Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.

Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

 

 

XLI. METTEYYAVAGGO

XLI. PHẨM METTEYYA:

 

 

401.Tissametteyyattherāpadānaṃ

401. Kư Sự về Trưởng Lăo Tissametteyya:

 

***

 

3891. Pabbhārakūṭaṃ nissāya sobhito nāma tāpaso,
pavattaphalaṃ bhuñjitvā vasati pabbatantare.

Ở gần đỉnh của sườn núi, có vị đạo sĩ khổ hạnh tên Sobhita (chỉ) ăn trái cây đă được rụng xuống rồi cư ngụ ở trong vùng đồi núi.

 

3892. Aggiṃ dāruṃ āharitvā ujjālesiṃ ahaṃ tadā,
uttamatthaṃ gavesanto brahmalokūpapattiyā.

Khi ấy, trong lúc tầm cầu mục đích tối thượng về việc đạt đến thế giới Phạm Thiên, tôi đă mang lửa và củi lại rồi đă nhóm lửa.

 

3893. Padumuttaro lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
mamuddharitukāmo so āgacchi mama santike.

Có ư muốn tiếp độ tôi, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara ấy, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă đi đến khu vực của tôi.

 

3894. “Kiṃ karosi mahāpuñña dehi me aggidārukaṃ,
ahamaggiṃ paricare tato me suddhi hehiti.”

Này bậc đại phước, ông đang làm ǵ vậy? Xin ông hăy cho tôi lửa và củi. Tôi (sẽ) chăm sóc ngọn lửa, nhờ đó tôi sẽ có được sự trong sạch.”

 

3895. “Subhaddako tvaṃ manuje devate tvaṃ pajānasi,
tuvamaggiṃ paricara handa te aggidārukaṃ.”

Này người nhân loại, ngài là bậc hiền thiện. Này đấng Thiên nhân, ngài nhận biết rơ. Ngài hăy chăm sóc ngọn lửa, thế th́ lửa và củi của ngài đây.”

 

3896. Tato kaṭṭhaṃ gahetvāna aggiṃ ujjālayī jino,
na tattha kaṭṭhaṃ pajjhāyi pāṭihīraṃ mahesino.

Sau đó, đấng Chiến Thắng đă cầm lấy gỗ củi và đă nhóm lên ngọn lửa. Gỗ củi đă không bốc cháy ở tại nơi ấy, (ấy là) điều kỳ diệu của bậc Đại Ẩn Sĩ.

 

3897. “Na te aggi pajjalati āhutī te na vijjati,
niratthakaṃ vataṃ tuyhaṃ aggiṃ paricarassu me.”

Ngọn lửa của ông không bốc cháy, sự hiến cúng của ông không có, sự hành tŕ của ông là vô nghĩa. Vậy ông hăy chăm sóc ngọn lửa của Ta.”

 

3898. “Kīdiso so mahāvīra aggi tava pavuccati,
mayhampi kathayass’ etaṃ ubho paricarāmase.”

Này vị đại anh hùng, ngọn lửa ấy của ngài được gọi là thuộc loại nào? Xin ngài giảng giải cho tôi luôn, cả hai chúng ta sẽ chăm sóc (ngọn lửa) ấy.”

 

3899. “Hetudhammanirodhāya kilesasamanāya ca,
issā macchariyaṃ hitvā tayo ete mamāhutī.”

Về sự diệt tận các pháp là nhân tố, và về sự tịnh lặng các ô nhiễm, sau khi từ bỏ sự ganh tỵ và bỏn xẻn; ba việc này là sự cúng hiến của Ta.”

 

3900. “Kīdiso tvaṃ mahāvīra kathaṃ gotto ’si mārisa,
ācārapaṭipatti te bāḷhaṃ kho mama ruccati.”

Này vị đại anh hùng, ngài là hạng người như thế nào? Thưa ngài, ngài có ḍng dơi thế nào? Sở hành và cách tu luyện của ngài được tôi thích thú vô cùng.”

 

3901. “Khattiyamhi kule jāto abhiññāpāramiṃ gato,
sabbāsavaparikkhīṇo natthidāni punabbhavo.”

Ta được sanh ra trong gia tộc Sát-đế-lỵ, đă đạt đến sự toàn hảo về thắng trí, đă được cạn kiệt tất cả các lậu hoặc, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.”

 

3902. “Yadi buddhosi sabbaññū pabhaṅkara tamonuda,
namassissāmi taṃ deva dukkhassantakaro tuvaṃ.”

Hỡi đấng Phát Quang, hỡi vị Xua Tan tăm tối, hỡi bậc Thiên Nhân, nếu ngài là đức Phật, đấng Toàn Tri, là bậc Đoạn Tận Khổ Đau, tôi xin đảnh lễ ngài.”

 

3903. Pattharitvā ’jinacammaṃ nisīdanamadāsahaṃ,
nisīda nātha sabbaññu upaṭṭhissāmahaṃ tuvaṃ.

Tôi đă trải ra tấm da dê và đă dâng cúng chỗ ngồi: “Hỡi đấng Bảo Hộ, hỡi bậc Toàn Tri, xin ngài hăy ngồi xuống. Tôi sẽ phục vụ ngài.”

 

3904. Nisīdi bhagavā tattha ajinamhi suvitthate,
nimantayitvā sambuddhaṃ pabbataṃ agamāsahaṃ.

Đức Thế Tôn đă ngồi xuống tại chỗ ấy, trên tấm da dê đă khéo được trải rộng. Sau khi thỉnh mời bậc Toàn Giác, tôi đă đi đến ngọn núi.

 

3905. Khāribhārañca pūretvā tindukaphalamāhariṃ,
madhunā yojayitvāna phalaṃ buddhass’ adāsahaṃ.

Và tôi đă chất đầy gói nặng trái cây tinduka rồi mang về. Tôi đă trộn trái cây với mật ong rồi đă dâng lên đức Phật.

 

3906. Mama nijjhāyamānassa paribhuñji tadā jino,
tattha cittaṃ pasādesiṃ pekkhanto lokanāyakaṃ.

Khi ấy, đấng Chiến Thắng đă thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, trong khi ngắm nh́n bậc Lănh Đạo Thế Gian, tôi đă khiến tâm được tịnh tín.

 

3907. Padumuttaro lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
mam’ assame nisīditvā imā gāthā abhāsatha:

Bậc Thông Suốt Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă ngồi ở khu ẩn cư của tôi và đă nói lên những lời kệ này:

 

3908. “Yo maṃ phalena tappesi pasanno sehi pāṇihi,
tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.

Người nào (với tâm) tịnh tín tự tay ḿnh làm Ta được thỏa măn với trái cây, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

 

3909. Pañcavīsatikkhattuṃ so devarajjaṃ karissati,
sahassakkhattuṃ rājā ca cakkavattī bhavissati.

Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc hai mươi lăm lần, và sẽ trở thành vị Chuyển Luân Vương một ngàn lần.

 

3910. Tassa saṅkappamaññāya pubbakammasamaṅgino,
annaṃ pānañca vatthañca sayanañca mahārahaṃ.

3911. Puññakammena saṃyuttā nibbattissanti tāvade,
sadā pamudito cāyaṃ bhavissati anāmayo.

Được gắn liền với nghiệp phước thiện, cơm ăn, nước uống, vải vóc, và chỗ nằm vô cùng giá trị biết được ư định của người ấy và ngay lập tức sẽ sanh lên cho người ấy là người đă có nghiệp (thiện) trong quá khứ. Và người này sẽ luôn luôn được vui vẻ, không có tật bệnh.

 

3912. Upapajjati yaṃ yoniṃ devattaṃ atha mānusaṃ,
sabbattha sukhito hutvā manussattaṃ gamissati.

Chn nào người y sanh lên, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, người y sẽ được sung sướng khp mi nơi rồi sẽ đi đến bn th nhân loại.

 

3913. Ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṃ vedānapāragū,
sambuddhamupagantvāna arahā so bhavissati.”

Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, người ấy sẽ đi đến với bậc Toàn Giác và sẽ trở thành bậc A-la-hán.”

 

3914. Yato sarāmi attānaṃ yato pattosmi viññutaṃ,
bhoge me ūnatā natthi phaladānassidaṃ phalaṃ.

Từ khi tôi nhớ lại bản thân, từ khi tôi đạt được hiểu biết, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.

 

3915. Varadhammamanuppatto rāgadose samūhaniṃ,
sabbāsavaparikkhīṇo natthidāni punabbhavo.

Tôi đă đạt được Giáo Pháp cao quư, đă tiêu diệt tham ái và sân hận, đă được cạn kiệt tất cả các lậu hoặc, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

3916. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

3917. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

3918. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Tissametteyyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lăo Tissametteyya đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Tissametteyyattherassa apadānaṃ paṭhamam.

Kư sự về trưởng lăo Tissametteyya là phần thứ nhất.

 

--ooOoo--

 

 

402. Puṇṇakattherāpadānaṃ

402. Kư Sự về Trưởng Lăo Puṇṇaka:

 

***

 

3919. Pabbhārakūṭaṃ nissāya sayambhū aparājito,
ābādhiko garu buddho vasati pabbatantare.

Ở gần đỉnh của sườn núi, có đấng Tự Chủ, bậc không bị hàng phục, cư ngụ ở trong vùng đồi núi. Đức Phật đáng kính là bị bệnh.

 

3920. Mama assamasāmantā panādo āsi tāvade,
buddhe nibbāyamānamhi āloko upapajjatha.

Cho đến lúc ấy, đă có tiếng động ở vùng lân cận khu ẩn cư của tôi. Trong khi đức Phật đang Niết Bàn, có ánh sáng đă xuất hiện.

 

3921. Yāvatā vanasaṇḍasmiṃ acchakokataracchakā,
vyagghā ca kesarī sabbe abhigajjiṃsu tāvade.

Từ loài gấu, chó sói, linh cẩu, cọp, và sư tử ở trong cụm rừng cho đến toàn bộ (thú rừng) đă rống lên.

 

3922. Uppātaṃ tamahaṃ disvā pabbataṃ agamāsahaṃ,
tatth’ addasāsiṃ sambuddhaṃ nibbutaṃ aparājitaṃ.

Sau khi nh́n thấy hiện tượng bất thường ấy, tôi đă đi đến ngọn núi. Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy đấng Giác Ngộ, bậc không bị hàng phục, đă Niết Bàn.

 

3923. Suphullaṃ sālarājaṃva sataraṃsiṃva uggataṃ,
vītaccikaṃva aṅgāraṃ nibbutaṃ aparājitaṃ.

Bậc không bị hàng phục đă Niết Bàn ví như là bông sālā chúa đă được nở rộ, tợ như mặt trời đă mọc lên, như là đống than đă tàn ngọn lửa.

 

3924. Tiṇaṃ kaṭṭhañca pūretvā citakaṃ tatth’ akāsahaṃ,
citakaṃ sukataṃ katvā sarīraṃ jhāpayiṃ ahaṃ.

Sau khi gom đầy cỏ và củi, tôi đă thực hiện giàn hỏa thiêu ở tại nơi ấy. Sau khi hoàn tất giàn hỏa thiêu khéo được thực hiện, tôi đă thiêu đốt thi thể.

 

3925. Sarīraṃ jhāpayitvāna gandhatoyaṃ samokiriṃ,
antalikkhe ṭhito yakkho nāmamaggahi tāvade.

Sau khi thiêu đốt thi thể, tôi đă rưới nước thơm. Ngay khi ấy, có con Dạ-xoa đứng ở trên không trung đă đặt tên (cho tôi) rằng:

 

3926. Yaṃ pūritaṃ tayā kiccaṃ sayambhussa mahesino,
puṇṇako nāma nāmena sadā hohi tuvaṃ mune.

Này vị hiền triết, công việc đối với bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Tự Chủ đă được ông làm đầy đủ, vậy ông hăy luôn luôn có tên là Puṇṇaka.”[1]

 

3927. Tamhā kāyā cavitvāna devalokaṃ agacchahaṃ,
tattha dibbamayo gandho antalikkhe pavāyati.

Sau khi chết đi ĺa bỏ thân ấy, tôi đă đi đến thế giới chư Thiên. Tại nơi ấy, có hương thơm bằng chất liệu thuộc cơi trời tỏa ra ở không trung.

 

3928. Tatrāpi nāmadheyyaṃ me puṇṇako’ti ahū tadā,
devabhūto manusso vā saṅkappaṃ pūrayāmahaṃ.

Cũng ở tại nơi đó, khi ấy tên gọi của tôi đă là “Puṇṇaka.” Dầu trở thành vị Thiên nhân hay là loài người, tôi đều làm tṛn đủ ư định (của ḿnh).

 

3929. Idaṃ pacchimakaṃ mayhaṃ carimo vattatī bhavo,
idhāpi puṇṇako nāma nāmadheyyaṃ pakāsati.

Lần sau cùng này của tôi là sự hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Cũng ở nơi đây tên Puṇṇaka được công bố là tên gọi (của tôi).

 

3930. Tosayitvāna sambuddhaṃ gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ,
sabbāsave pariññāya viharāmi anāsavo.

Sau khi đă làm hài ḷng đấng Toàn Giác Gotama, bậc Cao Quư ḍng Sakya, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

3931. Ekanavute ito kappe yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi tanukiccassidaṃ phalaṃ.

Kể từ khi tôi đă thực hiện việc làm ấy cho đến chín mươi mốt kiếp, tôi (đă) không biết đến cơi khổ; điều này là quả báu của công việc (hỏa táng) thi thể.

 

3932. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
sabbāsavā parikkhīṇā viharāmi anāsavo.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

3933. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

3934. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Puṇṇako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lăo Puṇṇaka đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Puṇṇakattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.

Kư sự về trưởng lăo Puṇṇaka là phần thứ hai.

 

--ooOoo--

 

 

403. Mettaguttherāpadānaṃ

403. Kư Sự về Trưởng Lăo Mettagū:

 

***

 

3935. Himavantassa avidūre asoko nāma pabbato,
tatthāsi assamo mayhaṃ vissakammena māpito.

Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Asoka. Tại nơi ấy, khu ẩn cư của tôi đă được hóa hiện ra bởi vị trời Vissakamma.

 

3936. Sumedho nāma sambuddho aggo kāruṇiko muni,
nivāsayitvā pubbanhe piṇḍāya maṃ upāgami.

Bậc Toàn Giác cao cả, đấng Đại Bi, bậc Hiền Triết tên Sumedha vào buổi sáng sau khi mặc y đă đi đến tôi để khất thực.

 

3937. Upāgataṃ mahāvīraṃ sumedhaṃ lokanāyakaṃ,
paggayha sugatappattaṃ sappitelena pūrayiṃ.

Khi bậc Lănh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Sumedha đi đến, tôi đă nhận lănh b́nh bát của đấng Thiện Thệ và đă chứa đầy với bơ lỏng và dầu ăn.

 

3938. Datvānahaṃ buddhaseṭṭhe sumedhe lokanāyake,
añjalimpaggahetvāna bhīyo hāsaṃ janesahaṃ.

Sau khi đă dâng cúng đức Phật tối thượng, bậc Lănh Đạo Thế Gian Sumedha, tôi đă chắp tay lên và đă khởi lên niềm vui dào dạt:

 

3939. “Iminā sappidānena cetanāpaṇidhīhi ca,
devabhūto manusso vā labhāmi vipulaṃ sukhaṃ.

Do sự bố thí bơ lỏng này và do các nguyện lực của tác ư, dầu trở thành vị Thiên nhân hay là loài người, mong sao cho tôi đạt được sự an lạc sung măn.

 

3940. Vinipātaṃ vivajjetvā saṃsarāmi bhavābhave,
tattha cittaṃ paṇidhitvā labhāmi acalaṃ padaṃ.”

Mong sao cho tôi lánh xa chốn đọa đày rồi luân hồi cơi này cơi khác. Mong sao cho tôi khẳng định được tâm về điều ấy và đạt được vị thế không bị lay chuyển.”

 

3941. “Lābhā tuyhaṃ suladdhaṃ te yaṃ maṃ addakkhi brāhmaṇaṃ,
mama dassanamāgamma arahā tvaṃ bhavissasi.

Này người Bà-la-môn, điều lợi ích cho ngươi đă được ngươi đạt thành một cách tốt đẹp, là việc ngươi đă nh́n thấy Ta. Sau khi đi đến gặp Ta, ngươi sẽ trở thành vị A-la-hán.

 

3942. Vissattho hohi mā bhāyi adhigantvā mahāyasaṃ,
mamaṃ hi sappiṃ datvāna parimokkhasi jātiyā.

Sau khi đạt đến thành công lớn, ngươi hăy tự tin, chớ lo sợ. Bởi v́ sau khi bố thí bơ lỏng đến ta, ngươi được hoàn toàn giải thoát khỏi sự (tái) sanh.

 

3943. Iminā sappidānena cetanāpaṇidhīhi ca,
devabhūto manusso vā labhase vipulaṃ sukhaṃ.

Do sự bố thí bơ lỏng này và do các nguyện lực của tác ư, dầu trở thành vị Thiên nhân hay là loài người, ngươi sẽ đạt được sự an lạc sung măn.

 

3944. Iminā sappidānena mettacittavatāya ca,
aṭṭhārase kappasate devaloke ramissasi.

Do sự bố thí bơ lỏng này và do sự hành tŕ tâm từ ái, ngươi sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một ngàn tám trăm kiếp.

 

3945. Aṭṭhatiṃsatikkhattuñca devarājā bhavissasi,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.

Và ngươi sẽ trở thành vị Thiên Vương ba mươi tám lần. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

 

3946. Ekapaññāsakkhattuñca cakkavattī bhavissasi,
cāturanto vijitāvī jambusaṇḍassa issaro.

Và ngươi sẽ trở thành vị Chuyển Luân Vương, là người chinh phục bốn phương, đấng chúa tể của vùng đất Jambu năm mươi mốt lần.

 

3947. Mahāsamuddova ’kkhobho duddharo paṭhavī yathā,
evameva ca te bhogā appameyyā bhavissare.”

Tợ như đại dương là không bị xao động, giống như trái đất là khó mang vác, và tương tợ y như thế của cải thuộc về ngươi sẽ là vô lượng.”

 

3948. Saṭṭhikoṭī hiraññassa cajitvā pabbajiṃ ahaṃ,
kiṃ kusalaṃ gavesanto bāvariṃ upasaṅkamiṃ.

Sau khi từ bỏ sáu mươi koṭi vàng ṛng, tôi đă xuất gia. Trong khi tầm cầu điều tốt đẹp ǵ mà tôi đă đi đến với Bāvarī[2]?

 

3949. Tattha mante adhīyāmi chaḷaṅgaṃ nāma lakkhaṇaṃ,
tamandhakāraṃ vidhamaṃ uppajji tvaṃ mahāmuni.

Tại nơi ấy, tôi học tập các chú thuật và sáu phần về tướng số. “Bạch đấng Đại Hiền Triết,[3] trong khi hủy diệt sự tăm tối ấy Ngài đă hiện khởi.

 

3950. Tava dassanakāmohaṃ āgatomhi mahāmuni,
tava dhammaṃ suṇitvāna patto ’mhi acalaṃ padaṃ.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, có sự ước muốn về việc nh́n thấy Ngài con đă đi đến. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, con đă đạt đến vị thế bất động.”

 

3951. Tiṃsakappasahassamhi sappiṃ buddhass’ adāsahaṃ,
etthantare nābhijāne sappi viññāpitaṃ mayā.

Tôi đă dâng cúng bơ lỏng đến đức Phật trong ba mươi ngàn kiếp. Trong khoảng thời gian ấy, tôi không biết rơ lượng bơ lỏng đă được tôi yêu cầu.

 

3952. Mama saṅkappamaññāya uppajjati yadicchakaṃ,
cittamaññāya nibbattaṃ sabbe santappayāmahaṃ.

Hiểu biết được ư định của tôi (mọi vật) hiện khởi theo như ước muốn, hiểu biết được tâm tư của tôi (mọi vật) đă được sanh lên. Tôi được thỏa măn về mọi thứ.

 

3953. Aho buddho aho dhammo aho no satthusampadā,
thokaṃ hi sappiṃ datvāna appameyyaṃ labhāmahaṃ.

Ôi đức Phật! Ôi Giáo Pháp! Ôi sự thành tựu của bậc Đạo Sư của chúng ta! Bởi v́ sau khi dâng cúng chỉ chút ít bơ lỏng, tôi đạt được vô lượng.

 

3954. Mahāsamudde udakaṃ yāvatā nerupassato,
mama sappiṃ upādāya kalabhāgaṃ na phassati.

Cho đến nước trong đại dương được nh́n thấy từ núi Neru so sánh với bơ lỏng của tôi th́ không chạm đến được phần chia của một góc (bơ lỏng của tôi).

 

3955. Yāvatā cakkavāḷassa kariyantassa rāsito,
mama nibbattavatthānaṃ okāso so na sammati.

Cho đến số lượng của vũ trụ đang được h́nh thành, khoảng không gian ấy không sánh bằng các tấm vải đă được sanh lên cho tôi.

 

3956. Pabbatarājā himavā pavaropi siluccayo,
mamānulittagandhassa upanidhiṃ na hessati.

Núi chúa Hi-mă-lạp cũng chính là ngọn núi hàng đầu sẽ không là sự so sánh đối với vật thơm đă được thoa cho tôi.

 

3957. Vatthaṃ gandhañca sappiñca aññañca diṭṭhadhammikaṃ,
asaṅkhatañca nibbānaṃ sappidānassidaṃ phalaṃ.

Vải vóc, vật thơm, bơ lỏng, thức ăn, và Niết Bàn không c̣n tạo tác trong kiếp hiện tại này; điều này là quả báu của việc dâng cúng bơ lỏng.

 

3958. Satipaṭṭhānasayano samādhijhānagocaro,
bojjhaṅgabhojano ajja sappidānassidaṃ phalaṃ.

(Tôi có được) sự trú vào các thiết lập niệm, có hành xứ về thiền định, có sự thọ hưởng các chi phần giác ngộ ở ngày hôm nay; điều này là quả báu của việc dâng cúng bơ lỏng.

 

3959. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
sabbāsavā parikkhīṇā viharāmi anāsavo.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

3960. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

3961. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Mettagutthero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lăo Mettagū[4] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Mettaguttherassa apadānaṃ tatiyaṃ.

Kư sự về trưởng lăo Mettagū là phần thứ ba.

 

--ooOoo--

 

 

404. Dhotakattherāpadānaṃ

404. Kư Sự về Trưởng Lăo Dhotaka:

 

***
 

3962. Gaṅgā bhāgīrathī nāma himavantā pabhāvitā,
haṃsavatiyā dvārena anusandati tāvade.

Sông Gaṅgā có tên là Bhāgīrathī được xuất phát từ núi Hi-mă-lạp, lúc bấy giờ chảy dọc theo cửa khẩu của (thành phố) Haṃsavatī.

 

3963. Sobhito nāma ārāmo gaṅgākūle sumāpito,
tattha padumuttaro buddho vasate lokanāyako.

Tu viện tên là Sobhita đă khéo được tạo lập ở cạnh bờ sông Gaṅgā. Đức Phật, Padumuttara, đấng Lănh Đạo Thế Gian, cư ngụ tại nơi ấy.

 

3964. Tidasehi yathā indo manujehi purakkhato,
nisīdi tattha bhagavā asambhīto ’va kesarī.

Như là vị (Chúa Trời) Inda với chư Thiên cơi Đạo Lợi, đức Thế Tôn đă ngồi xuống ở tại nơi ấy phía trước đám người tợ như con sư tử không bị hăi sợ.

 

3965. Nagare haṃsavatiyā vasāmi brāhmaṇo ahaṃ,
chaḷaṅgo nāma nāmena evannāmo mahāmuni.

Tôi là Bà-la-môn sống ở thành phố Haṃsavatī có tên là Chaḷaṅga. Tôi là vị đại hiền triết có tên như thế.

 

3966. Aṭṭhārasasissasatā parivārenti maṃ tadā,
tehi sissehi samito gaṅgātīraṃ upāgamiṃ.

Khi ấy, có một ngàn tám trăm người theo tôi. Được tháp tùng bởi những người học tṛ ấy, tôi đă đi đến bờ sông Gaṅgā.

 

3967. Tatthaddasāsiṃ samaṇe nikkuhe dhotapāpake,
bhāgīrathiṃ tarantehaṃ evaṃ cintesi tāvade.

Tại nơi ấy, tôi đă nh́n thấy các vị sa-môn không giả dối, có các tội lỗi đă được gội rửa, đang băng qua sông Bhāgīrathī. Tôi đă tức thời suy nghĩ như vầy:

 

3968. “Sāyaṃ pātaṃ tarantā ’me buddhaputtā mahāyasā,
vihesayanti attānaṃ tesaṃ attā vihaññati.

Những người con trai có danh tiếng lớn lao này của đức Phật trong khi sáng chiều băng qua (sông) khiến bản thân bị khó khăn, bản thân của họ bị hành hạ.

 

3969. Sadevakassa lokassa buddho aggo pavuccati.
natthi me dakkhiṇe kāraṃ gatimaggavisodhanaṃ.

Đức Phật được gọi là vị Cao Cả của thế gian luôn cả chư Thiên. Ta không có hành động về sự cúng dường là việc làm trong sạch con đường đi đến các cảnh giới tái sanh.

 

3970. Yannūna buddhaseṭṭhassa setuṃ gaṅgāya kāraye,
kārāpetvā imaṃ kammaṃ santarāmi imaṃ bhavaṃ.”

Hay là ta nên cho thực hiện cây cầu ở sông Gaṅgā (dâng) đến đức Phật Tối Thượng? Sau khi cho thực hiện việc làm này, ta (sẽ) vượt qua sự hiện hữu này.”

 

3971. Satasahassaṃ datvāna setuṃ kārāpayiṃ ahaṃ,
saddahanto “kataṃ kāraṃ vipulaṃ me bhavissati.”

Trong khi tin tưởng rằng: “Hành động được làm sẽ có (kết quả) dồi dào cho ta,” tôi đă bố thí một trăm ngàn và đă cho xây dựng cây cầu.

 

3972. Kārāpetvāna taṃ setuṃ upesiṃ lokanāyakaṃ,
sirasi añjaliṃ katvā idaṃ vacanamabraviṃ.

Sau khi đă cho xây dựng cây cầu ấy, tôi đă đi đến đấng Lănh Đạo Thế Gian. Sau khi chắp tay lên ở đầu, tôi đă nói lời nói này:

 

3973. “Satasahassassa vayaṃ katvā kārāpito mayā,
tavatthāya mahāsetu paṭigaṇha mahāmuni.”

Bạch đấng Đại Hiền Triết, cây cầu lớn này đă được làm hết một trăm ngàn và đă được con bảo làm v́ lợi ích của Ngài, xin Ngài thọ lănh.”

 

3974. Padumuttaro lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
bhikkhusaṅghe nisīditvā imā gāthā abhāsatha:

Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă ngồi xuống nơi hội chúng tỳ khưu và đă nói lên những lời kệ này:

 

3975. “Yo me setuṃ akāresi pasanno sehi pāṇihi,

tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.

Người nào được tịnh tín đă bảo thực hiện cây cầu cho Ta với các bàn tay của ḿnh, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

 

3976. Darito pabbatāto vā rukkhāto patitop’ ayaṃ,
cutopi lacchati ṭhānaṃ setudānassidaṃ phalaṃ.

Dẫu cho bị rơi xuống từ vực thẳm, từ ngọn núi, hoặc từ thân cây, thậm chí bị chết đi, người này sẽ đạt được vị thế; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.

 

3977. Virūḷhamūlasantānaṃ nigrodhamiva māluto,

amittā nappasahanti setudānassidaṃ phalaṃ.

Các kẻ thù không áp chế được, ví như cơn gió không áp chế được cây đa có mạng rễ đă được phát triển; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.

 

3978. Nāssa corā pasahanti nātimaññanti khattiyā,
sabbe tarissatāmitte setudānassidaṃ phalaṃ.

Các kẻ cướp không áp chế người này, các vị Sát-đế-lỵ không khinh bỉ, người này thoát khỏi tất cả kẻ thù; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.

 

3979. Abbhokāsagataṃ santaṃ kaṭhinātapatāpitaṃ,
puññakammena saṃyuttaṃ na bhavissanti vedanā.

Khi hiện diện ở ngoài trời (và) bị thiêu đốt bởi sức nóng dữ dội, (do) được gắn liền với nghiệp phước thiện, các cảm thọ sẽ không có.

 

3980. Devaloke manusse vā hatthiyānaṃ sunimmitaṃ,
tassa saṅkappamaññāya nibbattissati tāvade.

Ở thế giới chư Thiên hoặc ở loài người, sau khi biết được ư định của người ấy, phương tiện di chuyển bằng voi sẽ được hóa hiện ra, sẽ được tạo ra ngay lập tức.

 

3981. Sahassassā vātajavā sindhavā sīghavāhanā,
sāyaṃ pātaṃ upessanti setudānassidaṃ phalaṃ.

Một ngàn con ngựa giống Sindhu có tốc độ của gió là phương tiện di chuyển nhanh chóng sẽ đi đến sáng chiều; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.

 

3982. Āgantvāna manussattaṃ sukhito ’yaṃ bhavissati,
ihāpi manujasseva hatthiyānaṃ bhavissati.

Sau khi đi đến bản thể nhân loại, người này sẽ được sung sướng. Ngay cả ở đây cũng sẽ có phương tiện di chuyển bằng voi cho chính con người ấy.

 

3983. Kappasatasahassamhi okkākakulasambhavo,
gotamo nāma nāmena satthā loke bhavissati.

Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

3984. Tassa dhammesu dāyādo oraso dhammanimmito,
sabbāsave pariññāya nibbāyissat’ anāsavo.”

(Người này) là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn không c̣n lậu hoặc.”

 

3985. Aho me sukataṃ kammaṃ jalajuttamanāmake,
tattha kāraṃ karitvāna patto ’haṃ āsavakkhayaṃ.

Ôi, việc làm đă được khéo thực hiện bởi tôi đến vị (Phật) tên Padumuttara. Sau khi thực hiện việc tôn kính đến vị ấy, tôi đă đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc.

 

3986. Padhānapahitattomhi upasanto nirūpadhi,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Tôi đă ra sức tinh tấn, được an tịnh, không c̣n mầm mống tái sanh. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

3987. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

3988. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đă được cạn kiệt, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

3989. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Dhotako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lăo Dhotaka[5] đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Dhotakattherassa apadānaṃ catutthaṃ.

Kư sự về trưởng lăo Dhotaka là phần thứ tư.

 

--ooOoo--

 

 

405. Upasivattherāpadānaṃ

405. Kư Sự về Trưởng Lăo Upasiva:

 

***

 

3990. Himavantassa avidūre anomo nāma pabbato,
assamo sukato mayhaṃ paṇṇasālā sumāpitā.

Ở không xa núi Hi-mă-lạp, có ngọn núi tên là Anoma, có khu ẩn cư của tôi đă khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đă khéo được tạo lập.

 

3991. Nadī ca sandatī tattha supatitthā manoramā,
anupatitthe jāyantī padumuppalakā bahū.

Và con sông chảy qua nơi ấy có bến nước cạn xinh xắn làm thích ư. Và dọc theo bến nước cạn ấy, có nhiều sen hồng sen xanh mọc lên.

 

3992. Pāṭhīnā pāvusā macchā valajā muñjarohitā,
macchakacchapasañchannā nadikā sandate sadā.

Có các loài cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, và cá rohita. Ḍng sông chứa đầy dẫy những cá và rùa luôn luôn trôi chảy.

 

3993. Timirā pupphitā tattha asokā khuddamālakā,
punnāgā giripunnāgā sampavanti mamassamaṃ.

Ở nơi ấy, các loài hoa timira, hoa asoka, hoa khuddamālaka, hoa nguyệt quế, hoa nguyệt quế núi được nở rộ hoa, tỏa hương khu ẩn cư của tôi.

 

3994. Kūṭajā pupphitā tattha tiṇasūlavanāni ca,
sālā ca salalā tattha campakā pupphitā bahū.

Ở nơi ấy, loài hoa kūṭaja và các rừng hoa nhài được nở rộ hoa. Ở nơi ấy, có nhiều cây sālā, cây salala, và cây campaka được nở rộ hoa.

 

3995. Ajjunā atimuttā ca mahānāmā ca pupphitā,
asanā madhugandhī ca pupphitā te mamassame.

Các loài cây ajjuna, cây atimutta, và cây mahānāma được nở rộ hoa, và loài cây asana có hương thơm ngọt ngào, chúng nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi.

 

3996. Uddālakā pāṭalikā yūthikā ca piyaṅgukā,
bimbijālakasañchannā samantā aḍḍhayojanaṃ.

Các loại cây uddālaka, cây pāṭalika, cây yūthika, cây piyaṅguka, và cây bimbijālaka bao phủ ở xung quanh nửa do-tuần.

 

3997. Mātaṅgavā sattaliyo pāṭalī sinduvārakā,
aṅkolakā bahū tattha tālakūṭā ca pupphitā.

Ở nơi ấy, có nhiều loại cây mātaṅgava, cây sattali, cây pāṭalī, cây sinduvāraka, cây aṅkolaka,cây tālakūṭa được nở rộ hoa.

 

3998. Seleyyakā bahū tattha pupphitā mama assame,
etesu pupphamānesu sobhanti pādapā bahū,
samantā tena gandhena vāyate mama assamo.

Ở nơi ấy, có nhiều cây cánh kiến trắng nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi. Trong khi những cây này đang nở rộ hoa, nhiều cây trở nên rực rỡ. Khu ẩn cư của tôi tỏa ra với hương thơm ấy ở xung quanh.

 

3999. Harītakā āmalakā ambā jambū vibhīṭakā,
kolā bhallātakā billā phārusakaphalāni ca.

Và có những loại trái cây ngọt như trái harītaka, trái āmalaka, trái xoài, trái mận đỏ, trái vibhīṭaka, trái táo, trái bhallātaka, và trái billa.

 

4000. Tindukā ca piyālā ca madhukā kāsumāriyo,
labujā panasā tattha kadalī badarīphalā.

Và ở nơi ấy có những loại trái cây như trái tinduka, trái piyāla, trái cam thảo, trái kāsumārī, trái mít, trái sa-kê, trái chuối, trái badarī.

 

4001. Ambāṭakā bahū tattha vallikāraphalāni ca,
bījapūrasapāriyo phalitā mama assame.

Ở nơi ấy, có nhiều trái cây ambāṭaka và trái cây vallikāra. Các cây bījapūra và cây sapāriya được kết trái ở khu ẩn cư của tôi.

 

4002. Āḷakā isimuggā ca tato modaphalā bahū,
avaṭā pakkabharitā pilakkhudumbarāni ca.

Từ nơi ấy có nhiều trái cây như trái āḷaka, trái isimugga, và trái moda bao phủ, được chín tới và trĩu nặng. Và có các trái cây như trái vả và trái sung .

 

4003. Pipphalī maricā tattha nigrodhā ca kapitthanā,
udumbarakā bahavo kaṇḍapakkā ca pāriyo.

Ở nơi ấy, có nhiều trái ớt, trái tiêu, trái đa, trái táo rừng, trái sung, và trái pāriya đă chín một phần.

 

4004. Ete caññe ca bahavo phalitā assame mama,
puppharukkhāpi bahavo pupphitā mama assame.

Và có nhiều loại cây này và loại cây khác đă được kết trái ở khu ẩn cư của tôi. Cũng có nhiều cây có bông hoa đă được đơm hoa ở khu ẩn cư của tôi.

 

4005. Āluvā ca kaḷambā ca bilālī takkalāni ca,
ālakā tālakā ceva vijjanti assame mama.

Các loài thảo mộc như là āluva, kaḷamba, bilālī, takkala, ālaka, luôn cả tālaka đều được t́m thấy ở khu ẩn cư của tôi.

 

4006. Assamassāvidūre me mahājātassaro ahu,
acchodako sītajalo supatittho manoramo.

Ở không xa khu ẩn cư của tôi đă có hồ nước thiên nhiên rộng lớn, có nước trong, có nước mát, có bến nước cạn xinh xắn, làm thích ư.

 

4007. Padumuppalā bahū tattha puṇḍarīkasamāyutā,
mandālakehi sañchannā nānāgandhasameritā.

Ở nơi ấy, có nhiều sen hồng, sen xanh, kết hợp với sen trắng, được che phủ bởi những cây mạn-đà-la, tỏa ra với nhiều hương thơm khác loại.

 

4008. Gabbhaṃ gaṇhanti padumā aññe pupphanti kesarī,
opupphapattā tiṭṭhanti padumakaṇṇikā bahū.

Có những đóa sen hồng đang tượng h́nh, các đóa hoa khác nở hoa có tua nhụy, có nhiều đóa có các cánh hoa rủ xuống trở thành những gương sen.

 

4009. Madhu bhisamhā savati khīraṃ sappi mulāḷibhi,
samantā tena gandhena nānāgandhasameritā.

Có mật tiết ra từ củ sen, có sữa và bơ lỏng từ các rễ và ngó sen, chúng tỏa ra nhiều hương thơm khác loại cùng với hương thơm ấy ở xung quanh.

 

4010. Kumudā ambagandhī ca nayitā dissare bahū,
jātassarassānukūlaṃ ketakā pupphitā bahū.

Có nhiều bông súng trắng và mùi thơm của xoài thoảng qua được nhận biết. Ở kế bờ hồ nước thiên nhiên, có nhiều cây dứa hoang được đơm bông.

 

4011. Suphullā bandhujīvā ca setavārī sugandhikā,
kumbhīlā suṃsumārā ca gahakā tattha jāyare.

Có các cây bandhujīva khéo nở rộ hoa và các cây setavārī có hương thơm ngát. Có các con cá sấu loại kumbhīla, loại suṃsumāra, và loại gahaka được sanh ra ở tại nơi ấy.

 

4012. Uggāhakā ajagarā tattha jātassare bahū,
pāṭhīnā pāvusā macchā valajā muñjarohitā.

Có nhiều măng xà là loài thú kiếm mồi trong hồ nước thiên nhiên ở tại nơi ấy. Và có các loài cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, và cá rohita.

 

4013. Macchakacchapasañchannā atho pampaṭakehi ca,
pārevatā ravihaṃsā kukutthā ca nadīcarā.

Có đầy dẫy các loài cá, các con rùa, và các con rái cá nữa. Và có các chim bồ câu, các con ngỗng trời, các con gà rừng, và các loài sống ở sông.

 

4014. Dindibhā cakkavākā ca campakā jīvajīvakā,
kalandakā ukkusā ca senakā uddharā bahū.

Có nhiều chim le le, ngỗng đỏ, chim campaka, chim jīvajīvaka, loài sóc, chim ưng, chim diều hâu, và chim uddhara.

 

4015. Koṭṭhakā sukapotā ca kulīrā camarā bahū,
kāreṇiyo ca tilakā upajīvanti taṃ saraṃ.

Có nhiều chim koṭṭhaka, chim sukapota, loài cua, loài ḅ rừng, loài thú kāreṇī, và loài thú tilaka sống nương nhờ hồ nước ấy.

 

4016. Sīhā vyagghā ca dīpī ca acchakokataracchakā,
vānarā kinnarā ceva dissanti mama assame.

Các con sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, linh cẩu, các loài khỉ, và luôn loài cả kim-sỉ-điểu được nh́n thấy ở khu ẩn cư của tôi.

 

4017. Tāni gandhāṇi ghāyanto bhakkhayanto phalānahaṃ,
gandhodakaṃ pivanto ca vasāmi mama assame.

Trong khi ngửi các hương thơm ấy, trong khi ăn các thứ trái cây, và trong khi uống nước có hương thơm, tôi sống ở khu ẩn cư của tôi.

 

4018. Eṇimigā varāhā ca pasadā khuddarūpakā,
aggikā jotikā ceva vasanti mama assame.

Có các con sơn dương, nai, heo rừng, hươu, các con thú nhỏ như là loài côn trùng, và luôn cả các con đom đóm có ánh sáng sống ở khu ẩn cư của tôi.

 

4019. Haṃsā koñcā mayūrā ca sāḷikā pi ca kokilā,
mañjarikā bahū tattha kosikā poṭṭhasīsakā.

Ở nơi ấy có nhiều chim thiên nga, chim c̣, chim công, chim cu, chim sáo, chim mañjarikā, chim cú mèo, và chim gơ kiến.

 

4020. Pisācā dānavā ceva kumbhaṇḍā rakkhasā bahū,
garuḷā pannagā ceva vasanti mama assame.

Có nhiều loài yêu tinh, loài a-tu-la, và luôn cả loài quỉ sứ, loài dạ-xoa, loài nhân điểu, và luôn cả các loài ḅ sát sống ở khu ẩn cư của tôi.

 

4021. Mahānubhāvā isayo santacittā samāhitā,

kamaṇḍaludharā sabbe ajinuttaravāsanā,
te jaṭābhārabharitā vasanti mama assame.

Có nhiều vị ẩn sĩ có đại oai lực, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, tất cả đều mang bầu nước, khoác lên tấm da dê, các vị mang búi tóc rối ấy sống ở khu ẩn cư của tôi.

 

4022. Yugamattañca pekkhantā nipakā santavuttino,
lābhālābhena santuṭṭhā vasanti mama assame.

Và (các vị ấy) nh́n với khoảng cách của cán cày, thận trọng, có hành vi thanh tịnh, hài ḷng với việc có hay không có, sống ở khu ẩn cư của tôi.

 

4023. Vākacīraṃ dhunantā te phoṭentā ’jinacammakaṃ,
sabalehi upatthaddhā gacchanti ambare sadā.

Được hỗ trợ bởi các năng lực của chính ḿnh, các vị ấy luôn luôn di chuyển ở không trung (vừa đi) vừa phất phơ bộ y phục vỏ cây vừa kềm giữ tấm y da dê.

 

4024. Na te dakaṃ āharanti kaṭṭhaṃ vā aggidārukaṃ,
sayañca upasampannā pāṭihīrassidaṃ phalaṃ.

Các vị ấy không mang theo nước, củi gỗ, hoặc củi nhóm lửa, và các vị ấy đă đạt được tự chính ḿnh, điều này là quả báu của phép kỳ diệu.

 

4025. Lohadoṇiṃ gahetvāna vanamajjhe vasanti te,
kuñjarāva mahānāgā asambhītāva kesarī.

Sau khi nhận lấy cái máng bằng kim loại, các vị ấy sống ở giữa rừng ví như con voi ḍng long tượng, tợ như con sư tử không bị hăi sợ.

 

4026. Aññe gacchanti goyānaṃ aññe pubbavidehakaṃ,
aññe ca uttarakuruṃ sakaṃ balamavassitā,
tato piṇḍaṃ āharitvā paribhuñjanti ekato.

Một số vị đi đến Tây Ngưu Hóa Châu, một số vị khác đi đến Đông Thắng Thần Châu, và một số vị khác đi đến Bắc Câu Lưu Châu tùy theo năng lực của tự thân. Sau khi mang lại vật thực từ các nơi ấy, các vị thọ thực chung.

 

4027. Sabbesaṃ pakkamantānaṃ uggatejāna tādinaṃ,
ajinacammasaddena vanaṃ saddāyate tadā.

Khi ấy, trong lúc tất cả các vị có oai lực nổi bật như thế ấy đang ra đi, khu rừng được rộn rịp bởi âm thanh bộ y bằng da dê của (các vị).

 

4028. Edisā te mahāvīra sissā uggatapā mama,
parivuto ahaṃ tehi vasāmi mama assame.

Bạch đấng Đại Hiền Triết, các vị như thế ấy là những người học tṛ có sự khổ hạnh nổi bậc của con. Được tùy tùng bởi các vị ấy, con sống ở khu ẩn cư của con.

 

4029. Tositā sakakammena vinītāpi samāgatā,
ārādhayiṃsu maṃ ete sakakammābhilāsino,
sīlavanto ca nipakā appamaññāsu kovidā.

Được hoan h vi nghip qu ca bản thân, đă được huấn luyn nữa, đă cùng nhau t hi, có s mong mi v nghip báu của bản thân, có gii hnh, cn trọng, rành rẽ v các pháp vô lượng tâm, các v này đă làm con hài ḷng.”

.

4030. Padumuttaro lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
samayaṃ saṃviditvāna upagacchi vināyako.

Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Hướng Đạo sau khi nhận biết thời điểm đă đi đến.

 

4031. Upagantvāna sambuddho ātāpī nipako muni,
pattaṃ paggayha sambuddho bhikkhāya mamupāgami.

Sau khi đi đến, đấng Toàn Giác, bậc Hiền Triết, vị có sự tinh cần, cẩn trọng, đă ôm lấy b́nh bát, rồi đấng Toàn Giác đă đến gần tôi để khất thực.

 

4032. Upāgataṃ mahāvīraṃ jalajuttamanāyakaṃ,
tiṇasantharaṃ paññapetvā sālapupphehi okiriṃ.

Khi đấng Đại Hùng, bậc Lănh Đạo Padumuttara đă đi đến, tôi đă sắp xếp tấm thảm cỏ và đă rải rắc bằng các bông hoa sālā.

 

4033. Nisīdetvāna sambuddhaṃ haṭṭho saṃviggamānaso,
khippaṃ pabbatamāruyha agaruṃ aggahiṃ ahaṃ.

Tôi đă thỉnh đấng Toàn Giác ngồi xuống. Được mừng rỡ, có tâm ư bị chấn động, tôi đă mau chóng leo lên ngọn núi và đă thâu nhặt gỗ trầm hương.

 

4034. Kumbhamattaṃ gahetvāna panasaṃ devagandhikaṃ,
khandhe āropayitvāna upagacchiṃ vināyakaṃ.

Sau khi đă hái trái mít có kích thước của bầu nước, có hương thơm cơi trời, tôi đă đặt ở trên vai rồi đă đi đến gần đấng Hướng Đạo.

 

4035. Phalaṃ buddhassa datvāna agaruṃ anulimpahaṃ,
pasannacitto sumano buddhaseṭṭhaṃ avandahaṃ.

Sau khi đă dâng trái cây đến đức Phật, tôi đă thoa trầm hương. Với tâm tịnh tín, với ư vui mừng, tôi đă đảnh lễ đức Phật tối thượng.

 

4036. Padumuttaro lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
isimajjhe nisīditvā imā gāthā abhāsatha.

Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đă ngồi xuống ở giữa những vị ẩn sĩ và đă nói những lời kệ này:

 

4037. “Yo me phalañca agaruṃ āsanañca adāsi me,
tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.

Người nào đă dâng cúng trái cây, trầm hương, và chỗ ngồi đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hăy lắng nghe Ta nói.

 

4038. Gāme vā yadi vāraññe pabbhāresu guhāsu vā,
imassa cittamaññāya nibbattissati bhojanaṃ.

Cho du làng hoc rng, các sườn núi hoc các hang động, sau khi biết được tâm ca người này vt thc sẽ được hin ra.

 

4039. Devaloke manusse vā upapanno ayaṃ naro,
bhojanehi ca vatthehi parisaṃ tappayissati.

Được sanh lên ở thế gii chư Thiên hoc loài người, người nam này sẽ làm thỏa măn nhóm tùy tùng vi các thc ăn và với các loại vi vóc.

 

4040. Upapajjati yaṃ yoniṃ devattaṃ atha mānusaṃ,
akkhobhabhogo hutvāna saṃsarissat’ ayaṃ naro.

Chốn nào được sanh lên là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, sau khi có được của cải không bị suy suyển, người nam này s luân hi.

 

4041. Tiṃsa kappasahassāni devaloke ramissati,
sahassakkhattuṃ rājā ca cakkavattī bhavissati.

Người này ssướng vui thế gii chư Thiên trong ba chc ngàn kiếp, và s tr thành v Chuyển Luân Vương mt ngàn ln.

 

4042. Ekasattatikkhattuñca devarajjaṃ karissati,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṃkhiyaṃ.

Và người này s cai qun Thiên quốc by mươi mt ln. Vương quyền về lănh thổ là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

 

4043. Kappasatasahassamhi okkākakulasambhavo,
gotamo nāma nāmena satthā loke bhavissati.

Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

4044. Tassa dhammesu dāyādo oraso dhammanimmito,
sabbāsave pariññāya viharissat’ anāsavo.”

(Người này) là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ sống không c̣n lậu hoặc.”

 

4045. Suladdhalābho laddho me yo ’haṃ addakkhiṃ nāyakaṃ,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă nhận lănh điều lợi ích đă được đạt thành một cách tốt đẹp là việc tôi đă nh́n thấy đấng Lănh Đạo. Tôi đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

4046. Gāme vā yadi vāraññe pabbhāresu guhāsu vā,
mama saṅkappamaññāya bhojanaṃ hoti me sadā.

Cho dầu ở làng hoặc ở rừng, ở các sườn núi hoặc ở các hang động, sau khi biết được tâm của tôi vật thực luôn luôn hiện đến cho tôi.

 

4047. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

4048. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

4049. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Upasivo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lăo Upasiva đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Upasivattherassa apadānaṃ pañcamaṃ.

Kư sự về trưởng lăo Upasiva là phần thứ năm.

 

--ooOoo--

 

 

406. Nandakattherāpadānaṃ

406. Kư Sự về Trưởng Lăo Nandaka:

 

***

 

4050. Migaluddo pure āsiṃ araññe kānane ahaṃ,
pasadaṃ migamesanto sayambhuṃ addasaṃ jinaṃ.

Trong thời quá khứ, tôi đă là thợ săn thú rừng ở trong rừng hoang rừng rậm. Trong lúc t́m kiếm thú rừng là loài nai, tôi đă nh́n thấy đấng Chiến Thắng, bậc Tự Chủ.

 

4051. Anuruddho nāma sambuddho sayambhū aparājito,
vivekakāmo so dhīro vanamajjhogahī tadā.

Bậc Toàn Giác, đấng Tự Chủ, bậc không bị hàng phục tên là Anuruddha. Khi ấy, có ước muốn ẩn dật, bậc sáng suốt ấy đă đi sâu vào trong khu rừng.

 

4052. Catudaṇḍe gahetvāna catuṭṭhāne ṭhapesahaṃ,
maṇḍapaṃ sukataṃ katvā padmapupphehi chādayiṃ.

Tôi đă cầm lấy bốn cây gậy rồi đă đặt ở bốn vị trí. Sau khi thực hiện mái che đă được làm khéo léo, tôi đă phủ lên bằng những đóa hoa sen.

 

4053. Maṇḍapaṃ chādayitvāna sayambhuṃ abhivādayiṃ,
dhanuṃ tattheva nikkhippa pabbajiṃ anagāriyaṃ.

Sau khi đă lợp xong mái che, tôi đă đảnh lễ đấng Tự Chủ. Tôi đă quăng bỏ cây cung ngay tại chỗ ấy và đă xuất gia vào cuộc sống không gia đ́nh.

 

4054. Pabbajitassa aciraṃ vyādhi me upapajjatha,
pubbakammaṃ saritvāna tattha kālakato ahaṃ.

Được xuất gia không bao lâu, bệnh tật đă khởi lên cho tôi. Tôi đă nhớ lại việc làm trước đây rồi đă qua đời ở tại nơi ấy.

 

4055. Pubbakammena saṃyutto tusitaṃ agamāsahaṃ,
tattha soṇṇamayaṃ vyamhaṃ nibbattati yadicchakaṃ.

Được gắn liền với nghiệp trước đây, tôi đă đi đến cơi trời Đẩu Suất. Ở tại nơi ấy, có cung điện bằng vàng được tạo ra theo như ước muốn.

 

4056. Sahassayuttahayavāhiṃ dibbayānamadhiṭṭhito,
āruhitvāna taṃ yānaṃ gacchāmahaṃ yadicchakaṃ.

Tôi đă chú nguyện về phương tiện di chuyển ở cơi trời là chiếc xe đă được buộc vào một ngàn con ngựa. Sau khi bước lên chiếc xe ấy, tôi ra đi theo như ước muốn.

 

4057. Tato me nīyamānassa devabhūtassa me sato,
samantā yojanasataṃ maṇḍapo me dharīyati.

Từ đó, trong khi tôi ở bản thể Thiên nhân và trong khi tôi được đưa đi, có chiếc lọng được che cho tôi ở xung quanh một trăm do-tuần.

 

4058. Sayane ’haṃ tuvaṭṭāmi accantaṃ pupphasanthate,
antaḷikkhā ca padumā vassanti niccakālikaṃ.

Tôi nằm ở cái giường thường xuyên được lót bằng bông hoa. Và có các đóa hoa sen từ trên không trung liên tục rơi xuống.

 

4059. Marīcike phandamāne tappamāne ca ātape,
na maṃ tāpeti ātāpo maṇḍapassa idaṃ phalaṃ.

Khi ảo ảnh (ở mắt) đang lung linh và sức nóng đang thiêu đốt, sức nóng đă không làm tôi bị nóng bức; điều này là quả báu của mái che.

 

4060. Duggatiṃ samatikkanto apāyā pihitā mama,
maṇḍape rukkhamūle vā santāpo me na vijjati.

Trong khi vượt qua khổ cảnh, các địa ngục đă đóng lại đối với tôi. Ở dưới mái che hoặc ở dưới cội cây, tôi không biết đến sự nóng bức.

 

4061. Mahīsaññaṃ adhiṭṭhāya loṇatoyaṃ tarāmahaṃ,
tassa me sukataṃ kammaṃ buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.

Sau khi chú nguyện sự niệm tưởng về đất, tôi băng qua nước biển mặn, việc làm của tôi đây đă được thực hiện tốt đẹp; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

 

4062. Apathampi pathaṃ katvā gacchāmi anilañjase,
aho me sukataṃ kammaṃ buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.

Thậm chí không có con đường, tôi tạo ra con đường, tôi đi bằng đường không trung. Ôi việc làm của tôi đă được thực hiện tốt đẹp; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

 

4063. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
āsavā me parikkhīṇā buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.

Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhăn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc của tôi đă được cạn kiệt; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

 

4064. Jahitā purimā jāti buddhassa oraso ahaṃ,
dāyādo ’mhi ca saddhamme buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.

Cuộc sống trước đây đă được buông bỏ, tôi là tỳ khưu của đức Phật, và là người thừa tự Chánh Pháp; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

 

4065. Ārādhito ’mhi sugataṃ gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ,
dhammaddhajo dhammadāyādo buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.

Tôi đă làm hài ḷng đấng Thiện Thệ Gotama, bậc Cao Quư của ḍng Sakya. Tôi là ngọn cờ của Giáo Pháp, là người thừa tự Giáo Pháp; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

 

4066. Upaṭṭhitvāna sambuddhaṃ gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ,
pāraṅgamaniyaṃ maggaṃ apucchiṃ lokanāyakaṃ.

Tôi đă hầu cận đấng Toàn Giác Gotama bậc Cao Quư của ḍng Sakya và đă hỏi đấng Lănh Đạo Thế Gian về Đạo Lộ đi đến bờ kia.

 

4067. Ajjhiṭṭho kathayī buddho gambhīraṃ nipuṇaṃ padaṃ,
tassāhaṃ dhammaṃ sutvāna pattomhi āsavakkhayaṃ.

Được yêu cầu, đức Phật đă thuyết giảng về Đạo Lộ thâm sâu vi tế. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, tôi đă đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc.

 

4068. Aho me sukataṃ kammaṃ parimuttomhi jātiyā,
sabbāsavaparikkhīṇo natthidāni punabbhavo.

Ôi việc làm của tôi đă được thực hiện tốt đẹp! Tôi đă được giải thoát khỏi sự sanh, đă được cạn kiệt tất cả các lậu hoặc, giờ đây không c̣n tái sanh nữa.

 

4069. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgo ’va bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavo.

Các phiền năo của tôi đă được thiêu đốt, tất cả các hữu đă được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đă được cởi trói), tôi sống không c̣n lậu hoặc.

 

4070. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đă thành công mỹ măn, đă thành tựu tam minh, đă thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

4071. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đă đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đă thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Nandako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lăo Nandaka đă nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Nandakattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.

Kư sự về trưởng lăo Nandaka là phần thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

 

407. Hemakattherāpadānaṃ

407. Kư Sự về Trưởng Lăo Hemaka:

 

***

 

4072. Pabbhārakūṭaṃ nissāya anomo nāma tāpaso,
assamaṃ sukataṃ katvā paṇṇasāle vasī tadā.

Vào lúc bấy giờ, có vị đạo sĩ khổ hạnh tên là Anoma đă tạo lập khu ẩn cư được xây dựng khéo léo ở không xa đỉnh của sườn núi và đă sống ở gian nhà rộng bằng lá.

 

4073. Siddhaṃ tassa tapokammaṃ siddhipatto sake bale,
sakasāmaññavikkanto ātāpī nipako muni.

Sự thực hành khổ hạnh của vị ấy đă được thành tựu. Được đạt đến sự thành tựu về các năng lực của bản thân, vị hiền triết tinh cần, cẩn trọng, đang tiến đến bản thể sa-môn cho chính ḿnh.

 

4074. Visārado sasamaye paravāde ca kovido,
paṭṭho bhūmantalikkhamhi uppātamhi ca kovido.

(Vị ấy) tự tin ở giáo lư của ḿnh và rành rẽ về học thuyết của người khác, được nổi tiếng ở trên trời dưới đất và rành rẽ về điềm báo hiệu.

 

4075. Vītasoko nirārambho appāhāro alolupo,
lābhālābhena santuṭṭho jhāyī jhānarato muni.

Vị hiền triết không c̣n sầu muộn, không giết hại, không đánh đập, không tham lam, hài ḷng với việc có hay không có, chứng thiền, thỏa thích về thiền.

 

4076. Piyadassī nāma sambuddho aggo kāruṇiko muni,
satte tāretukāmo so karuṇāya pharī tadā.

Bậc Toàn Giác cao cả, đấng Bi Mẫn, bậc Hiền Triết tên Piyadassī, có ước muốn giúp cho chúng sanh vượt qua, khi ấy Ngài đă tỏa khắp với tâm bi mẫn.

 

4077. Bodhaneyyaṃ janaṃ disvā piyadassī mahāmuni,
cakkavāḷasahassampi gantvā ovadate muni.

Sau khi nh́n thấy người có khả năng giác ngộ, bậc Đại Hiền Triết Piyadassī vẫn đi cho dầu một ngàn vũ trụ, và bậc Hiền Triết giáo giới (người ấy).

 

4078. Mamuddharitukāmo so mamassamamupāgami,
na diṭṭho me jino pubbe na suto pi ca kassaci.

Có ư muốn tiếp độ tôi, Ngài đă đi đến khu ẩn cư của tôi. Tôi chưa từng nh́n thấy đấng Chiến Thắng trước đây, và cũng chưa từng được nghe từ bất cứ ai.

 

4079. Uppātā supinā mayhaṃ lakkhaṇā suppakāsitā,
paṭṭho bhūmantalikkhamhi nakkhattapadakovido.

Các điềm báo hiệu, các mộng mị, các tướng mạo đối với tôi là được hiểu biết rơ ràng. Tôi được nổi tiếng ở trên trời dưới đất và rành rẽ về các v́ tinh tú.

 

4080. So ’haṃ buddhassa sutvāna tattha cittaṃ pasādayiṃ,
bhuñjanto vā nisinno vā sarāmi niccakālikaṃ.

Tại đó, tôi đây đă sau kh lắng nghe đức Phật và đă làm cho tâm được tịnh tín. Trong khi ăn hoặc trong khi ngồi xuống, tôi thường xuyên nhớ lại.

 

4081. Mayi evaṃ sarantamhi bhagavāpi anussari,
buddhaṃ anussarantassa pīti me hoti tāvade.

Khi tôi nhớ lại như vậy, đức Thế Tôn cũng đă tưởng đến. Trong khi niệm tưởng về đức Phật, tôi có được phỉ lạc ngay lập tức.

 

4082. Kālañca punarāgamma upesi maṃ mahāmuni,
sampattepi na jānāmi ayaṃ buddho mahāmuni.

Và lại xảy đến lần khác nữa, bậc Đại Hiền Triết đă đi đến gần tôi. Tôi cũng không biết về người đă đi đến: “Vị này là đức Phật, bậc Đại Hiền Triết.”

 

4083. Anukampako kāruṇiko piyadassī mahāmuni,
sañjānāpesi attānaṃ ahaṃ buddho sadevake.

Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, bậc Đại Hiền Triết Piyadassī đă tỏ rơ về bản thân rằng: “Ta là đức Phật (ở thế gian) luôn cả chư Thiên.”

 

4084. Sañjānitvāna sambuddhaṃ piyadassiṃ mahāmuniṃ
sakaṃ cittaṃ pasādetvā idaṃ vacanamabraviṃ:

Sau khi nhận ra đấng Toàn Giác, bậc Đại Hiền Triết Piyadassī, tôi đă làm cho tâm của chính ḿnh được tịnh tín rồi đă nói lời nói này:

 

4085. “Aññe pīṭhe ca pallaṅke āsandīsu nisīdare,
tuvampi sabbadassāvī nisīda ratanāsane.”

Những người khác tự ngồi xuống ở ghế đẩu, ghế dài, và các ghế dựa. C̣n ngài là đấng Toàn Tri, xin ngài hăy ngồi xuống chỗ ngồi bằng châu báu.”

 

4086. Sabbaratanamayaṃ pīṭhaṃ nimminitvāna tāvade,
piyadassissa munino adāsiṃ iddhinimmitaṃ.

Ngay khi ấy, tôi đă hóa hiện ra chiếc ghế đẩu toàn bộ làm bằng châu báu và đă dâng lên bậc Hiền Triết Piyadassī (chiếc ghế) đă được hóa hiện ra bằng thần thông.

 

4087. Ratane ca nisinnassa pīṭhake iddhinimmite,
kumbhamattaṃ jambuphalaṃ adāsiṃ tāvade ahaṃ.

Khi Ngài đă ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu bằng châu báu đă được hóa hiện ra bằng thần thông, tôi đă tức thời dâng trái mận đỏ cp1 kích thước bằng bầu nước đến Ngài.

 

4088. Mama hāsaṃ janetvāna paribhuñji mahāmuni,
tadā cittaṃ pasādetvā satthāramabhivādayiṃ.

Sau khi làm cho tôi sanh khởi nụ cười, bậc Đại Hiền Triết