Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
***
4268. Sumedho nāma
sambuddho aggo kāruṇiko muni,
vivekakāmo lokaggo himavantamupāgami.
Bậc Toàn Giác tên Sumedha, đấng Bi Mẫn cao cả, vị Hiền Triết, bậc Cao Cả của thế gian có ước muốn ẩn dật nên đă đi đến núi Hi-mă-lạp.
4269. Ajjhogahetvā himavaṃ
sumedho lokanāyako,
pallaṅkamābhujitvāna nisīdi purisuttamo.
Sau khi đi sâu vào núi Hi-mă-lạp, đấng Lănh Đạo Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân Sumedha đă xếp chân kiết già rồi ngồi xuống.
4270. Samādhiṃ so samāpanno
sumedho lokanāyako,
sattarattindivaṃ buddho nisīdi purisuttamo.
Đấng Lănh Đạo Thế Gian Sumedha ấy đă thể nhập vào định. Đức Phật bậc Tối Thượng Nhân đă ngồi bảy ngày đêm.
4271. Khārikājaṃ gahetvāna
vanamajjhogahiṃ ahaṃ,
tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ oghatiṇṇamanāsavaṃ.
Tôi đă cầm lấy giỏ vật dụng rồi đă đi sâu vào khu rừng. Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy đấng Toàn Giác, bậc đă vượt qua ḍng nước lũ, không c̣n lậu hoặc.
4272. Sammajjaniṃ gahetvāna
sammajjitvāna assamaṃ,
catudaṇḍe thambhītvāna akāsiṃ maṇḍapaṃ tadā.
Khi ấy, tôi đă cầm lấy cây chổi và đă quét khu ẩn cư. Sau khi dựng lên bốn cây cọc, tôi đă tạo nên cái mái che.
4273. Sālapupphaṃ āharitvā
maṇḍapaṃ jādayiṃ ahaṃ,
pasannacitto sumano abhivandiṃ tathāgataṃ.
Sau khi mang lại bông hoa sālā, tôi đă che phủ mái che. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă đảnh lễ đức Như Lai.
4274. Yaṃ vadanti sumedhoti
bhūripaññaṃ sumedhasaṃ,
bhikkhusaṅghe nisīditvā imā gāthā abhāsatha.
Người ta nói về bậc thông thái có trí tuệ bao la là “Sumedha.” Ngài đă ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đă nói lên những lời kệ này.
4275. Buddhassa giramaññāya
sabbe devā samāgamuṃ,
asaṃsayaṃ buddhaseṭṭho dhammaṃ deseti cakkhumā.
Nhận biết lời nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đă tụ hội lại. Quả nhiên, đức Phật tối thượng bậc Hữu Nhăn thuyết giảng Giáo Pháp.
4276. Sumedho nāma
sambuddho āhutīnaṃ paṭiggaho,
devasaṅghe nisīditvā imā gāthā abhāsatha.
Đấng Toàn Giác tên Sumedha, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă ngồi xuống ở hội chúng chư Thiên và đă nói lên những lời kệ này:
4277. “Yo me sattāhaṃ
maṇḍapaṃ dhārayī sālachāditaṃ,
tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.
“Người nào đă duy tŕ mái che được che phủ bằng bông hoa sālā cho Ta suốt bảy ngày, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.
4278. Devabhūto manusso vā
hemavaṇṇo bhavissati,
pahūtabhogo hutvāna kāmabhogī bhavissati.
Trở thành Thiên nhân hoặc nhân loại, (người này) sẽ có làn da màu vàng chói, sẽ có của cải dồi dào, sẽ có sự thọ hưởng các dục lạc.
4279. Saṭṭhināgasahassāni
sabbālaṅkārabhūsitā,
suvaṇṇakacchā mātaṅgā hemakappanavāsasā.
Sáu mươi ngàn con voi loài long tượng được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, có chuông vàng, có trang phục yên cương bằng vàng.
4280. Ārūḷhā gāmaṇīyehi
tomaraṅkusapāṇihi,
sāyaṃpāto upaṭṭhānaṃ āgamissant’ imaṃ naraṃ,
tehi nāgehi parivuto ramissati ayaṃ naro.
Được cỡi lên bởi các vị trưởng làng có các bàn tay cầm giáo và móc câu, chúng sẽ đi đến phục vụ người nam này sáng chiều. Được hộ tống bởi những con long tượng ấy, người nam này sẽ vui sướng.
4281. Saṭṭhi-assasahassāni
sabbālaṅkārabhūsitā,
ājānīyā va jātiyā sindhavā sīghavāhino.
Sáu mươi ngàn con ngựa ḍng Sindhu với sự sanh ra được thuần chủng, là phương tiện vận chuyển nhanh chóng, được trang hoàng với tất cả các loại trang sức.
4282. Ārūḷhā gāmaṇīyehi
illiyācāpadhārihi,
parivāressanti maṃ niccaṃ buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Được cỡi lên bởi các vị trưởng làng có mang cung với gươm, chúng sẽ thường xuyên hộ tống tôi; điều này là quả báu của sự cúng dường đức Phật.
4283. Saṭṭhirathasahassāni
sabbālaṅkārabhūsitā,
dīpā athopi veyyagghā sannaddhā ussitaddhajā.
Sáu mươi ngàn cỗ xe được trang hoàng với tất cả các loại trang sức, có các mảnh da báo và cả da hổ được bày biện, có các ngọn cờ được giương cao.
4284. Ārūḷhā gāmaṇīyehi
cāpahatthehi vammihi,
parivāressanti maṃ niccaṃ buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Được cỡi lên bởi các vị trưởng làng có các tay cầm cung mang áo giáp, chúng sẽ thường xuyên hộ tống tôi; điều này là quả báu của sự cúng dường đức Phật.
4285. Saṭṭhigāmasahassāni
paripuṇṇāni sabbaso,
pahūtadhanadhaññāni susamiddhāni sabbaso,
sadā pātubhavissanti buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Sẽ luôn luôn hiện hữu sáu mươi ngàn ngôi làng có đầy đủ tất cả, có tài sản và lúa gạo dồi dào, được thành công tốt đẹp về mọi mặt; điều này là quả báu của sự cúng dường đức Phật.
4286. Hatthī assā rathā
pattī senā ca caturaṅginī,
parivāressantimaṃ niccaṃ buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của sự cúng dường đức Phật.
4287. Aṭṭhārase kappasate
devaloke ramissati,
sahassakkhattuṃ rājā ca cakkavattī bhavissati.
(Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một ngàn tám trăm kiếp, và sẽ trở thành vị Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
4288. Satānaṃ
tīṇikkhattuñca devarajjaṃ karissati,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
Và (người này) sẽ cai quản Thiên quốc ba trăm lần. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
4289. Tiṃsakappasahassamhi
okkākakulasambhavo,
gotamo nāma nāmena satthā loke bhavissati.
Vào ba mươi ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
4290. Tassa dhammesu dāyādo
oraso dhammanimmito,
sabbāsave pariññāya viharissatanāsavo.
Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ sống không c̣n lậu hoặc.”
4291. Tiṃsakappasahassamhi
addasaṃ lokanāyakaṃ,
etthantaramupādāya gavesiṃ amataṃ padaṃ.
Tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian cách đây ba mươi ngàn kiếp, trong khoảng thời gian này tôi đă tầm cầu đạo lộ Bất Tử.
4292. Lābhā mayhaṃ
suladdhaṃ me yamahaññāsi sāsanaṃ,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Điều lợi ích cho tôi đă được tôi đạt thành một cách tốt đẹp là tôi đă hiểu được Giáo Pháp, tam minh đă được thành tựu, lời dạy của đức Phật đă được thực hành.
4293. Namo te purisājañña
namo te purisuttama,
tava ñāṇaṃ pakittetvā pattomhi acalaṃ padaṃ.
Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Sau khi tán dương trí tuệ của Ngài, con đă đạt được vị thế bất động.
4294. Yaṃ yaṃ yonuppajjāmi
devattaṃ atha mānusaṃ,
sabbattha sukhito homi phalaṃ me ñāṇakittane.
Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều được sung sướng ở tất cả các nơi, là quả báu của tôi về việc tán dương trí tuệ.
4295. Idaṃ pacchimakaṃ
mayhaṃ carimo vattate bhavo,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4296. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4297. Svāgataṃ vana me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4298. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Bhaddāli thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Bhaddāli đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bhaddālittherassa apadānaṃ paṭhamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Bhaddāli là phần thứ nhất.
--ooOoo--
***
4299. Candabhāgānadītīre
assamo sukato mama,
susuddhapulinākiṇṇā paṇṇasālā sumāpitā.
Ở bờ sông Candabhāgā có khu ẩn cư của tôi đă khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá được rải cát vô cùng tinh khiết đă khéo được tạo lập.
4300. Uttānakūlā nadikā
supatitthā manoramā,
macchakacchapasampannā susumāranisevitā.
Bờ nước lúp xúp của con sông có băi nước cạn xinh xắn làm thích ư, có đủ các loài cá và rùa, được loài cá sấu lai văng.
4301. Acchā mayūrā dīpī ca
karavīkā ca sālikā,
kūjanti sabbadā ete sobhayantā mam’ assamaṃ.
Có các con gấu, công, báo, chim cu rừng, và chim sáo. Chúng hót líu lo vào mọi lúc, điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4302. Kokilā mañjubhāṇī ca
haṃsā ca madhurassarā,
abhikūjanti te tattha sobhayantā mamassamaṃ.
Có các chim cu cu có âm giọng lôi cuốn và các con thiên nga có âm điệu ngọt ngào. Chúng hót líu lo tại nơi ấy, điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4303. Sīhā vyagghā varāhā
ca vakā kokataracchakā,
giriduggamhi nādenti sobhayantā mamassamaṃ.
Có các con sư tử, cọp, heo rừng, chó rừng, chó sói, và linh cẩu. Chúng gầm rú ở nơi hiểm trở của ngọn núi, điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4304. Eṇimigā ca sarabhā
bheraṇḍā sūkarā bahū,
giriduggamhi nādenti sobhayantā mamassamaṃ.
Có các con linh dương, nai, chó rừng, lợn rừng. Nhiều con gầm rú ở nơi hiểm trở của ngọn núi, điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4305. Uddālakā campakā ca
pāṭalī sinduvārakā,
atimuttā asokā ca pupphanti mama assame.
Có các loại cây
uddālaka, cây
campaka, cây
pāṭalī, cây
sinduvāraka, cây
atimutta, và cây
asoka nở rộ hoa ở khu ẩn cư
của tôi.
4306. Aṅkolā yūthikā ceva
sattalī bimbijālikā,
kaṇṇikā kaṇikārā ca pupphanti mama assame.
Có các loại cây
aṅkola, cây
yūthika, luôn cả cây
sattalī, cây
bimbijālika, cây
kaṇṇika, và cây
kaṇikāra nở rộ hoa ở khu ẩn cư
của tôi.
4307. Nāgā sālā ca saḷalā
puṇḍarīkettha pupphitā,
dibbagandhaṃ sampavantā sobhayanti mamassamaṃ.
Có các loại cây nāga, cây sālā, cây saḷala, cây sen trắng được trổ hoa ở nơi đây. Trong khi tỏa ra hương thơm của cơi trời, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4308. Ajjunā asanā cettha
mahānāmā ca pupphitā,
sālā ca kaṅgupupphā ca sobhanti mamassamaṃ.
Có các loại cây ajjuna, cây asana, và cây mahānāma được trổ hoa ở nơi đây, có các cây sālā và các bông hoa của cây kê điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4309. Ambā jambu ca tilakā nimbā ca sālakalyāṇī,
dibbagandhaṃ sampavantā sobhayanti mamassamaṃ.
Có các cây xoài, cây mận đỏ, cây tilaka, cây nimba, và cây sālakalyāṇī, trong khi tỏa ra hương thơm của cơi trời chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4310. Asokā ca kapitthā ca
bhaginimālettha pupphitā,
dibbagandhaṃ sampavantā sobhayanti mamassamaṃ.
Có các loại cây asoka, cây kapittha, và cây bhaginimāla được trổ hoa ở nơi đâu, trong khi tỏa ra hương thơm của cơi trời chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4311. Kadambā kadalī ceva
isimuggā ca ropitā,
dhuvaṃ phalāni dhārenti sobhayantā mamassamaṃ.
Các loại cây kadamba, luôn cả các cây chuối, và cây isimugga đă được gieo trồng, chúng thường xuyên trĩu nặng những trái điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4312. Harītakā āmalakā ambā
jambū vibhītakā,
kolā bhallātakā billā phalino mama assame.
Có những loại cây có trái như cây harītaka, cây āmalaka, cây xoài, cây mận đỏ, cây vibhītaka, cây táo, cây bhallātaka, và cây billa ở khu ẩn cư của tôi.
4313. Avidūre pokkharaṇī
supatitthā manoramā,
mandālakehi sañchannā padumuppalakehi ca.
Không xa có cái hồ nước khéo được thiết lập làm thích ư, được che phủ bởi các cây mạn-đà-la, bởi các bông sen đỏ và các bông sen xanh.
4314. Gabbhaṃ gaṇhanti
padumā aññe pupphanti kesarī,
opattakaṇṇikā ceva pupphanti mama assame.
Có những đóa sen đỏ đang tượng h́nh, các đóa hoa khác nở hoa có tua nhụy, luôn cả các đóa có các cánh hoa rủ xuống, chúng nở hoa ở khu ẩn cư của tôi.
4315. Pāṭhīnā pāvusā macchā
valajā muñjarohitā,
acchodakamhi vicaraṃ sobhayanti mamassamaṃ.
Có các loại cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita. Trong khi thơ thẩn ở làn nước trong, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4316. Nayitā ambagandhi ca anukūle ca ketakā,
dibbagandhaṃ sampavantā sobhayanti mamassamaṃ.
Có mùi thơm của xoài được thoảng qua và có các cây dứa dại ở dọc bờ sông. Trong khi tỏa ra hương thơm của cơi trời, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4317. Madhū bhisamhā savati
khīrasappi mulāḷibhi,
dibbagandhaṃ sampavantā sobhayanti mamassamaṃ.
Có mật tiết ra từ củ sen, có sữa và bơ lỏng từ các rễ và ngó sen. Trong khi tỏa ra hương thơm của cơi trời, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4318. Pulinā sobhanā tattha
ākiṇṇā jalasevitā,
opupphā pupphitā senti sobhayantā mamassamaṃ.
Ở nơi ấy có cát sáng chói được trải ra và được ve văn bởi làn nước với các bông hoa tàn đă được nở rộ giờ yên nghỉ, chúng điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4319. Jaṭābhārena bharitā
ajinuttaravāsanā,
vākacīradharā sabbe sobhayanti mamassamaṃ.
Có các vị (đạo sĩ) mang búi tóc rối, khoác lên tấm da dê, tất cả đều mặc y phục bằng vỏ cây, họ điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4320. Yugamattamapekkhantā
nipakā santavuttino,
kāmabhoge anapekkhā vasanti mama assame.
Và (các vị ấy) nh́n với khoảng cách của cán cày, thận trọng, có hành vi thanh tịnh, không mong mỏi về sự thọ hưởng các dục lạc, sống ở khu ẩn cư của tôi.
4321.
Parūḷhakacchanakhalomā paṅkadantā rajassirā,
rajojalladharā sabbe vasanti mama assame.
Tất cả các vị có (lông) nách, móng tay chân, và các lông được mọc dài, có răng bẩn, có đầu lấm bụi, mang bụi dơ (ở thân), sống ở khu ẩn cư của tôi.
4322. Abhiññāpāramippattā
antalikkhacarā ca te,
uggacchantā nabhaṃ ete sobhayanti mamassamaṃ.
Và các vị ấy đă đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí, có sự di chuyển ở không trung. Trong khi bay lên bầu trời, các vị này điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ.
4323. Tehi sissehi parivuto
vasāmi vipine tadā,
rattindivaṃ na jānāmi sadā jhānasamappito.
Khi ấy, được tùy tùng bởi những người học tṛ ấy, tôi sống ở khu rừng. Luôn luôn gắn bó với thiền, tôi không biết đến ngày và đêm.
4324. Bhagavā tamhi samaye
atthadassī mahāmuni,
tamandhakāraṃ nāsento uppajji lokanāyako.
Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn, bậc Đại Hiền Triết, đấng Lănh Đạo Thế Gian Atthadassī, trong khi xua đi điều tăm tối ấy đă hiện khởi.
4325. Atha aññataro sisso
āgacchi mama santikaṃ,
mante ajjhetukāmo so chaḷaṅgaṃ nāmalakkhaṇaṃ.
Rối có người học tṛ nọ đă đi đến gặp tôi. Người ấy có ư định học về các chú thuật và sáu phần về danh hiệu và tướng số (và đă nói rằng):
4326. Buddho loke
samuppanno atthadassī mahāmuni,
catusaccaṃ pakāsento deseti amataṃ padaṃ.
“Đức Phật, bậc Đại Hiền Triết Atthadassī đă xuất hiện ở thế gian. Trong khi công bố về bốn Sự Thật, Ngài thuyết giảng về đạo lộ Bất Tử.”
4327. Tuṭṭhahaṭṭho pamudito
dhammantaragatāsayo,
assamā abhinikkhamma imaṃ vacanamabraviṃ:
Được hớn hở vui mừng hoan hỷ, có khuynh hướng đi đến với Giáo Pháp, tôi đă rời khỏi khu ẩn cư và đă nói lời nói này:
4328. “Buddho loke
samuppanno battiṃsavaralakkhaṇo,
etha sabbe gamissāma sammāsambuddhasantikaṃ.”
“Đức Phật có ba mươi hai hảo tướng đă xuất hiện ở thế gian. Các người hăy đi đến, tất cả chúng ta sẽ đi gặp đấng Chánh Đẳng Giác.”
4329. Ovādapaṭikarā te
saddhamme pāramiṅgatā,
sādhū’ti sampaṭicchiṃsu uttamatthaṃ gavesakā.
Là những người tầm cầu mục đích tối thượng, có sự đáp ứng theo lời giáo huấn, đă hướng đến sự toàn hảo trong Chánh Pháp, các vị ấy đă đồng ư rằng: “Lành thay!”
4330. Jaṭābhārabharitā te
ajinuttaravāsino,
uttamatthaṃ gavesanto nikkhamiṃsu vanā tadā.
Khi ấy, trong lúc tầm cầu mục đích tối thượng, các vị (đạo sĩ) mang các búi tóc khoác y phục da dê ấy đă rời khỏi khu rừng.
4331. Bhagavā tamhi samaye
atthadassī mahāyaso,
catusaccaṃ pakāsento deseti amataṃ padaṃ.
Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn Atthadassī vị có danh tiếng lớn lao trong khi công bố về bốn Sự Thật, Ngài thuyết giảng về đạo lộ Bất Tử.
4332. Setacchattaṃ
gahetvāna buddhaseṭṭhassa dhārayiṃ,
ekāhaṃ dhārayitvāna buddhaseṭṭhamavandahaṃ.
Tôi đă cầm lấy chiếc lọng màu trắng và đă che cho đức Phật tối thượng. Sau khi nắm giữ (chiếc lọng) trong một ngày, tôi đă đảnh lễ đức Phật tối thượng.
4333. Atthadassī tu bhagavā
lokajeṭṭho narāsabho,
bhikkhusaṅghe nisīditvā imā gāthā abhāsatha:
Kế đó, đức Thế Tôn, đấng Trưởng Thượng của thế gian, bậc Nhân Ngưu Atthadassī đă ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đă nói lên những lời kệ này:
4334. “Yo me
chattamadhāresi pasanno sehi pāṇihi,
tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.
“Người nào được tịnh tín nắm giữ chiếc lọng (che) cho Ta bằng các bàn tay của ḿnh, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.
4335. Imassa jāyamānassa
devatte atha mānuse,
dhāressati sadā chattaṃ chattadānassidaṃ phalaṃ.
Khi người này được sanh lên, ở bản thể Thiên nhân hay nhân loại, sẽ có chiếc lọng luôn luôn che cho người này; điều này là quả báu của việc dâng cúng chiếc lọng.
4336. Sattasattatikappāni
devaloke ramissati,
sahassakkhattuṃ rājā ca cakkavattī bhavissati.
Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong bảy mươi bảy kiếp, và sẽ trở thành vị Chuyển Luân Vương một ngàn lần.
4337.
Sattasattatikkhattuñca devarajjaṃ karissati,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
Và sẽ trở thành vị Thiên Vương bảy mươi bảy lần. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
4338. Aṭṭhārase kappasate
gotamo sakyapuṅgavo,
tamandhakāraṃ nāsento uppajjissati cakkhumā.
Vào một ngàn tám trăm kiếp, bậc Hữu Nhăn Gotama, đấng cao quư ḍng Sakya, trong khi xua đi điều tăm tối ấy, sẽ xuất hiện.
4339. Tassa dhammesu dāyādo
oraso dhammanimmito,
sabbāsave pariññāya viharissatanāsavo.”
Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ sống không c̣n lậu hoặc.”
4340. Yato ahaṃ kammamakaṃ
chattaṃ buddhassa dhārayaṃ,
etthantare na jānāmi setacchattaṃ adhāritaṃ.
Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm là đă nắm giữ chiếc lọng (che) cho đức Phật, trong khoảng thời gian này, tôi không biết đến việc không được che bởi chiếc lọng trắng
4341. Idaṃ pacchimakaṃ
mayhaṃ carimo vattate bhavo,
chattadhāraṇamajjāpi vattate niccakālikaṃ.
Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Việc nắm giữ chiếc lọng được vận hành liên tục đến tận ngày hôm nay.
4342. Aho me sukataṃ kammaṃ
atthadassissa tādino,
sabbāsavaparikkhīṇo natthidāni punabbhavo.
Ôi, việc làm đă được tôi khéo thực hiện đến (đức Phật) Atthadassī như thế ấy. Tôi đă được cạn kiệt tất cả các lậu hoặc, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.
4343. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4344. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4345. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekachattiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Ekachattiya[1] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ekachattiyattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Ekachattiya là phần thứ nh́.
--ooOoo--
***
4346. Jātijarañca maraṇaṃ
paccavekkhiṃ ahaṃ tadā,
ekato abhinikkhamma pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Lúc bấy giờ, tôi đă suy xét về sự sanh, sự già, và sự chết. Sau khi ĺa khỏi sự sống chung, tôi đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.
4347. Caramāno ’nupubbena
gaṅgātīramupāgamiṃ,
tatthaddasāsiṃ paṭhaviṃ gaṅgātīre samunnataṃ.
Trong khi tuần tự du hành, tôi đă đi đến bờ sông Gaṅgā. Ở tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy khoảnh đất nổi cao lên ở bờ sông Gaṅgā.
4348. Assamaṃ tattha
māpetvā vasāmi assame ahaṃ,
sukato caṅkamo mayhaṃ nānādijagaṇāyuto.
Sau khi tạo lập khu ẩn cư ở tại nơi ấy, tôi sống ở khu ẩn cư. Đường kinh hành của tôi đă khéo được thực hiện, được lai văng bởi các bầy chim khác loại.
4349. Mamupenti ca
vissatthā kūjanti ca manoharaṃ,
ramamāno saha tehi vasāmi assame ahaṃ.
Chúng đến gần tôi, và trở nên quen thuộc. Và chúng hót líu lo một cách quyến rũ. Trong khi đùa vui với chúng, tôi sống ở khu ẩn cư.
4350. Mama assamasāmantā
migarājā catukkamo,
āsayā abhinikkhamma gajji so asanī viya.
Ở lân cận khu ẩn cư của tôi, có con nai chúa đi khắp bốn phương. Sau khi rời khỏi chỗ trú ẩn, nó đă gầm lên như là tiếng sấm.
4351. Nadite migarāje ca
hāso me upapajjatha,
migarājaṃ gavesanto addasaṃ lokanāyakaṃ.
Và khi con nai chúa gào thét, nụ cười đă xuất hiện ở tôi. Trong lúc t́m kiếm con nai chúa, tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian.
4352. Disvānahaṃ devadevaṃ
tissaṃ lokagganāyakaṃ,
haṭṭho haṭṭhena cittena pūjayiṃ nāgakesaraṃ.
Sau khi nh́n thấy đấng Lănh Đạo Thế Gian Tissa, vị Trời của chư Thiên, tôi đă trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ tôi đă cúng dường nhụy bông hoa nāga.
4353. Uggacchantaṃva
suriyaṃ sālarājaṃva pupphitaṃ,
osadhiṃva virocantaṃ santhaviṃ lokanāyakaṃ.
Tôi đă ca tụng đấng Lănh Đạo Thế Gian như là mặt trời đang mọc lên, như là cây sālā chúa đă được trổ hoa, như là v́ sao osadhī đang chiếu sáng.
4354. Tava ñāṇena sabbaññū
moces’ imaṃ sadevakaṃ,
tavaṃ ārādhayitvāna jātiyā parimuccare.
“Bạch đấng Toàn Tri, Ngài đă giải thoát thế gian này luôn cả chư Thiên bằng trí tuệ của Ngài. Sau khi làm cho Ngài hài ḷng, (chúng sanh) được hoàn toàn giải thoát khỏi sự sanh.
4355. Adassanena sabbaññū
buddhānaṃ sabbadassinaṃ,
patantyavicīnirayaṃ rāgadosehi ophuṭā.
Bạch đấng Toàn Tri, do sự không nh́n thấy chư Phật là các vị có sự nh́n thấy tất cả, (chúng sanh) bị xâm chiếm bởi ái dục sân hận (rồi) rơi vào địa ngục Vô Gián.
4356. Tava dassanamāgamma
sabbaññū lokanāyaka,
pamuccanti bhavā sabbe phusanti amataṃ padaṃ.
Bạch đấng Toàn Tri, bạch đấng Lănh Đạo Thế Gian, sau khi đi đến diện kiến Ngài, tất cả được giải thoát khỏi hữu (và) chạm đến Đạo Lộ Bất Tử.
4357. Yadā buddhā
cakkhumanto uppajjanti pabhaṅkarā,
kilese jhāpayitvāna ālokaṃ dassayanti te.
Khi chư Phật, các bậc Hữu Nhăn, các đấng Phát Quang xuất hiện, sau khi thiêu đốt các phiền năo các Ngài thị hiện ánh sáng.”
4358. Kittayitvāna
sambuddhaṃ tissaṃ lokagganāyakaṃ,
haṭṭho haṭṭhena cittena tiṇasūlaṃ apūjayiṃ.
Sau khi tán dương đấng Toàn Giác Tissa, bậc Lănh Đạo cao cả của thế gian, tôi đă trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ tôi đă cúng dường hoa tiṇasūla.
4359. Mama saṅkappamaññāya
tisso lokagganāyako,
sakāsane nisīditvā imā gāthā abhāsatha:
Sau khi biết được ư định của tôi, đấng Lănh Đạo Thế Gian Tissa đă ngồi xuống chỗ ngồi của ḿnh rồi đă nói lên những lời kệ này:
4360. “Yo maṃ pupphehi
chādesi pasanno sehi pāṇihi,
tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.
“Người nào được tịnh tín tự tay ḿnh che phủ Ta bằng các bông hoa, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.
4361. Pañcavīsatikkhattuṃ
so devarajjaṃ karissati,
pañcasattatikkhattuñca cakkavattī bhavissati.
Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc hai mươi lăm lần, và sẽ trở thành vị Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần.
4362. Padesarajjaṃ vipulaṃ
gaṇanāto asaṃkhiyaṃ,
tassa kammassa nissando pupphānaṃ pūjanāya ca.
Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Và (đó là) kết quả về hành động của người ấy do sự cúng dường các bông hoa.
4363. Sīsaṃ nahāto c’ ayaṃ
poso pupphamākaṅkhate yadi,
puññakammena saṃyutto purato pātubhavissati.
Và người nam này, được gắn liền với nghiệp phước thiện, khi đă gội đầu xong nếu ao ước về bông hoa, (bông hoa) sẽ hiện ra ở phía trước.
4364. Yaṃ yaṃ icchati
kāmehi taṃ taṃ pātubhavissati,
saṃkappaṃ paripūretvā nibbāyissatanāsavo.”
(Nếu người này) ước muốn bất cứ điều ǵ với các dục, chính điều ấy sẽ hiện ra. Sau khi làm tṛn đủ ư định, (người này) sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”
(Aṭṭhārasamaṃ bhāṇavāraṃ).
Tụng phẩm thứ mười tám.
4365. Kilese jhāpayitvāna
sampajāno patissato,
ekāsane nisīditvā arahattamapāpuṇiṃ.
Có sự nhận biết ḿnh, có niệm (đầy đủ), tôi đă thiêu đốt các phiền năo. Sau khi ngồi xuống ở chỗ ngồi, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.
4366. Caṅkamanto nipajjanto
nisinno udavā ṭhito,
buddhaseṭṭhaṃ saritvāna viharāmi ahaṃ sadā.
Trong khi đi kinh hành, trong khi nằm, trong khi ngồi, hay trong khi đứng, tôi sống thường xuyên tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng.
4367. Cīvare piṇḍapāte ca
paccaye sayanāsane,
tattha me ūnatā natthi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Ở tại nơi ấy, tôi không có sự thiếu hụt về y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4368. So ’dāni patto amataṃ
santaṃ padamanuttaraṃ,
sabbāsave pariññāya viharāmi anāsavo.
Bây giờ, tôi đây đă đạt đến đạo lộ Bất Tử, thanh tịnh, tối thượng. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4369. Dvenavute ito kappe
yaṃ pupphamabhipūjayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă cúng dường bông hoa cho đến chín mươi hai kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4370. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4371. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4372. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Tiṇasūlakachadaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti. Đại đức trưởng lăo Tiṇasūlakachadaniya[2] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Tiṇasulakachadaniyattherassa apadānaṃ tatiyaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Tiṇasulakachadaniya là phần thứ ba.
--ooOoo--
***
4373. Nagare bandhumatiyā
sūkariko ahosahaṃ,
ukkoṭakaṃ randhayitvā madhumaṃsamhi okiriṃ.
Tôi đă là người bán thịt heo ở thành phố Bandhumatī. Sau khi nấu chín phổi và ḷng, tôi trộn chung vào món thịt ngọt.
4374. Sannipātaṃ ahaṃ
gantvā ekaṃ pattaṃ gahesahaṃ,
pūrayitvāna taṃ pattaṃ bhikkhusaṅghass’ adāsahaṃ.
Tôi đă đi đến nơi tụ hội (của các vị tỳ khưu) và đă nhận lấy một b́nh bát. Sau khi chứa đầy b́nh bát ấy, tôi đă dâng lên hội chúng tỳ khưu.
4375. Yo ’ttha therataro
bhikkhu niyyādesi mamaṃ tadā,
iminā pattapūrena labhassu vipulaṃ sukhaṃ.
Khi ấy, vị tỳ khưu trưởng lăo lớn nhất tại nơi ấy đă chúc phúc cho tôi rằng: “Với sự đầy đặn của b́nh bát này, mong rằng con sẽ đạt được sự an lạc sung măn.
4376. Dvesampattiyo bhutvā
sukkamūlena codito,
pacchime vattamānamhi kilese jhāpayissati.
Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, con sẽ thọ hưởng hai sự thành tựu (trời người), trong khi kiếp cuối cùng đang hiện hữu con sẽ thiêu đốt các phiền năo.”
4377. Tattha cittaṃ
pasādetvā tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ,
tattha bhutvā pivitvā ca labhāmi vipulaṃ sukhaṃ.
Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi. Tại nơi ấy, tôi có thức ăn, tôi có nước uống, và tôi đạt được sự an lạc sung măn.
4378. Maṇḍape rukkhamūle vā
pubbakammaṃ anussariṃ,
annapānābhivasso me abhivassati tāvade.
Khi ở mái che hoặc ở gốc cây, tôi đă nhớ lại việc làm trước đây. Ngay lập tức có trận mưa về cơm ăn và nước uống đổ mưa xuống cho tôi.
4379. Idaṃ pacchimakaṃ
mayhaṃ carimo vattate bhavo,
idhāpi annapānaṃ me vassate sabbakālikaṃ.
Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Ngay cả ở đây, cơm ăn và nước uống đổ mưa xuống cho tôi trong mọi thời điểm.
4380. Teneva maṃsadānena
sandhāvitvā bhave ahaṃ,
sabbāsave pariññāya viharāmi anāsavo.
Do chính sự dâng cúng thịt ấy, sau khi trải qua các kiếp sống, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4381. Ekanavute ito kappe
yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi madhudānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng thịt ngọt.
4382. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4383. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4384. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Madhumaṃsadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti. Đại đức trưởng lăo Madhumaṃsadāyaka[3] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Madhumaṃsadāyakattherassa apadānaṃ catutthaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Madhumaṃsadāyaka là phần thứ tư.
--ooOoo--
***
4385. Nagare bandhumatiyā
rājuyyāne vasāmahaṃ,
mama assamasāmantā nisīdi lokanāyako.
Tôi (đă) sống ở vườn thượng uyển của thành phố Bandhumatī. Đấng Lănh Đạo Thế Gian đă ngồi xuống ở gần nơi khu ẩn cư của tôi.
4386. Nāgapallavamādāya buddhassa abhiropayiṃ,
pasannacitto sumano sugataṃ abhivādayiṃ.
Tôi đă cầm lấy chồi non của cây nāga và đă dâng lên đức Phật. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă đảnh lễ đấng Thiện Thệ.
4387. Ekanavute ito kappe
yaṃ pallavamapūjayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă cúng dường chồi non cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4388. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4389. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4390. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Nāgapallavako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Nāgapallavaka[4] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Nāgapallavakattherassa apadānaṃ pañcamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Nāgapallavaka là phần thứ năm.
--ooOoo--
***
4391. Parinibbutamhi sugate
siddhatthe lokanāyake,
sadevamānusā sabbe pūjenti dipaduttamaṃ.
Khi bậc Thiện Thệ, đấng Lănh Đạo Thế Gian Siddhattha viên tịch Niết Bàn, tất cả chư Thiên cùng nhân loại đă cúng dường đến bậc Tối Thượng Nhân.
4392. Āropite ca citake
siddhatthe lokanāyake,
yathāsakena thāmena citaṃ pūjenti satthuno.
Và khi đấng Lănh Đạo Thế Gian Siddhattha được đưa lên giàn hỏa thiêu, mọi người cúng dường lễ hỏa táng của bậc Đạo Sư tùy theo năng lực của ḿnh.
4393. Avidūre citakassa
dīpamujjālayiṃ ahaṃ,
yāva udeti suriyo dīpaṃ me tāva ujjali.
Tôi đă thắp lên ngọn đèn ở không xa giàn hỏa thiêu cho đến khi mặt trời mọc lên. Ngọn đèn đă chiếu sáng đến tôi.
4394. Tena kammena sukatena
cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
4395. Tattha me sukataṃ
vyamhaṃ ekadīpiti ñāyati,
dīpasatasahassāni vyamhe pajjalare mama.
Tại nơi ấy, có cung điện đă khéo được kiến tạo dành cho tôi được biết tên là “Ekadīpi.” Có một trăm ngàn ngọn đèn đă cháy sáng ở cung điện của tôi.
4396. Udayantova suriyo
deho me jotate sadā,
sabbabhāhi sarīrassa āloko hoti me sadā.
Thân h́nh của tôi luôn luôn chiếu sáng tợ như mặt trời đang mọc lên. Với tất cả các hào quang của cơ thể, tôi luôn luôn có được ánh sáng.
4397. Tirokuḍḍaṃ tiroselaṃ
samatiggayha pabbataṃ,
samantā yojanasataṃ passāmi cakkhunā ahaṃ.
Bằng mắt, sau khi đă vượt lên ngọn núi, xuyên qua bức tường, xuyên qua tảng đá, tôi (có thể) nh́n thấy xung quanh một trăm do-tuần.
4398.
Sattasattatikkhattuñca devaloke ramiṃ ahaṃ,
ekatiṃsatikkhattuñca devarajjamakārayiṃ.
Tôi đă sướng vui ở thế giới chư Thiên bảy mươi bảy lần. Và tôi đă cai quản Thiên quốc ba mươi mốt lần.
4399. Aṭṭhivīsatikkhattuñca
cakkavattī ahosahaṃ,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṃkhiyaṃ.
Và tôi đă trở thành vị Chuyển Luân Vương hai mươi tám lần. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
4400. Devalokā cavitvāna
nibbattiṃ mātukucchiyaṃ,
mātukucchigatassāpi akkhi me na nimīlati.
Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, tôi đă tái sanh vào bụng mẹ. Ngay cả khi đi vào bụng mẹ, mắt của tôi không nhắm lại.
4401. Jātiyā catuvassohaṃ
pabbajiṃ anagāriyaṃ,
aḍḍhamāse asampatte arahattamapāpuṇiṃ.
Bốn tuổi tính từ khi sanh, tôi đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Chưa đầy nửa tháng, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán.
4402. Dibbacakkhuṃ
visodhesiṃ bhavā sabbe samūhatā,
sabbe kilesā sañchinnā ekadīpassidaṃ phalaṃ.
Tôi đă làm cho Thiên nhăn được thanh tịnh, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả phiền năo đă được cắt ĺa; điều này là quả báu của một ngọn đèn.
4403. Tirokuḍḍaṃ tiroselaṃ
pabbatañcāpi kevalaṃ,
samatikkamma passāmi ekadīpassidaṃ phalaṃ.
Tôi (có thể) nh́n thấy sau khi đă vượt lên thậm chí toàn bộ ngọn núi, xuyên qua bức tường, xuyên qua tảng đá; điều này là quả báu của một ngọn đèn.
4404. Visamā me samā honti
andhakāro na vijjati,
nāhaṃ passāmi timiraṃ ekadīpassidaṃ phalaṃ.
Đối với tôi các sự gập ghềnh trở thành bằng phẳng, bóng đen không được biết đến, tôi không nh́n thấy sự tăm tối; điều này là quả báu của một ngọn đèn.
4405. Catunavute ito kappe
yaṃ dīpamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi ekadīpassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng cây đèn cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của một ngọn đèn.
4406. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4407. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4408. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekadīpiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Ekadīpiya[5] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ekadīpiyattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Ekadīpiya là phần thứ sáu.
--ooOoo--
***
4409. Nagare bandhumatiyā
ahosiṃ māliko tadā,
ucchaṅgaṃ pūrayitvāna agamaṃ antarāpaṇaṃ.
Tôi đă là người làm tràng hoa ở thành phố Bandhumatī. Sau khi chất đầy ở bên hông, tôi đă đi đến khu chợ.
4410. Bhagavā tamhi samaye
bhikkhusaṅghapurakkhato,
mahatā anubhāvena niyyāti lokanāyako.
Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đấng Lănh Đạo Thế Gian, với năng lực lớn lao, dẫn đầu hội chúng tỳ khưu đi ra.
4411. Disvāna lokapajjotaṃ vipassiṃ lokatāraṇaṃ,
pupphaṃ paggayha ucchaṅgā buddhaseṭṭhaṃ apūjayiṃ.
Sau khi nh́n thấy đấng Quang Đăng Vipassī, vị giúp cho thế gian vượt qua, tôi đă lấy ra bông hoa từ bên hông và đă cúng dường đến đức Phật tối thượng.
4412. Ekanavute ito kappe
yaṃ pupphamabhipūjayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă cúng dường bông hoa cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
4413. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4414. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4415. Paṭisambhidā vatasso
vimokkho pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ucchaṅgapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Ucchaṅgapupphiya[6] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ucchaṅgapupphiyattherassa apadānaṃ sattamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Ucchaṅgapupphiya là phần thứ bảy.
--ooOoo--
***
4416. Atithiṃ me gahetvāna
agacchiṃ gāmakaṃ tadā,
sampuṇṇanadikaṃ disvā saṅghārāmamupāgamiṃ.
Lúc bấy giờ, sau khi tiếp đăi người khách của tôi, tôi đă đi đến ngôi làng nhỏ. Sau khi nh́n thấy con sông bị tràn ngập, tôi đă đi đến tu viện của hội chúng.
4417. Āraññakā dhutadharā
jhāyino lūkhacīvarā,
vivekābhiratā dhīrā saṅgharāme vasanti te.
Là những vị chuyên sống ở rừng, thông thạo pháp giũ bỏ (đầu đà), chứng thiền, mặc y thô, thỏa thích sự ẩn cư, các vị trí tuệ ấy sống ở tu viện của hội chúng.
4418. Gati tesaṃ upacchinnā
suvimuttāna tādinaṃ,
piṇḍāya te na gacchanti oruddhanaditāya hi.
Sự đi lại của các vị đă được giải thoát tốt đẹp như thế ấy là bị gián đoạn. Các vị ấy không đi để khất thực chính v́ ḍng sông ngăn trở.
4419. Pasannacitto sumano
vedajāto katañjalī,
taṇḍulaṃ me gahetvāna yāgudānamadāsahaṃ.
Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, tôi đă chắp tay lên. Tôi đă lấy gạo của tôi rồi đă dâng cúng vật thí là cháo.
4420. Pañcannaṃ yāguṃ
datvāna pasanno sehi pāṇihi,
sakakammābhiraddho ’haṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Được tịnh tín, tôi đă tự tay ḿnh dâng cúng cháo đến năm vị. Được hài ḷng với việc làm của chính ḿnh, tôi đă đi đến cơi Đạo Lợi.
4421. Maṇimayañca me
vyamhaṃ nibbatti tidase gaṇe,
nārīgaṇehi sahito modāmi vyamhamuttame.
Và có cung điện làm bằng ngọc ma-ni dành cho tôi được tạo ra ở hội chúng Tam Thập. Được gần gũi với đám nữ nhân, tôi vui thích ở cung điện tuyệt vời.
4422. Tettiṃsakkhattuṃ
devindo devarajjamakārayiṃ,
tiṃsakkhattuṃ cakkavattī mahārajjamakārayiṃ.
Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi ba lần. Tôi đă là vị Chuyển Luân Vương cai quản lănh thổ rộng lớn ba mươi lần.
4423. Padesarajjaṃ vipulaṃ
gaṇanāto asaṃkhiyaṃ,
devaloke manusse vā anubhotvā yasaṃ ahaṃ.
Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người, tôi đều thọ hưởng danh vọng.
4424. Pacchimabhave
sampatte pabbajiṃ anagāriyaṃ,
saha oropite kese sabbaṃ sampaṭivijjhahaṃ.
Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh. Khi tóc được cạo bỏ, tôi đă thấu triệt tất cả.
4425. Khayato vayato vā pi
sammasanto kalebaraṃ,
pure sikkhāpadādānā arahattamapāpuṇiṃ.
Trong khi biết chắc rằng thân thể là sự suy tàn hoặc là sự hoại diệt cũng thế, tôi đă thành tựu phẩm vị A-la-hán trước việc thọ tŕ điều học.
4426. Sudinnaṃ me dānavaraṃ
vāṇijjaṃ suppayojitaṃ,
teneva yāgudānena patto ’mhi acalaṃ padaṃ.
Sự bố thí cao quư của tôi đă được bố thí tốt đẹp, việc đổi trao đă được gắn liền tốt đẹp. Do chính việc dâng cúng cháo ấy, tôi đă đạt đến vị thế bất động.
4427. Sokaṃ pariddavaṃ
vyādhiṃ darathaṃ cittatāpanaṃ,
nābhijānāmi uppannaṃ yāgudānassidaṃ phalaṃ.
Tôi không biết đến sự sầu muộn, sự than văn, sự bệnh tật, sự lo lắng, sự bực bội của tâm đă được sanh khởi; điều này là quả báu của việc dâng cúng cháo.
4428. Yāguṃ saṅghassa
datvāna puññakkhette anuttare,
pañcānisaṃse anubhomi aho yāgusuyiṭṭhatā.
Sau khi dâng cúng cháo ở phước điền vô thượng của hội chúng, tôi thọ hưởng năm điều lợi ích. Ôi tính chất đă được hiến dâng tốt đẹp của cháo!
4429. Avyādhitā rūpavatā
khippaṃ dhammanisantitā,
lābhitā annapānassa āyu pañcamakaṃ mama.
Sự không bị bệnh, có sắc đẹp, chuyên chú vào Giáo Pháp, đạt được cơm nước, tuổi thọ là điều (lợi ích) thứ năm đối với tôi.
4430. Yo koci vedaṃ janayaṃ
saṅghe yāguṃ dadeyya so,
imāni pañcaṭhānāni patigaṇheyya paṇḍito.[7]
Bất cứ người nào trong khi sanh khởi niềm phấn khởi, người ấy nên dâng cúng cháo đến hội chúng. Là bậc trí, (người ấy) có thể nhận lănh năm điều này.
4431. Tiṃsa kappasahassamhi
yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi yāgudānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí cho đến ba mươi ngàn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của việc dâng cúng cháo.
4432. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4433. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4434. Paṭisambhidā catasso
vimokkhā pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Yāgudāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Yāgudāyaka[8] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Yāgudāyakattherassa apadānaṃ aṭṭhamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Yāgudāyaka là phần thứ tám.
--ooOoo--
***
4435. Vanacārī pure āsiṃ
satataṃ vanakammiko,
patthodanaṃ gahetvāna kammantaṃ agamāsahaṃ.
Trước đây, tôi đă là người đi rừng, thường xuyên làm việc ở trong rừng. Sau khi cầm lấy gói cơm, tôi đă đi làm công việc.
4436. Tatthaddasāsiṃ
sambuddhaṃ sayambhuṃ aparājitaṃ,
vanā piṇḍāya nikkhantaṃ disvā cittaṃ pasādayiṃ.
Ở nơi ấy, tôi đă nh́n thấy bậc Toàn Giác, đấng Tự Chủ, bậc không bị hàng phục. Sau khi nh́n thấy Ngài đang từ rừng đi ra để khất thực, tôi đă làm cho tâm được tịnh tín.
4437. Parakammāyane yutto
puññañca me na vijjati,
ayaṃ patthodano atthi bhojayissāmimaṃ muniṃ.
Tôi không biết được rằng phước báu có liên quan đến đường lối và công việc của người khác. Có gói cơm này, tôi sẽ chăm lo bữa ăn cho bậc Hiền Triết.
4438. Patthodanaṃ gahetvāna
sayambhussa adāsahaṃ,
mama nijjhāyamānassa paribhuñji tadā muni.
Khi ấy, tôi đă cầm lấy gói cơm và đă dâng cúng đến đấng Tự Chủ. Trong khi tôi đang suy tư, bậc Hiền Triết đă thọ dụng (gói cơm).
4439. Tena kammena sukatena
cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
4440. Chattiṃsakkhattuṃ
devindo deverajjamakārayiṃ,
tettiṃsakkhattuṃ rājā ca cakkavattī ahosahaṃ.
Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi sáu lần. Tôi đă là vị Chuyển Luân Vương ba mươi ba lần.
4441. Padesarajjaṃ vipulaṃ
gaṇanāto asaṅkhiyaṃ,
sukhito yasavā homi patthodanassidaṃ phalaṃ.
Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Tôi được sung sướng có danh vọng; điều này là quả báu của gói cơm.
4442. Bhavābhave saṃsaranto
labhāmi amitaṃ dhanaṃ,
bhoge me ūnatā natthi patthodanassidaṃ phalaṃ.
Trong khi luân hồi ở cơi này cơi khác, tôi đạt được tài sản không ước lượng được, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của gói cơm.
4443. Nadīsotapaṭibhāgā
bhogā nibbattare mama,
parimetuṃ na sakkomi patthodanassidaṃ phalaṃ.
Các của cải được sanh lên cho tôi tương đương với ḍng nước của con sông, tôi không thể nào đo lường; điều này là quả báu của gói cơm.
4444. Imaṃ khāda imaṃ
bhuñja imamhi sayane saya,
tenāhaṃ sukhito homi patthodanassidaṃ phalaṃ.
“Ngươi hăy nhai món này, hăy ăn món này, hăy nằm ở chiếc giường này,” v́ thế tôi được sung sướng; điều này là quả báu của gói cơm.
4445. Catunavute ito kappe
yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi pathodanassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của gói cơm.
4446. Kilesā jhāpitā mayhaṃ
bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.
Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.
4447. Svāgataṃ vata me āsi
buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
4448. Paṭisambhidā catasso
vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Patthodanadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Đại đức trưởng lăo Patthodanadāyaka[9] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Patthodanadāyakattherassa apadānaṃ navamaṃ.
Kư sự về trưởng lăo Patthodanadāyaka là phần thứ chín.
--ooOoo--
***
4449. Parinibbute kāruṇike
siddhatthe lokanāyake,
vitthārite pāvacane devamānusasakkate.
Khi đấng Bi Mẫn, bậc Lănh Đạo Thế Gian Siddhattha đă viên tịch Niết Bàn, khi lời giảng dạy đă được phổ biến, được tôn kính bởi chư Thiên cùng nhân loại.
4450. Caṇḍālo āsahaṃ tattha
āsandipīṭhakārako,
tena kammena jīvāmi tena posemi dārake.
Tại nơi ấy, tôi đă là người giai cấp hạ tiện, là người làm ghế dài và ghế đẩu. Tôi sinh sống bằng công việc ấy. Nhờ thế, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.
4451. Āsandiṃ sukataṃ katvā
pasanno sehi pāṇihi,
sayamevupagantvāna bhikkhusaṅghass’ adāsahaṃ.
Được tịnh tín, tôi đă tự tay ḿnh làm xong chiếc ghế dài khéo được hoàn tất. Rồi tôi đă đích thân đi đến và đă dâng cúng đến hội chúng tỳ khưu
4452. Tena kammena sukatena
cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Do nghiệp ấy đă được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ư, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đă đi đến cơi trời Đạo Lợi.
4453. Devalokagato santo
modāmi tidasaṅgaṇe,
sayanāni mahagghāni nibbattanti yadicchakaṃ.
Được đi đến thế giới của chư Thiên, tôi vui thích ở cơi trời Tam Thập. Các giường nằm có giá trị lớn lao được sanh lên theo như ước muốn,
4454. Paññāsakkhattuṃ
devindo devarajjamakārayiṃ,
asītikkhattuṃ rājā ca cakkavattī ahosahaṃ.
Tôi đă là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc năm mươi lần. Tôi đă là vị Chuyển Luân Vương tám mươi lần.
4455. Padesarajjaṃ vipulaṃ
gaṇanāto asaṅkhiyaṃ,
sukhito yasavā homi mañcadānissidaṃ phalaṃ.
Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Tôi được sung sướng có danh vọng; điều này là quả báu của việc dâng cúng chiếc giường.
4456. Devalokā cavitvāna
emi ce mānusaṃ bhavaṃ,
mahārahā susayanā sayameva bhavanti me.
Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, nếu tôi đi đến cơi nhân loại, các chiếc giường xinh đẹp vô cùng giá trị tự chính chúng hiện ra cho tôi.
4457. Ayaṃ pacchimako
mayhaṃ carimo vattate bhavo,
ajjāpi sayane kāle sayanaṃ upatiṭṭhati.
Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Thậm chí hôm nay cũng là thời điểm của chiếc giường, có chiếc giường hiện diện.
4458. Catunavute ito kappe
yaṃ dānamaddiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi mañcadānassidaṃ phalaṃ.
Kể từ khi tôi đă dâng cúng vật thí cho đến chín mươi bốn kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quN