.
--ooOoo--
***
4476. Nagare haṃsavatiyā
ahosiṃ tiṇahārako,
tiṇahārena jīvāmi tena posemi dārake.
Tôi đă là người gánh cỏ ở thành phố Haṃsavatī. Tôi sinh sống bằng việc gánh cỏ. Nhờ thế, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.
4477. Padumuttaro nāma jino
sabbadhammāna pāragū,
tamandhakāraṃ nāsetvā uppajji lokanāyako.
Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, đấng Lănh Đạo Thế Gian, sau khi xua đi điều tăm tối ấy đă hiện khởi.
4478. Sake ghare nisīditvā
evaṃ cintesi tāvade,
buddho loke samuppanno deyyadhammo na vijjati.
Sau khi ngồi xuống tại ngôi nhà của chính ḿnh, tôi đă tức thời suy nghĩ như vầy: “Đức Phật đă hiện khởi ở thế gian mà vật xứng đáng để dâng cúng không được t́m thấy.
4479. Idaṃ me sāṭakaṃ ekaṃ
natthi me koci dāyako,
dukkho nirayasamphasso ropayissāmi dakkhiṇaṃ.
Đây là tấm vải choàng duy nhất của ta. Ta không có ǵ để trở thành người thí chủ. Việc tiếp xúc với địa ngục là khổ sở. Ta sẽ ươm trồng vật cúng dường.”
4480. Evāhaṃ cintayitvāna sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ,
ekaṃ dussaṃ gahetvāna buddhaseṭṭhassadāsahaṃ.
Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đă làm cho tâm của ḿnh được tịnh tín. Tôi đă cầm lấy tấm vải độc nhất và đă dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
4481. Ekadussaṃ daditvāna
ukkuṭṭhiṃ sampavattayiṃ,
yadi buddho tvaṃ vīra tārehi maṃ mahāmuni.
Sau khi dâng cúng tấm vải độc nhất, tôi đă bày tỏ sự tán thán rằng: “Bạch đấng Anh Hùng, bậc Đại Hiền Triết, nếu Ngài là vị Phật xin Ngài hăy giúp con vượt qua.”
4482. Padumuttaro lokavidū
āhutīnaṃ paṭiggaho,
mama dānaṃ pakittento akā me anumodanaṃ:
Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, trong khi tán dương vật dâng cúng của tôi, đă nói lời tùy hỷ đến tôi rằng:
4483. “Iminā ekadussena
cetanāpaṇidhīhi ca,
kappasatasahassāni vinipātaṃ na gacchasi.
“Do tấm vải độc nhất này và do các nguyện lực của tác ư, ngươi (sẽ) không đi đến đọa xứ trong một trăm ngàn kiếp.
4484. Chattiṃsakkhattuṃ
devindo devarajjaṃ karissasi,
tettiṃsakkhattuṃ rājā ca cakkavattī bhavissasi.
Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi sáu lần và sẽ là vị Chuyển Luân Vương ba mươi ba lần.
4485. Padesarajjaṃ vipulaṃ
gaṇanāto asaṅkhiyaṃ,
devaloke manusse vā saṃsaranto tuvaṃ bhave.
Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Trong khi luân hồi ngươi sẽ hiện hữu ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người.
4486. Rūpavā guṇasampanno
anavakkantadehavā,
akkhobhaṃ amitaṃ dussaṃ labhissasi yadicchakaṃ.”
Có sắc đẹp, hội đủ đức hạnh, có thân h́nh không bị kém sút, ngươi sẽ đạt được vải vóc không bị suy suyển, không thể ước lượng, theo như ước muốn.”
4487. Idaṃ vatvāna
sambuddho jalajuttamanāyako,
nabhaṃ abbhuggamī dhīro haṃsarājā’va ambare.
Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác, đấng Lănh Đạo Padumuttara, bậc trí tuệ đă bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
4488. Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi
devattaṃ atha mānusaṃ,
bhoge me ūnatā natthi ekadussassidaṃ phalaṃ.
Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của một tấm vải.
4489. Paduddhāre paduddhāre
dussaṃ nibbattate mama,
heṭṭhā dussamhi tiṭṭhāmi uparicchadanaṃ mama.
Vải vóc hiện ra cho tôi theo mỗi lần giở lên của bước chân. Tôi đứng trên tấm vải ở phía bên dưới, có tấm che ở phía trên cho tôi.
4490. Cakkavāḷamupādāya
sakānanaṃ sapabbataṃ,
icchamāno cahaṃ ajja dussehacchādayeyya taṃ.
Liên quan đến bầu vũ trụ có rừng rậm luôn cả núi non, trong khi mong muốn tôi có thể che đậy nó bằng các loại vải vóc trong ngày hôm nay.
4491. Teneva ekadussena
saṃsaranto bhavābhave,
suvaṇṇavaṇṇo hutvāna saṃsarāmi bhavābhave.
Nhờ vào chỉ một tấm vải ấy, trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác tôi có được màu da vàng chói, rồi tôi luân hồi ở cơi này cơi khác.
4492. Vipākaṃ ekadussassa
nājjhagaṃ katthacikkhayaṃ,
ayaṃ me antimā jāti vipaccati idhāpi me.
Quả thành tựu của một tấm vải đă không đi đến sự hư hoại ở bất cứ nơi đâu. Đây là lần sanh sau cùng của tôi, (quả thành tựu ấy) được chín muồi cho tôi ngay cả ở tại nơi này.
4493. Satasahasse ito kappe
yaṃ dussamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi ekadussassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng tấm vải cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của một tấm vải.
4494. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4495. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4496. Paṭisambhidā catasso
vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekadussadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Ekadussadāyaka[3] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ekadussadāyakattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Ekadussadāyaka là phần thứ nh́.
--ooOoo--
***
4497. Himavantassa avidūre
gosito nāma pabbato,
assamo sukato mayhaṃ paṇṇasālā sumāpitā.
Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Gosita, có khu ẩn cư của tôi đă khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đă khéo được tạo lập.
4498. Nārado iti nāmena
kassapo iti maṃ vidū,
suddhimaggaṃ gavesanto vasāmi gosite tadā.
Khi ấy, (tôi) có tên là Nārada. (Người ta) biết đến tôi với tên là Kassapa. Trong lúc tầm cầu đạo lộ thanh tịnh, tôi sống ở (núi) Gosita.
4499. Padumuttaro nāma jino
sabbadhammāna pāragū,
vivekakāmo sambuddho āgacchi anilañjasā.
Bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, vị ưa thích sự ẩn cư, đă đi đến bằng đường không trung.
4500. Vanagge gacchamānassa
disvā raṃsiṃ mahesino,
kaṭṭhamañcaṃ paññapetvā ajinañca apatthariṃ.
Sau khi nh́n thấy hào quang của bậc Đại Ẩn Sĩ đang di chuyển ở trên chóp đỉnh của khu rừng, tôi đă xếp đặt chiếc giường gỗ và đă trải ra tấm da dê.
4501. Āsanaṃ paññapetvāna
sire katvāna añjaliṃ,
somanassaṃ pavedetvā idaṃ vacanamabraviṃ:
Sau khi xếp đặt chỗ ngồi tôi đă chắp tay lên ở đầu. Sau khi bày tỏ sự vui mừng, tôi đă nói lời nói này:
4502. Sallakatto mahāvīra
āturānaṃ tikicchako,
mamaṃ rogaparetassa tikicchaṃ dehi nāyaka.
“Bạch đấng Đại Hùng, Ngài là vị phẫu thuật, là người thầy thuốc của các bệnh nhân. Bạch đấng Lănh Đạo, xin Ngài hăy ban cho con liều thuốc của người bị cơn bệnh hành hạ.
4503. Kallatthikā ye
passanti buddhaseṭṭha tuvaṃ mune,
dhuvatthasiddhiṃ papponti etesaṃ jajjaro bhavo.
Bạch đức Phật tối thượng, bạch đấng Hiền Triết, những người nào có mục đích về sức khỏe nh́n thấy Ngài đạt được sự thành tựu về mục đích trường cửu, sự tái sanh của những người này được lụi tàn.
4504. Na me deyyaṃ tava
atthi pavattaphalabhoji ’haṃ,
idaṃ me āsanaṃ atthi nisīda kaṭṭhamañcake.
Con là người thọ dụng trái cây đă rụng xuống, con không có vật dâng cúng đến Ngài. Con có chỗ ngồi này, thỉnh Ngài ngồi xuống ở chiếc giường gỗ.”
4505. Nisīdi tattha bhagavā asambhīto ’va kesarī,
muhuttaṃ vītināmetvā idaṃ vacanamabravī:
Đức Thế Tôn đă ngồi xuống ở tại nơi ấy tợ như con sư tử không bị hăi sợ. Sau khi chờ đợi trong chốc lát, Ngài đă nói lời nói này:
4506. “Vissattho hohi mā
bhāyī laddho jotiraso tayā,
yaṃ tuyhaṃ patthitaṃ sabbaṃ paripūrissatanāgate.
“Ngươi hăy tự tin, chớ lo sợ. Ngươi đă đạt được viên ngọc như ư. Điều ǵ của ngươi đă được ước nguyện, tất cả sẽ được tṛn đủ trong thời vị lai.
4507. Na moghaṃ taṃ kataṃ
tuyhaṃ puññakkhette anuttare,
sakkā uddharituṃ attā yassa cittaṃ paṇīhitaṃ.
Điều đă được làm ấy của ngươi ở phước điền vô thượng không là vô ích.
Đối với người nào có tâm ước nguyện, bản thân của (người ấy) có thể tiếp độ được.
4508. Imināsanadānena
cetanāpaṇidhīhi ca,
kappasatasahassāni vinipātaṃ na gacchasi.
Do sự dâng cúng chỗ ngồi này và do các nguyện lực của tác ư, ngươi (sẽ) không đi đến đọa xứ trong một trăm ngàn kiếp.
4509. Paññāsakkhattuṃ
devindo devarajjaṃ karissasi,
asītikkhattuṃ rājā ca cakkavattī bhavissasi.
Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần và sẽ là vị Chuyển Luân Vương tám mươi lần.
4510. Padesarajjaṃ vipulaṃ
gaṇanāto asaṅkhiyaṃ,
sabbattha sukhito hutvā saṃsāre saṃsarissasi.”
Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ngươi sẽ được sung sướng ở khắp mọi nơi và sẽ luân chuyển ở ṿng luân hồi.”
4511. Idaṃ vatvāna
sambuddho jalajuttamanāyako,
nabhaṃ abbhuggamī dhīro haṃsarājāva ambare.
Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác, đấng Lănh Đạo Padumuttara, bậc trí tuệ đă bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
4512. Hatthiyānaṃ assayānaṃ
sarathaṃ sandamānikaṃ,
labhāmi sabbamevetaṃ ekāsanassidaṃ phalaṃ.
Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, xe kéo, và cỗ xe, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của một chổ ngồi.
4513. Kānanaṃ pavisitvāpi
yadā icchāmi āsanaṃ,
mama saṅkappamaññāya pallaṅko upatiṭṭhati.
Ngay cả khi đă đi vào rừng, lúc nào tôi mong muốn về chỗ ngồi, chiếc ghế dài biết được ư định của tôi hiện diện ở bên cạnh.
4514. Vārimajjhagato santo
yadā icchāmi āsanaṃ,
mama saṅkappamaññāya pallaṅko upatiṭṭhati.
Trong khi đă đi vào trong nước, lúc nào tôi mong muốn về chỗ ngồi, chiếc ghế dài biết được ư định của tôi hiện diện ở bên cạnh.
4515. Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi
devattaṃ atha mānusaṃ,
pallaṅkasatasahassāni parivārenti maṃ sadā.
Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, luôn luôn có một trăm ngàn chiếc ghế dài vây quanh tôi.
4516. Duve bhave saṃsarāmi
devatte atha mānuse,
duve kule pajāyāmi khattiye atha brāhmaṇe.
Tôi (đă) luân hồi ở hai cảnh giới, trong bản thể Thiên nhân và nhân loại. Tôi (đă) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn.
4517. Ekāsanaṃ daditvāna
puññakkhette anuttare,
dhammapallaṅkamādāya viharāmi anāsavo.
Sau khi dâng cúng một chỗ ngồi ở phước điền vô thượng, sau khi nắm lấy chiếc ghế dài Giáo Pháp, tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4518. Satasahasse ito kappe
yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi ekāsanassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
4519. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4520. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4521. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekāsanadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Ekāsanadāyaka[4] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ekāsanadāyakattherassa apadānaṃ tatiyaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Ekāsanadāyaka là phần thứ ba.
--ooOoo--
***
4522. Himavantassa avidūre
kadambo nāma pabbato,
tasmiṃ pabbatapassamhi satta buddhā vasiṃsu te.
Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Kadamba. Ở sườn ngọn núi ấy, có bảy vị Phật ấy đă cư ngụ.
4523. Kadambaṃ pupphitaṃ
disvā paggahetvāna añjaliṃ,
satta mālā gahetvāna puññacittena okiriṃ.
Sau khi nh́n thấy cây kadamba đă được trổ hoa, tôi đă chắp tay lên. Tôi đă hái bảy bông hoa và đă tung lên với tâm (nghĩ) về phước báu.
4524. Tena kammena sukatena
cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
4525. Catunavute ito kappe
yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4526. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4527. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4528. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Sattakadambapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti. Đại đức trưởng lăo Sattakadambapupphiya[5] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Sattakadambapupphiyattherassa apadānaṃ catutthaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Sattakadambapupphiya là phần thứ tư.
--ooOoo--
***
4529. Vanakammiko pure āsiṃ
pitumātumatenahaṃ,
pasumārena jīvāmi kusalaṃ me na vijjati.
Trước đây, tôi đă là người thợ rừng với sự quan tâm đến cha và mẹ. Tôi sinh sống nhờ vào việc giết thú rừng, điều tốt lành cho tôi là không có.
4530. Mama āsayasāmantā
tisso lokagganāyako,
padāni tīṇi dassesi anukampāya cakkhumā.
Do ḷng thương tưởng, đấng Lănh Đạo Thế Gian Tissa, bậc Hữu Nhăn, đă lưu lại ba (dấu) bàn chân ở xung quanh chỗ cư ngụ của tôi.
4531. Akkante ca pade disvā
tissanāmassa satthuno,
haṭṭho haṭṭhena cittena pade cittaṃ pasādayiṃ.
Và sau khi nh́n thấy ba (dấu) bàn chân đă đi qua của bậc Đạo Sư tên Tissa, tôi đă trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đă làm cho tâm được tịnh tín ở (dấu) bàn chân.
4532. Koraṇḍaṃ pupphitaṃ
disvā pādapaṃ dharaṇīruhaṃ,
sakoṭakaṃ gahetvāna padaseṭṭhe apūjayiṃ.
Sau khi nh́n thấy cây koraṇḍa mọc ở trên đất đă được trổ hoa, tôi đă hái một số (bông hoa) và đă cúng dường ở (dấu) bàn chân tối thượng.
4533. Tena kammena sukatena
cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
4534. Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi
devattaṃ atha mānusaṃ,
koraṇḍavaṇṇako yeva sappabhāso bhavāmahaṃ.
Nơi chốn nào tôi đi tái sanh là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi là người có màu da của bông hoa koraṇḍa và có cả vẻ sáng ngời nữa.
4535. Dvenavute ito kappe
yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi padapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy cho đến chín mươi hai kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường ở bàn chân.
4536. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4537. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4538. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Koraṇḍapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Koraṇḍapupphiya[6] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Koraṇḍapupphiyattherassa apadānaṃ pañcamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Koraṇḍapupphiya là phần thứ năm.
--ooOoo--
***
4539. Sucintitaṃ
bhagavantaṃ lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ,
upaviṭṭhaṃ mahāraññaṃ vātābādhena pīḷitaṃ,
disvā cittaṃ pasādetvā ghatamaṇḍaṃ upānayiṃ.
Đă suy nghĩ tận tường, đức Thế Tôn, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đă đi vào khu rừng lớn và đă bị hành hạ bởi bệnh gió. Sau khi nh́n thấy, tôi đă làm cho tâm được tịnh tín và đă đem lại bơ lỏng nguyên chất.
4540. Katattā ācitattā ca
gaṅgā bhāgīrathī ayaṃ,
mahāsamuddā cattāro ghataṃ sampajjare mama.
Do bản thân đă được thực hành, do bản thân đă được tích lũy (thiện nghiệp), ḍng sông Bhāgīrathī này và bốn đại dương tự cung cấp bơ lỏng cho tôi.
4541. Ayaṃ ca paṭhavī ghorā
appamāṇā asaṅkhiyā,
mama saṅkappamaññāya bhavate madhusakkharā.
Và trái đất kinh khủng, không thể đo lường, không thể ước lượng này, hiểu biết được ư định của tôi nó trở thành tinh thể mật ngọt (cho tôi).
4542. Catudīpā ime rukkhā
pādapā dharaṇīruhā,
mama saṅkappamaññāya kapparukkhā bhavanti te.
Từ bốn châu lục, các giống cây này là loài thảo mộc mọc ở trên đất liền, hiểu biết được ư định của tôi chúng trở thành những cây như ư (cho tôi).
4543. Paññāsakkhattuṃ
devindo devarajjamakārayiṃ,
ekapaññāsakkhattuñca cakkavattī ahosahaṃ,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṃkhiyaṃ.
Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần. và đă là vị Chuyển Luân Vương năm mươi mốt lần. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
4544. Catunavute ito kappe
yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi ghatamaṇḍassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của phần bơ lỏng nguyên chất.
4545. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4546. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4547. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ghatamaṇḍadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Ghatamaṇḍadāyaka[7] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ghatamaṇḍadāyakattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Ghatamaṇḍadāyaka là phần thứ sáu.
--ooOoo--
***
4548. Padumuttaro nāma jino
sabbadhammānapāragū,
catusaccaṃ pakāsento santāresi bahuṃ janaṃ.
Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp, trong khi công bố về bốn Sự Thật đă giúp cho nhiều người vượt qua.
4549. Ahaṃ tena samayena
jaṭilo uggatāpano,
dhunanto vākacīrāni gacchāmi ambare tadā.
Vào lúc bấy giờ, tôi là vị đạo sĩ tóc bện có sự khổ hạnh cao tột luôn luôn di chuyển ở hư không (vừa đi) vừa phất phơ các y phục bằng vỏ cây.
4550. Buddhaseṭṭhassa upari
gantuṃ na visahāmahaṃ,
pakkhīva selamāsajja gamanaṃ na labhāmahaṃ.
Tôi không có thể di chuyển ở phía trên của đức Phật tối thượng. Như là con chim va bị vào tảng đá, tôi không đạt được sự di chuyển.
4551. Udake ’vokkamitvāna
evaṃ gacchāmi ambare,
na me idaṃ bhūtapubbaṃ iriyāpathavikopanaṃ.
Tôi đă đi vào trong nước như thế nào, tôi đi ở hư không như vậy. Sự hư hoại về các oai nghi này chưa từng xảy ra cho tôi trước đây.
4552. Handametaṃ gavesissaṃ
appev’ atthaṃ labheyyahaṃ,
orohanto antalikkhā saddamassosi satthuno.
(Nghĩ rằng): “Nào! Ta sẽ t́m hiểu việc này. Ít ra ta có thể đạt được lư do.” Trong khi từ không trung đáp xuống, tôi đă nghe tiếng nói của bậc Đạo Sư.
4553. Sarena rajanīyena
savaṇīyena vaggunā,
aniccataṃ kathentassa taññeva uggahiṃ tadā.
Khi ấy, Ngài đang thuyết giảng về tính chất vô thường với âm điệu khích lệ, cuốn hút, dễ nghe, tôi đă học hiểu chỉ có pháp ấy của Ngài.
4554. Aniccasaññaṃ uggayha
agamāsiṃ mamassamaṃ,
yāvatāyuṃ vasitvāna tattha kālakato ahaṃ.
Sau khi học hiểu pháp suy tưởng về vô thường, tôi đă đi về khu ẩn cư của ḿnh. Sau khi cư ngụ ở tại nơi ấy đến hết tuổi thọ, tôi đă qua đời.
4555. Carime vattamānamhi
saddhammamasavaṇaṃ sariṃ,
tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Khi đang ở vào thời điểm cuối cùng, tôi đă nhớ lại sự lắng nghe về Chánh Pháp. Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
4556. Tiṃsakappasahassāni
devaloke ramiṃ ahaṃ,
ekapaññāsakkhattuñca devarajjamakārayiṃ.
Tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp. Tôi đă cai quản Thiên quốc năm mươi mốt lần.
4557. Ekavīsatikkhattuñca
cakkavattī ahosahaṃ,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṃkhiyaṃ.
Và tôi đă là vị Chuyển Luân Vương hai mươi mốt lần. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
4558. Anubhosiṃ sakaṃ
puññaṃ sukhitohaṃ bhavābhave,
anussarāmi taṃ saññaṃ saṃsaranto bhavābhave,
na koṭiṃ paṭivijjhāmi nibbānaṃ accutaṃ padaṃ.
Tôi đă thọ hưởng phước báu của chính ḿnh, tôi đă được sung sướng ở cơi này cơi khác. Trong khi luân chuyển ở cơi này cơi khác, tôi nhớ lại về pháp suy tưởng ấy, tôi không thấu triệt điểm mấu chốt là đạo lộ Bất Tử, Niết Bàn.
4559. Pitugehe nisīditvā
samaṇo bhāvitindriyo,
kathayaṃ paridīpento aniccatamudāhari.
Sau khi ngồi xuống ở ngôi nhà của cha, vị sa-môn có (các) giác quan đă được tu tập, trong lúc đang thuyết giảng trong lúc đang giải thích, đă tụng đọc (bài kệ) về tính chất vô thường:
4560. Aniccā vata saṃkhārā
uppādavayadhammino,
uppajjitvā nirujjhanti tesaṃ vūpasamo sukho.
“Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có tính chất sanh lên rồi diệt mất. Sau khi đă được sanh lên, chúng bị tiêu diệt. Sự tịnh lặng của các pháp ấy là an lạc.”[8]
4561. Saha gāthaṃ suṇitvāna
pubbasaññamanussariṃ,
ekāsane nisīditvā arahattamapāpuṇiṃ.
Sau khi lắng nghe câu kệ, tôi đă nhớ lại sự suy tưởng trước đây. Sau khi ngồi xuống ở một chỗ ngồi, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.
4562. Jātiyā sattavassena
arahattamapāpuṇiṃ,
upasampādayī buddho dhammasavaṇassidaṃ phalaṃ.
Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán. Đức Phật đă cho (tôi) tu lên bậc trên; điều này là quả báu của việc lắng nghe Giáo Pháp.
4563. Satasahasse ito kappe
yaṃ dhammamasuṇiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi dhammasavaṇassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă lắng nghe Giáo Pháp cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc nghe Giáo Pháp.
4564. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4565. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4566. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekadhammasavaṇiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti. Đại đức trưởng lăo Ekadhammasavaṇiya[9] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ekadhammasavaṇiyattherassa apadānaṃ sattamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Ekadhammasavaṇiya là phần thứ bảy.
--ooOoo--
***
4567. Nagare haṃsavatiyā
ahosiṃ kassako tadā,
kasikammena jīvāmi tena posemi dārake.
Tôi đă là người nông dân ở thành phố Haṃsavatī. Tôi sinh sống bằng công việc trồng trọt. Nhờ thế, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.
4568. Susampannaṃ tadā
khettaṃ dhaññaṃ me phalitaṃ ahu,
pākakāle ca sampatte evaṃ cintesahaṃ tadā.
Khi ấy, thửa ruộng đă được thành tựu tốt đẹp, lúa của tôi đă được kết hạt. Và khi thời điểm gặt hái đă đến, vào lúc ấy tôi đă suy nghĩ như vầy:
4569. Nacchannaṃ
nappatirūpaṃ jānantassa guṇāguṇaṃ,
yo ’haṃ saṅghe adatvāna aggaṃ bhuñjeyya ce tadā.
“Thật không đúng đắn, không tốt đẹp cho ta là người biết về lành dữ nếu khi ấy ta chưa dâng cúng đến Hội Chúng lại có thể thọ dụng phẩm vật đầu mùa.
4570. Ayaṃ buddho asamasamo
dvattiṃsavaralakkhaṇo,
tato pabhāvito saṅgho puññakkhetto anuttaro.
Vị này là đức Phật có ba mươi hai hảo tướng, tương đương với bậc không thể sánh bằng. Nhờ Ngài, Hội Chúng là phước điền vô thượng đă được thành lập.
4571. Tattha dassāmahaṃ
dānaṃ navasassaṃ pure pure,
evāhaṃ cintayitvāna haṭṭho pīṇitamānaso.
Ta sẽ dâng cúng vật thí là lúa mới đến các ngài trước tiên hết.” Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đă trở nên mừng rỡ, tâm tư được khoan khoái.
4572. Khettato
dhaññamāhatvā sambuddhamupasaṅkamiṃ,
upasaṅkamma sambuddhaṃ lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ,
vanditvā satthuno pāde imaṃ vacanamabraviṃ.
Tôi đă mang theo lúa từ thửa ruộng và đă đi đến bậc Toàn Giác. Sau khi đi đến bậc Toàn Giác, đấng Nhân Ngưu, bậc Trưởng Thượng của thế gian, tôi đă đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư rồi đă nói lời nói này:
4573. Navasassaṃ ca
sampannaṃ āyāgo pi ca tvaṃ mune,
anukampamupādāya adhivāsehi cakkhuma.
“Bạch đấng Hiền Triết, lúa mới đă được thành tựu và Ngài cũng là người thọ lănh. Bạch bậc Hữu Nhăn, v́ ḷng thương tưởng xin Ngài chấp nhận.”
4574. Padumuttaro lokavidū
āhutīnaṃ paṭiggaho,
mama saṅkappamaññāya imaṃ vacanamabravi.
Sau khi biết được ư định của tôi, bậc Hiểu Biết Thế Gian Tissa, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă nói lên những lời kệ này:
4575. “Cattāro ca paṭipannā
cattāro ca phale ṭhitā,
esa saṅgho ujubhūto paññāsīlasamāhito.
“Có bốn hạng được thực hành (bốn Đạo) và có bốn Quả được tồn tại. Hội Chúng này là chính trực, được định tĩnh với tuệ và giới.
4576. Yajantānaṃ manussānaṃ
puññapekkhānapāṇinaṃ,
karotopadhikaṃ puññaṃ saṅghe dinnaṃ mahapphalaṃ.
Phước báu có mầm mống tái sanh (hữu lậu) của những người đang hiến cúng, của những chúng sanh có ḷng mong mỏi phước báu đang thực hiện, đă được dâng cúng đến Hội Chúng là có quả báu lớn.
4577. Tasmiṃ saṅghe
padātabbaṃ navasassaṃ tathetaraṃ,
saṅghato uddisitvāna bhikkhū netvāna saṃgharaṃ,
paṭiyattaṃ ghare yantaṃ bhikkhusaṅghassa dehi tvaṃ.”
Lúa mới nên được dâng cúng đến Hội Chúng ấy, vật khác cũng vậy. Sau khi xác định là Hội Chúng, ngươi hăy đưa các vị tỳ khưu đến tư gia, và hăy dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu vật đă được chuẩn bị tại nhà.”
4578. Saṅghato uddisitvāna
bhikkhū netvānahaṃ gharaṃ,
yaṃ ghare paṭiyattaṃ me bhikkhusaṅghassadāsahaṃ.
Sau khi xác định là Hội Chúng, tôi đă đưa các vị tỳ khưu đến nhà, và đă dâng cúng đến Hội Chúng tỳ khưu vật đă được tôi chuẩn bị tại nhà.
4579. Tena kammena sukatena
cetanā paṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
4580. Tattha me sukataṃ
vyamhaṃ sovaṇṇaṃ sappabhassaraṃ,
saṭṭhiyojanamubbedhaṃ tiṃsayojanavitthataṃ.
Tại nơi ấy, cung điện bằng vàng vô cùng rực rỡ đă được kiến tạo khéo léo dành cho tôi có chiều cao là sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
(Ekūnavīsatimaṃ bhāṇavāraṃ).
(Tụng phẩm thứ mười chín).
4581. Ākiṇṇaṃ bhavanaṃ
mayhaṃ nārīgaṇasamākulaṃ,
tattha bhutvā pivitvā ca vasāmi tidase ahaṃ.
Chỗ cư ngụ của tôi được phân bố chằng chịt, đông đảo các nhóm nữ nhân. Tại nơi ấy, tôi ăn, tôi uống, và tôi sống ở cơi Tam Thập.
4582. Satānaṃ tīṇikkhattuṃ
ca devarajjamakārayiṃ,
satānaṃ pañcakkhattuṃ ca cakkavattī ahosahaṃ,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
Và tôi đă cai quản Thiên quốc ba trăm lần và đă trở thành vị Chuyển Luân Vương năm trăm lần. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
4583. Bhavābhave saṃsaranto
labhāmi amitaṃ dhanaṃ,
bhoge me ūnatā natthi navasassassidaṃ phalaṃ.
Trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi đạt được tài sản không ước lượng được, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của lúa mới.
4584. Hatthiyānaṃ assayānaṃ
sivikaṃ sandamānikaṃ,
labhāmi sabbamevetaṃ navasassassidaṃ phalaṃ.
Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, kiệu khiêng, và cỗ xe kéo, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
4585. Navavatthaṃ
navaphalaṃ navaggarasabhojanaṃ,
labhāmi sabbamevetaṃ navasassassidaṃ phalaṃ.
Về vải vóc mới, trái cây tươi, thức ăn mới lạ có phẩm vị cao sang, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
4586. Koseyyakambaliyāni
khomakappāsikāni ca,
labhāmi sabbamevetaṃ navasassassidaṃ phalaṃ.
Về tơ lụa, tấm choàng len, vải sợi lanh, và y phục bằng bông vải, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
4587. Dāsīgaṇaṃ dāsagaṇaṃ
nāriyo ca alaṅkatā,
labhāmi sabbamevetaṃ navasassassidaṃ phalaṃ.
Về đám tôi trai, bầy tớ gái, và các nữ nhân đă được trang điểm, tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
4588. Na maṃ sītaṃ vā uṇhaṃ
vā pariḷāho na vijjati,
atho cetasikaṃ dukkhaṃ hadaye me na vijjati.
Sự lạnh, sự nóng nực hoặc sự oai bức không được tôi biết đến. Sự khổ sở thuộc về tâm ở trái tim không được tôi biết đến.
4589. Imaṃ khāda imaṃ
bhuñja imamhi sayane saya,
labhāmi sabbamevetaṃ navasassassidaṃ phalaṃ.
(Tự nhủ rằng): “Ngươi hăy nhai món này, hăy ăn món này, hăy nằm ở chiếc giường này,” tôi đạt được tất cả mọi thứ này; điều này là quả báu của lúa mới.
4590. Ayaṃ pacchimakodāni
carimo vattate bhavo,
ajjāpi deyyadhammo me phalaṃ toseti sabbadā.
Giờ đây, lần sau cùng này là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Quả báu của vật dâng cúng khiến tôi luôn luôn được hoan hỷ đến tận hôm nay
4591. Navasassaṃ daditvāna
saṅghe gaṇavaruttame,
aṭṭhānisaṃse anubhomi kammānucchavike mama.
Sau khi đă dâng cúng lúa mới đến Hội Chúng là tập thể cao quư tối thượng, tôi thọ hưởng tám điều lợi ích thích đáng với việc làm của tôi:
4592. Vaṇṇavā yasavā homi
mahābhogo anītiko,
mahesakkho sadā homi abhejjapariso sadā.
Tôi có sắc đẹp, có danh vọng, có của cải to lớn, là người không bị tai họa, tôi luôn luôn có quyền lực lớn lao, luôn luôn có hội chúng không bị chia rẽ.
4593. Sabbe maṃ apacāyanti
ye keci paṭhavissitā,
deyyadhammā ca ye keci pure pure labhāmahaṃ.
Bất cứ những ai cư ngụ ở trên trái đất, tất cả đều tôn trọng tôi. Và bất cứ những ǵ là vật nên được dâng cúng tôi đều đạt được trước tiên hết.
4594. Bhikkhusaṅghassa vā
majjhe buddhaseṭṭhassa sammukhā,
sabbepi samatikkamma denti mayheva dāyakā.
Ở giữa hội chúng tỳ khưu hoặc trước mặt đức Phật tối thượng, các thí chủ đă đi qua tất cả các vị và dâng cúng đến chính tôi.
4595. Paṭhamaṃ navasassaṃ
hi datvā saṅghe gaṇuttame,
imānisaṃse anubhomi navasassassidaṃ phalaṃ.
Tôi thọ hưởng các điều lợi ích này bởi v́ tôi đă dâng cúng lúa mới đến Hội Chúng là tập thể tối thượng trước tiên hết; điều này là quả báu của lúa mới.
4596. Satasahasse ito kappe
yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi navasassassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của lúa mới.
4597. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4598. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4599. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Sucintito thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Sucintita[10] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Sucintitattherassa apadānaṃ aṭṭhamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Sucintita là phần thứ tám.
--ooOoo--
***
4600. Saddhāya
abhinikkhamma pabbajiṃ anagāriyaṃ,
vākacīradharo āsiṃ tapokammamapassito.
V́ niềm tin, tôi đă ra đi và đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Thiên về nghiệp khổ hạnh, tôi đă là vị mang y phục bằng vỏ cây.
4601. Atthadassī tu bhagavā
lokajeṭṭho narāsabho,
upapajji tamhi samaye tārayanto mahājanaṃ.
Hơn nữa đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu vào lúc bấy giờ đă hiện khởi, đang giúp cho nhiều người vượt qua.
4602. Balañca vata me
khīṇaṃ vyādhinā paramena tu,
buddhaseṭṭhaṃ saritvāna puline thūpamuttamaṃ.
4603. Karitvā
haṭṭhacittohaṃ sahatthena samokiriṃ,
soṇṇakiṅkaṇipupphāni udaggamanaso ahaṃ.
Và sức lực của tôi quả nhiên đă bị cạn kiệt bởi cơn bệnh trầm trọng. Tôi đă tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đă thực hiện ngôi bảo tháp tối thượng ở trên băi cát. Với tâm mừng rỡ, với ư phấn chấn, tôi đă dùng tay rải rắc các bông hoa kiṅkaṇī bằng vàng.
4604. Sammukhā viya
sambuddhaṃ thūpaṃ paricariṃ ahaṃ,
tena cetopasādena atthadassissa tādino.
Với tâm tịnh tín ấy đối với vị Atthadassī như thế ấy, tôi đă đi ṿng quanh ngôi bảo tháp như là có đức Phật hiện diện.
4605. Devalokaṃ gato santo
labhāmi vipulaṃ sukhaṃ,
suvaṇṇavaṇṇo tatthāsiṃ buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Trong khi đi đến thế giới của chư Thiên, tôi đạt được sự an lạc bao la. Tại nơi ấy, tôi đă có màu da vàng chói; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4606. Asītikoṭiyo mayhaṃ
nāriyo samalaṅkatā,
sadā mayhaṃ upaṭṭhanti buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Tôi có tám trăm triệu người nữ đă được trang điểm thường xuyên phục vụ cho tôi; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4607. Saṭṭhituriyasahassāni
bheriyo paṇavāni ca,
saṅkhā ca deṇḍimā tattha vagguṃ nadanti dundubhi.
Có sáu mươi ngàn nhạc cụ gồm các trống lớn và các trống nhỏ, các tù và vỏ ốc và các trống con. Các chiếc trống đă vang lên một cách vui nhộn ở tại nơi ấy.
4608. Cullāsītisahassāni
hatthino samalaṅkatā,
tidhāpabhinnamātaṅgā kuñjarā saṭṭhihāyanā.
Có tám mươi bốn ngàn con voi đă được trang điểm, được phân làm ba loại: voi lớn, voi trẻ, voi sáu mươi tuổi.
4609. Hemajālāhi sañchannā
upaṭṭhānaṃ karonti me,
balakāye gaje ceva ūnatā me na vijjati.
Được che phủ với những tấm lưới vàng, các con voi thể hiện sự phục vụ đến tôi. Sự thiếu hụt của tôi về binh lực luôn cả về voi là không được biết đến.
4610. Soṇṇakiṅkaṇipupphānaṃ
vipākaṃ anubhomahaṃ,
aṭṭhapaññāsakkhattuñca devarajjamakārayiṃ.
Tôi đă thọ hưởng quả thành tựu của những bông hoa kiṅkaṇī bằng vàng. Tôi đă cai quản Thiên quốc năm mươi tám lần.
4611. Ekasattatikkhattuñca
cakkavattī ahosahaṃ,
pathavyā rajjaṃ ekasataṃ mahiyā kārayiṃ ahaṃ.
Và tôi đă là vị Chuyển Luân Vương bảy mươi mốt lần. Tôi đă cai quản vương quốc ở mặt đất trên quả địa cầu một trăm lẻ một lần
4612. Sodāni patto amataṃ
asaṅkhataṃ sududdasaṃ,
saṃyojanaparikkhīṇo natthidāni punabbhavo.
Giờ đây, đă đạt đến Bất Tử là không c̣n tạo tác, khó nh́n thấy vô cùng, tôi đây đă được cạn kiệt các sự trói buộc, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.
4613. Aṭṭhārase kappasate
yaṃ pupphamabhiropayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng lên bông hoa cho đến một ngàn tám trăm kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của sự cúng dường đức Phật.
4614. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4615. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4616. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Sovaṇṇakiṅkaṇiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Sovaṇṇakiṅkaṇiya[11] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Sovaṇṇakiṅkaṇiyattherassa apadānaṃ navamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Sovaṇṇakiṅkaṇiya là phần thứ chín.
--ooOoo--
***
4617. Manobhāvanīyaṃ
buddhaṃ attadantaṃ samāhitaṃ,
irīyamānaṃ brahmapathe cittavūpasame rataṃ.
Đức Phật là vị đă tu tập về tâm, đă chế ngự bản thân, được định tĩnh, đang cư xử theo đường lối Phạm hạnh, thích thú trong sự tịnh lặng của tâm.
4618. Nittiṇṇa-oghaṃ
sambuddhaṃ jhāyiṃ jhānarataṃ muniṃ,
upaviṭṭhaṃ samāpannaṃ indīvaradalappabhaṃ.
Tôi đă suy tưởng về bậc Toàn Giác đă vượt qua ḍng nước lũ, về bậc Hiền Triết được thỏa thích về thiền, đă tiến vào sự thể nhập (định), có ánh sáng của cánh hoa súng.
4619. Alābunodakaṃ gayha
buddhaseṭṭhamupāgamiṃ,
buddhassa pāde dhovitvā alābudakamadāsahaṃ.
Sau khi lấy nước bằng cái bầu (đựng nước), tôi đă đi đến đức Phật tối thượng. Sau khi rửa các bàn chân của đức Phật, tôi đă dâng cúng cái bầu nước.
4620. Āṇāpesi ca sambuddho
padumuttaranāyako,
iminā ’dakamāhatvā pādamūle ṭhapehi me.
Và bậc Toàn Giác, đấng Lănh Đạo Padumuttara đă truyền lệnh rằng: “Bằng cái bầu này, ngươi hăy đem nước lại và hăy đặt ở cạnh bàn chân của Ta.”
4621. Sādhūti ’haṃ
paṭissutvā satthugāravatāya ca,
dakaṃ alābun’ āhitvā buddhaseṭṭhamupānayiṃ.
Tôi đă đáp lại rằng: “Lành thay!” Và với ḷng tôn kính bậc Đạo Sư, tôi đă mang lại nước bằng cái bầu và đă đưa đến gần đức Phật tối thượng.
4622. Anumodi mahāvīro
cittaṃ nibbāpayaṃ mama,
iminā lābudānena saṅkappo te samijjhatu.
Trong khi làm cho tâm của tôi được mát mẽ, đấng Đại Hùng đă nói lời tùy hỷ rằng: “Do sự dâng cúng cái bầu này, mong rằng ư định của người được thành tựu.”
4623. Paṇṇarasesu kappesu
devaloke ramiṃ ahaṃ,
tiṃsatikkhattuṃ rājā ca cakkavattī ahosahaṃ.
Tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên trong mười lăm kiếp. Và tôi đă trở thành vị Chuyển Luân Vương ba mươi lần.
4624. Divā vā yadi vā
rattiṃ caṅkamantassa tiṭṭhato,
sovaṇṇakontaraṃ gayha tiṭṭhate purato mama.
Vào ban ngày hoặc ban đêm nếu tôi đang đi kinh hành hoặc đang đứng, có người cầm cây gậy vàng đứng ở phía trước tôi.
4625. Buddhassa lābuṃ
datvāna labhāmi soṇṇakontaraṃ,
appakampi kataṃ kāraṃ vipulaṃ hoti tādisu.
Sau khi dâng cúng cái bầu nước đến đức Phật, tôi đạt được cây gậy vàng. Hành động đă được thực hiện dầu là nhỏ nhoi trở thành to lớn như thế ấy.
4626. Satasahasse ito kappe
yaṃ lābumadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi alābussa idaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng cái bầu nước cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của cái bầu nước.
4627. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4628. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4629. Paṭisambhidā catasso
ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Soṇṇakontariko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Soṇṇakontarika[12] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Soṇṇakontarikattherassa apadānaṃ dasamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Soṇṇakontarika là phần thứ mười.
--ooOoo--
Sakiṃsammajjako thero
ekadussī ekāsanī,
kadambakoraṇḍakadā ghataṃ savaṇiko pi ca.
Sucintito kiṅkaṇiko
soṇṇakontariko pi ca,
ekaṃ gāthāsatañceva ekasattatimeva ca.
Vị trưởng lăo quét một lần, vị có tấm vải độc nhất, vị có một chỗ ngồi, vị dâng (bông hoa) kadamba, vị dâng (bông hoa) koraṇḍa, vị (dâng) bơ lỏng, vị lắng nghe (Giáo Pháp), vị đă khéo suy nghĩ, vị liên quan đến (bông hoa) kiṅkaṇī, và vị có cây gậy vàng. Có một trăm câu kệ ngôn và thêm vào bảy mươi mốt câu nữa.
Sakiṃsammajjakavaggo tecattāḷisamo.
Phẩm Sakiṃsammajjaka là phẩm thứ bốn mươi ba.
--ooOoo--
[1] Vị này đă bị con trăn giết chết và đă được sanh lên cơi trời liền tức th́.
[2] Sakiṃsammajjaka nghĩa là “vị một lần (sakiṃ) quét tước (sammajjaka).”
[3] Ekadussadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) một (eka) tấm vải (dussa).”
[4] Ekāsanadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) một (eka) chỗ ngồi (āsana).”
[5] Sattakadambapupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bảy (satta) bông hoa (puppha) kadamba.”
[6] Koraṇḍapupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (puppha) koraṇḍa.”
[7] Ghatamaṇḍadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) bơ lỏng (ghata) nguyên chất (maṇḍa).”
[8] Câu kệ này được thấy ở nhiều nơi thuộc Tạng Kinh.
[9] Ekadhammasavaṇiya nghĩa là “vị liên quan đến việc một lần (eka) lắng nghe (savaṇa) Giáo Pháp (dhamma).”
[10] Sucintita nghĩa là “vị đă suy nghĩ (cintita) khéo léo (su).”
[11] Sovaṇṇakiṅkaṇiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa kiṅkaṇī bằng vàng (sovaṇṇa).”
[12] Soṇṇakontarika nghĩa là “vị có liên quan đến cây gậy (konta) bằng vàng (soṇṇa).”