|
II. SĪHĀSANADĀYAKAVAGGO |
II. PHẨM SĪHĀSANADĀYAKA: |
|
11. Sīhāsanadāyakattherāpadānaṃ |
11. Ký Sự về Trưởng Lão Sīhāsanadāyaka: |
|
674. Nibbute
lokanāthamhi siddhatthe dipaduttame, |
674. Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân Siddhattha Niết Bàn, khi Phật Ngôn đã được lan rộng, khi Giáo Pháp đã được nhiều người hiểu biết. |
|
675. Pasannacitto sumano sīhāsanamakās’
ahaṃ, |
675. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã thực hiện bảo tọa sư tử. Sau khi làm xong bảo tọa sư tử, tôi đã thực hiện ghế kê chân. |
|
676. Sīhāsane ca vassante gharaṃ tattha
akās’ ahaṃ, |
676. Và khi trời mưa ở bảo tọa sư tử, tôi đã xây dựng ngôi nhà ở tại nơi ấy. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã được sanh lên cõi trời Đẩu Suất. |
|
677. Āyamena catubbīsayojanaṃ āsi tāvade,
|
677. Ngay lập tức đã có cung điện được kiến tạo khéo léo dành cho tôi dài hai mươi bốn do-tuần, rộng mười bốn do-tuần. |
|
678. Sataṃ kaññāsahassāni parivārenti maṃ
sadā, |
678. Có một trăm ngàn thiếu nữ luôn luôn vây quanh tôi. Và có chiếc ghế bành làm bằng vàng đã khéo được hóa hiện ra ở tòa lâu đài. |
|
679. Hatthiyānaṃ assayānaṃ dibbayānaṃ
upaṭṭhitaṃ, |
679. Phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, phương tiện di chuyển của cõi trời được sẵn sàng. Các tòa lâu đài và luôn cả các kiệu khiêng đều dược sanh lên theo như ước muốn. |
|
680. Maṇimayā ca pallaṅkā aññe sāramayā bahū, |
680. Có các chiếc ghế bành làm bằng ngọc ma-ni và nhiều chiếc khác làm bằng lõi gỗ, tất cả được sanh lên cho tôi; điều này là quả báu của bảo tọa sư tử. |
|
681. Soṇṇamayā rūpimayā phaḷikā
veḷuriyāmayā, |
681. Tôi bước lên những đôi giày làm bằng vàng, làm bằng bạc, làm bằng pha-lê và ngọc bích; điều này là quả báu của chiếc ghế kê chân. |
|
682. Catunavute ito kappe yaṃ kammamakariṃ
tadā, |
682. Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện. |
|
683. Tesattatimhito kappe indanāmā tayo
janā, |
683. Trước đây bảy mươi ba kiếp, đã có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương[1] tên Inda. Trước đây bảy mươi hai kiếp, đã có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương tên Sumana. |
|
684. Samasattatimhito kappe tayo varuṇanāmakā, sattaratanasampannā catudīpamhi issarā. |
684. Trước đây đúng bảy mươi kiếp, đã có ba lần làm đấng Chuyển Luân Vương tên Varuṇa, được thành tựu bảy loại báu vật, là chúa tể ở bốn châu lục. |
|
685. Paṭisambhidā catasso ca ―pe― kataṃ buddhassa sāsanaṃ. |
685. Bốn (tuệ) phân tích, ...(như trên)... đã thực hành lời dạy của đức Phật. |
|
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Sīhāsanadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti. |
Đại đức trưởng lão Sīhāsanadāyaka[2] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. |
|
Sīhāsanadāyakattherāpadānaṃ paṭhamaṃ. |
Ký sự về trưởng lão Sīhāsanadāyaka là phần thứ nhất. |
|
--ooOoo-- |
--ooOoo-- |
|
12. Ekatthambhikattherāpadānaṃ |
12. Ký Sự về Trưởng Lão Ekatthambhika: |
|
686. Siddhatthassa bhagavato mahāpūgagaṇo
ahu, |
686. Đức Thế Tôn Siddhattha đã có hội chúng cư sĩ đông đảo. Những người ấy đã đi đến nương nhờ vào đức Phật, họ đặt niềm tin vào đức Như Lai. |
|
687. Sabbe
saṅgamma mantetvā māḷaṃ kubbanti satthuno, |
687. Tất cả đã tụ hội lại, bàn bạc, rồi xây dựng hội trường dành cho bậc Đạo Sư. Không có được một cây cột trụ, họ tìm kiếm ở khu rừng bạt ngàn. |
|
688. Tehaṃ araññe disvāna upagamma gaṇaṃ
tadā, |
688. Khi ấy, tôi đã nhìn thấy bọn họ ở trong rừng và đã đi đến gần đám đông. Sau khi chắp tay lên, tôi đã hỏi đám đông. |
|
689. Te me puṭṭhā viyākaṃsu sīlavanto
upāsakā, |
689. Được tôi hỏi, những người cư sĩ có giới hạnh ấy đã trả lời rằng: “Chúng tôi có ý định xây dựng hội trường nhưng không có được một cây cột trụ.” |
|
690. “Ekatthambhaṃ mamaṃ detha ahaṃ
dassāmi satthuno, |
690. “Xin các vị hãy giao cho tôi, tôi sẽ dâng đến bậc Đạo Sư một cột trụ. Tôi sẽ mang cột trụ đến, các vị không phải bận tâm.” |
|
691. Te me thambhaṃ pavecchiṃsu pasannā
tuṭṭhamānasā, |
691. Họ đã xem xét cây cột trụ của tôi, và đã được tin tưởng với tâm ý hớn hở. Sau đó, họ đã quay trở lại và đã đi về nhà của mình. |
|
692. Aciraṃ gate pūgagaṇe thambhaṃ adās’ ahaṃ tadā, |
692. Khi ấy, lúc đám đông cư sĩ ra đi không lâu, tôi đã dâng cúng cây cột trụ. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã dựng đứng cây cột trụ trước tiên. |
|
693. Tena cittappasādena vimānaṃ upapajj’
ahaṃ, |
693. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã được sanh lên cõi trời. Có cung điện cao ráo dành cho tôi, được vươn cao một trăm tầng lầu. |
|
694. Vajjamānāsu bherīsu paricārem’ ahaṃ
tadā, |
694. Khi ấy, trong lúc những cái trống lớn được vỗ vang lên, tôi luôn luôn bảo người hầu hạ. (Trước đây) năm mươi lăm kiếp, tôi đã là đức vua Yasodhara. |
|
695. Tatthāpi bhavanaṃ mayhaṃ satabhūmaṃ samuggataṃ, |
695. Ở tại nơi ấy, dành cho tôi cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu, được kề cận nhà mái nhọn cao quý, và có một cây cột trụ thích ý. |
|
696. Ekavīsatikappamhi udeno nāma
khattiyo, |
696. (Trước đây) hai mươi mốt kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Udena. Ở tại nơi ấy, cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu dành cho tôi. |
|
697. Yaṃ yaṃ yon’ uppajjāmi devattaṃ atha
mānusaṃ, |
697. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều thọ hưởng mọi sự an lạc; điều này là quả báu của một cây cột trụ. |
|
698. Catunavute ito kappe yaṃ
thambhamadadiṃ tadā, |
698. Kể từ khi tôi đã dâng cúng cây cột trụ trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một cây cột trụ. |
|
699.
Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime, |
699. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. |
|
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekatthambhiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti. |
Đại đức trưởng lão Ekatthambhika[3] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. |
|
Ekatthambhikattherāpadānaṃ dutiyaṃ. |
Ký sự về trưởng lão Ekatthambhika là phần thứ nhì. |
|
--ooOoo-- |
--ooOoo-- |
|
13. Nandattherāpadānaṃ |
13. Ký Sự về Trưởng Lão Nanda: |
|
700. Padumattarassa bhagavato
lokajeṭṭhassa tādino, |
700. Tấm vải sợi lanh đã được tôi dâng đến đức Thế Tôn Padumuttara, đấng Tự Chủ, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy. |
|
701. Taṃ me buddho viyākāsi
jalajuttaranāmako, |
701. Đức Phật Padumuttara đã chú nguyện đến tôi đây rằng: “Với sự dâng cúng tấm vải này, ngươi sẽ có được màu da vàng chói. |
|
702. Dve sampattī anubhotvā kusalamūlehi
codito, |
702. Được thúc đẩy bởi các nhân tố trong sạch, sau khi thọ hưởng hai sự thành tựu (Trời và người), ngươi sẽ trở thành người em trai của đức Thế Tôn Gotama. |
|
703. Rāgaratto sukhasīlo kāmesu gedhamāyuto, |
703. Là người say mê ái dục, thiên về khoái lạc, bám víu vào sự tham đắm trong các dục. Khi ấy, bị thúc đẩy bởi đức Phật, ngươi sẽ xuất gia. |
|
704. Pabbajitvāna tvaṃ tattha kusalamūlena
codito, |
704. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, ngươi sẽ xuất gia ở tại nơi ấy, sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.” |
|
705. Satakappasahassamhi caturo celanāmakā, |
705. (Trước đây) một trăm ngàn kiếp đã có bốn vị (Chuyển Luân Vương) tên là Cela. (Trước đây) sáu mươi ngàn kiếp đã có bốn người (là Chuyển Luân Vương) tên là Upacela. |
|
706. Pañcakappasahassamhi celāva caturo
janā, |
706. (Trước đây) năm mươi ngàn kiếp đã có bốn người (là Chuyển Luân Vương) tên cũng là Cela, được thành tựu bảy loại báu vật, là chúa tể ở bốn châu lục. |
|
707. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca
aṭṭhime, |
707. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. |
|
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Nando thero imā
gāthāyo abhāsitthāti. |
Đại đức trưởng lão Nanda[4] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. |
|
Nandattherassa apadānaṃ tatiyaṃ. |
Ký sự về trưởng lão Nanda là phần thứ ba. |
|
--ooOoo-- |
--ooOoo-- |
|
14. Cullapanthakattherāpadānaṃ |
14. Ký Sự về Trưởng Lão Cullapanthaka: |
|
708. Padumuttaro nāma jino āhutīnaṃ
paṭiggaho, |
708. Lúc bấy giờ, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã tách lìa khỏi đám đông, và Ngài đã cư ngụ ở núi Hi-mã-lạp. |
|
709. Ahampi himavantamhi vasāmi assame
tadā, |
709. Khi ấy, tôi cũng sống ở khu ẩn cư tại núi Hi-mã-lạp. Khi đấng Anh Hùng ngự đến không bao lâu, tôi đã đi đến gặp đấng Lãnh Đạo Thế Gian. |
|
710. Pupphacchattaṃ gahetvāna upagacchiṃ
narāsabhaṃ, |
710. Tôi đã cầm lấy chiếc lọng che bằng bông hoa và đã đi đến gần đấng Nhân Ngưu trong lúc Ngài đang nhập định, tôi đã tạo ra sự khuấy rối. |
|
711. Ubhohatthehi paggayha pupphachattaṃ adās’ ahaṃ, |
711. Tôi nâng lên chiếc lọng che bằng bông hoa bằng cả hai bàn tay và đã dâng lên. Đức Thế Tôn, bậc Đại Hiền Trí Padumuttara đã thọ nhận. |
|
712. Sabbe devā attamanā himavantaṃ upenti
te, |
712. Tất cả chư Thiên có tâm hoan hỷ, các vị ấy đi đến núi Hi-mã-lạp. Các vị đã thể hiện hành động tán thưởng (nói rằng): “Bậc Hữu Nhãn sẽ nói lời tùy hỷ.” |
|
713. Idaṃ vatvāna te devā upagacchuṃ naruttamaṃ, |
713. Nói xong điều này, chư Thiên ấy đã đi đến gần bậc Tối Thượng Nhân trong lúc Ngài đang ở trên không trung cầm lấy chiếc lọng bằng hoa sen hồng thượng hạng của tôi. (Đức Phật đã nói rằng): |
|
714. Satapattachattaṃ paggayha adāsi
tāpaso mamaṃ, |
714. “Vị đạo sĩ khổ hạnh đã nâng lên chiếc lọng có một trăm cánh sen và đã dâng cúng đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói. |
|
715. Pañcavīsati kappāni devarajjaṃ
karissati, |
715. (Người ấy) sẽ cai quản Thiên quốc hai mươi lăm kiếp và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ba mươi bốn lần. |
|
716. Yaṃ yaṃ yoniṃ saṃsarati devattaṃ atha
mānusaṃ, |
716. (Người ấy) luân hồi đến chốn nào, là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, khi (người ấy) đứng ở bên ngoài trời sẽ có đóa hoa sen hồng che chở (cho vị ấy). |
|
717. Kappasatasahassamhi
okkākakulasambhavo, |
717. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. |
|
718. Pakāsite pāvacane manussattaṃ
labhissati, |
718. Khi Phật Ngôn được công bố, (người ấy) sẽ đạt được bản thể nhân loại và sẽ trở thành vị giỏi nhất về (biến hóa) thân được tạo ra bởi ý. |
|
719. Dve bhātaro bhavissanti ubhopi panthakavhayā, |
719. Sẽ có hai người anh em trai. Các hai đều có tên là Panthaka. Sau khi thọ hưởng mục đích tối thượng, cả hai sẽ làm sáng chói Giáo Pháp.” |
|
720. So ’haṃ aṭṭhārasavasso pabbajiṃ
anagāriyaṃ, |
720. Được mười tám tuổi, tôi đây đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi không đạt được điều gì xuất sắc ở trong Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya. |
|
721. Dandhā mayhaṃ gatī āsi paribhūto pure ahuṃ, |
721. Bản chất của tôi đã là đần độn, trước đây tôi đã bị khi dễ. Và người anh trai đã xua đuổi tôi rằng: “Bây giờ ngươi hãy đi về nhà của mình đi.” |
|
722. So ’haṃ panāmito santo saṅghārāmassa
koṭṭhake, |
722. Trong khi bị xua đuổi ở tại cổng ra vào của tu viện thuộc về Hội Chúng, với tâm ý rầu rĩ tôi đây đã đứng tại nơi ấy với niềm ao ước về bản thể Sa-môn. |
|
723. Bhagavā tattha āgañchi sīsaṃ mayhaṃ
parāmasi, |
723. Đức Thế Tôn đã đi đến nơi ấy. Ngài đã xoa đầu tôi. Sau khi nắm lấy cánh tay của tôi, Ngài đã dẫn tôi đi vào tu viện thuộc về Hội Chúng. |
|
724. Anukampāya me satthā adāsi
pādapuñchaniṃ, |
724. Với lòng thương tưởng, bậc Đạo Sư đã đưa cho tôi miếng giẻ chùi chân (và nói rằng): “Ngươi hãy đứng sang một bên và hãy khéo chú nguyện cho được trong sạch như vầy.” |
|
725. Hatthehi tamahaṃ gayha sariṃ
kokanadaṃ ahaṃ, |
725. Sau khi cầm lấy vật ấy bằng hai bàn tay, tôi đã nhớ lại đóa sen hồng. Tại nơi ấy tâm của tôi đã được giải thoát, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. |
|
726. Manomayesu kāyesu sabbattha
pāramiṅgato, |
726. Tôi đã đạt đến sự toàn hảo về mọi phương diện trong việc (biến hóa) các thân được tạo ra bởi ý. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, (người này) sẽ Niết Bàn, không còn lậu hoặc. |
|
727. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca
aṭṭhime, |
727. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. |
|
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Cullapanthako thero imā gāthāyo abhāsitthāti. |
Đại đức trưởng lão Cullapanthaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. |
|
Cullapanthakattherassa apadānaṃ catutthaṃ. |
Ký sự về trưởng lão Cullapanthaka là phần thứ tư. |
|
--ooOoo-- |
--ooOoo-- |
|
15. Piḷindivacchattherāpadānaṃ |
15. Ký Sự về Trưởng Lão Piḷindivaccha: |
|
728. Nibbute lokanāthamhi sumedhe
aggapuggale, |
728. Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian nhân vật cao cả đã Niết Bàn, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã thể hiện sự cúng dường đến ngôi bảo tháp. |
|
729. Ye ca khīṇāsavā tattha chaḷabhiññā
mahiddhikā, |
729. Và ở tại nơi ấy, các vị nào là bậc Lậu Tận, có sáu thắng trí, có đại thần lực, tôi đã triệu tập các vị ấy lại ở nơi ấy và đã thực hiện bữa trai phạn đến Hội Chúng. |
|
730. Sumedhassa bhagavato upaṭṭhāko tadā
ahu, |
730. Lúc bấy giờ, vị thị giả của đức Thế Tôn Sumedha tên là Sumodha đã hiện diện. Khi ấy, vị ấy đã nói lời tùy hỷ. |
|
731. Tena cittappasādena vimānaṃ
upapajjahaṃ, |
731. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh về Thiên cung. Tám mươi sáu ngàn tiên nữ đã cùng tôi vui sướng. |
|
732. Mameva anuvattanti sabbakāmehi tā
sadā, |
732. Các nàng ấy luôn luôn phục tòng chỉ mình tôi bằng mọi thứ dục lạc, tôi vượt trội các vị Thiên nhân khác; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện. |
|
733. Pañcavīsatikappamhi varuṇo nāma
khattiyo, |
733. Vào kiếp thứ hai mươi lăm, tôi đã là vị Sát-đế-lỵ tên Varuṇa. Khi ấy, tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương có vật thực vô cùng tinh khiết. |
|
734. Na te bījaṃ pavapanti napi nīyanti
naṅgalā, |
734. Dân chúng không gieo hạt giống, cũng không theo sau lưỡi cày, họ thọ dụng gạo sāli này không phải cày không phải nấu. |
|
735. Tattha rajjaṃ karitvāna devattaṃ puna
gacch’ ahaṃ, |
735. Sau khi trị vì vương quốc tại nơi ấy, tôi đã đi đến bản thể Thiên nhân lần nữa. Khi ấy, cũng giống như tôi họ đã được tái sanh, có sự đầy đủ về của cải. |
|
736. Na maṃ mittā amittā vā hiṃsanti
sabbapāṇino, |
736. Tất cả sanh linh, là bạn hay không phải là bạn, đều không hãm hại tôi. Thậm chí tôi được tất cả yêu quý; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện. |
|
737. Tiṃsakappasahassamhi yaṃ dānamadadiṃ tadā, |
737. Kể từ khi tôi đã cúng dường vật thí trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc thoa vật thơm (ở ngôi bảo tháp). |
|
738. Imasmiṃ bhaddake kappe eko āsiṃ
janādhipo, |
738. Ở vào kiếp Bhadda này, tôi đã là vị thống lãnh dân chúng độc nhất, là đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực, có sức mạnh lớn lao. |
|
739. So ’haṃ pañcasu sīlesu ṭhapetvā janataṃ bahuṃ, |
739. Tôi đây đã an trú nhiều người vào các giới cấm và còn giúp cho họ đạt đến nhàn cảnh nữa, tôi đã được chư Thiên yêu quý. |
|
740. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca
aṭṭhime, |
740. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. |
|
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Piḷindivaccho thero imā gāthāyo abhāsitthāti. |
Đại đức trưởng lão Piḷindivaccha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. |
|
Piḷindivacchattherassa apadānaṃ pañcamaṃ. |
Ký sự về trưởng lão Piḷindivaccha là phần thứ năm. |
|
--ooOoo-- |
--ooOoo-- |
|
16. Rāhulattherāpadānaṃ |
16. Ký Sự về Trưởng Lão Rāhula: |
|
741. Padumuttarassa
bhagavato lokajeṭṭhassa tādino, |
741. Tôi đã lắp đặt gương soi ở tòa lâu đài bảy tầng của đức Thế Tôn Padumuttara là bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy. |
|
742.
Khīṇāsavasahassehi parikiṇṇo mahāmuni, |
742. Được tùy tùng bởi một ngàn bậc Vô Lậu, bậc Đại Hiền Trí, đấng Chúa Tể của loài người, bậc Nhân Ngưu đã đi đến hương thất. |
|
743. Virocento
gandhakuṭiṃ devadevo narāsabho, |
743. Trong lúc làm cho hương thất chiếu sáng, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu, bậc Đạo Sư đứng nơi hội chúng tỳ khưu đã nói lên những lời kệ này: |
|
744. Yenāyaṃ
jotitā seyyā ādāso ca susanthato, |
744. “Nhờ người nào chỗ ngụ này được chiếu sáng và gương soi đã khéo được lắp đặt, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói. |
|
745. Soṇṇamayā
rūpimayā atho veḷuriyāmayā, |
745. Các tấm gương làm bằng vàng, làm bằng bạc, và làm bằng ngọc bích và bất cứ những gì được yêu quý ở trong tâm sẽ được hiện ra. |
|
746.
Catusaṭṭhikkhattuṃ devindo devarajjaṃ karissati, |
746. Người ấy sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc sáu mươi bốn lần, và kế tiếp đó sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần. |
|
747.
Ekavīsatikappamhi vimalo nāma khattiyo,
|
747. Vào kiếp thứ hai mươi mốt, (người ấy) sẽ là vị Sát-đế-lỵ tên Vimala, sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương là người chinh phục bốn phương. |
|
748. Nagaraṃ
reṇuvatī nāma iṭṭhakāhi sumāpitaṃ, |
748. Thành phố tên Reṇuvatī đã được tạo nên bằng các viên gạch, được kiến trúc dạng hình vuông trải dài ba trăm do-tuần. |
|
749. Sudassano nāma
pāsādo vissakammena nimmito,
|
749. Có tòa lâu đài tên Sudassana đã được hóa hiện ra bởi vị Trời Vissakamma, có các nhà mái nhọn cao quý được điểm tô bằng bảy loại châu báu.
|
|
750. Dasa saddā
avivittaṃ vijjādharasamākulaṃ, |
750. Được nhộn nhịp với mười loại âm thanh, được đông đảo các nhà pháp thuật, (thành phố này) sẽ là tương tợ như thành phố Sudassana của chư Thiên. |
|
751. Pabhā
niggacchate tassa uggacchanteva sūriye, |
751. Ánh sáng của thành phố ấy phát ra ngay trong khi mặt trời đang mọc, và luôn luôn chiếu sáng thành phố ấy tám do-tuần ở xung quanh. |
|
752.
Kappasatasahassamhi okkākakulasambhavo, |
752. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. |
|
753. Tusitā so
cavitvāna sukkamūlena codito, |
753. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mệnh chung từ cõi trời Đẩu Suất, người ấy sẽ trở thành con trai của đức Thế Tôn Gotama. |
|
754. Sace
vaseyy’ āgāraṃ cakkavattī bhaveyya so, |
754. Nếu sống tại gia, người ấy có thể trở thành đấng Chuyển Luân Vương. Việc con người như thế ấy đi đến sự vui sướng trong đời sống tại gia là không có cơ sở. |
|
755.
Nikkhamitvā agāramhā pabbajissati subbato, |
755. Sau khi lìa khỏi gia đình, người ấy có tên là Rāhula, sẽ xuất gia, có sự hành trì tốt đẹp, và sẽ trở thành vị A-la-hán.” |
|
756. Kikīva aṇḍaṃ
rakkheyya camarī viya vāladhiṃ,
|
756. Bạch đấng Đại Hiền Triết, giống như loài chim kikī bảo vệ trứng, giống như loài bò mộng bảo vệ cái đuôi, con cẩn trọng, được tròn đủ về giới, con đã hộ trì như vậy. |
|
757. Tassāhaṃ
dhammamaññāya vihāsiṃ sāsane rato, |
757. Sau khi hiểu được Giáo Pháp của Ngài, tôi đã sống vui sướng trong Giáo Pháp. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
|
|
758. Paṭisambhidā catasso ca ―pe― kataṃ buddhassa sāsanaṃ. |
758. Bốn (tuệ) phân tích, ...(như trên)...; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. |
|
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Rāhulo thero imā gāthāyo abhāsitthāti. |
Đại đức trưởng lão Rāhula đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. |
|
Rāhulattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ. |
Ký sự về trưởng lão Rāhula là phần thứ sáu. |
|
--ooOoo-- |
--ooOoo-- |
[1] Câu kệ này và câu kế được ghi theo Chú Giải (ApA. 312).
[2] Sīhāsanadāyaka ngh ĩa là “vị dâng cúng bảo tọa (āsana) sư tử (sīha), Pháp tọa.”
[3] Ekatthambhika ngh ĩa là “vị liên quan đến một (eka) cây cột trụ (thambha).”
[4] Nanda là người em trai cùng cha (đức vua Suddhodana) khác mẹ (con bà Mahāpajāpati Gotamī) của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).