6. Upālittherāpadānaṃ

6. Ký Sự về Trưởng Lão Upāli:

   

446. Nagare haṃsavatiyā sujāto nāma brāhmaṇo,
asītikoṭinicayo pahūtadhanadhaññavā.

446. Ở thành phố Haṃsavatī, vị Bà-la-môn tên Sujāta có sự tích lũy tám mươi koṭi, có dồi dào tài sản và lúa gạo.

447. Ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṃ vedāna pāragū,
lakkhaṇe itihāse ca sadhamme pāramiṃ gato.

447. Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, đã đạt đến sự toàn hảo về (khoa) tướng mạo, về truyền thống, và về giáo lý (của Bà-la-môn).

448. Paribbājā ekasikhā gotamā buddhasāvakā,
carakā tāpasā ceva caranti mahiyā tadā.

448. Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo có một ngọn lửa, các Thinh Văn của đức Phật Gotama, các vị lang thang, và cả các đạo sĩ khổ hạnh du hành ở trái đất.

449. Tepi maṃ parivārenti brāhmaṇo vissuto iti,
bahujjano maṃ pūjeti nāhaṃ pūjemi kañcanaṃ.

449. Bọn họ cũng tháp tùng theo tôi (cho rằng): ‘Vị Bà-la-môn nổi tiếng.’ Nhiều người tôn vinh tôi, tôi không tôn vinh bất cứ người nào.

450. Pūjārahaṃ na passāmi mānatthaddho ahaṃ tadā,
buddhoti vacanaṃ natthi tāva nuppajjate jino.

 

450. Tôi không nhìn thấy bậc xứng đáng sự tôn vinh, khi ấy tôi là ngã mạn và ương ngạnh. Cho đến khi đấng Chiến Thắng còn chưa xuất hiện thì không có sự thốt lên về: ‘Đức Phật.’

451. Accayena ahorattā padumuttaranāyako,
sabbaṃ tamaṃ vinodetvā loke uppajji cakkhumā.

451. Bao ngày đêm trôi qua, đấng Lãnh Đạo Padumuttara, bậc Hữu Nhãn, sau khi xua đi tất cả tăm tối, đã xuất hiện ở thế gian.

452. Vitthārino bāhujaññe puthubhūte ca sāsane,
upāgami tadā buddho nagaraṃ haṃsasavhayaṃ.

452. Vào lúc Giáo Pháp được phổ biến rộng rãi, được biết nhiều, và trở thành phổ thông, khi ấy đức Phật đã đi đến đến thành phố tên Haṃsa.

453. Pitu atthāya so buddho dhammaṃ desesi cakkhumā,
tena kālena parisā samantā yojanaṃ tadā.

453. Khi ấy, vì lợi ích của người cha, đức Phật bậc Hữu Nhãn ấy đã thuyết giảng Giáo Pháp. Vào thời điểm ấy, đám đông ở xung quanh là một do-tuần.

454. Sammato manujānaṃ so sunando nāma tāpaso,
yāvatā buddhaparisā puppheh’ acchādayī tadā.

454. Khi ấy, được thỏa thuận trong số mọi người, vị đạo sĩ khổ hạnh tên Sunanda ấy đã che phủ hết thảy hội chúng của đức Phật bằng những bông hoa.

455. Catusaccaṃ pakāsente seṭṭhe ca pupphamaṇḍape,
koṭisatasahassānaṃ dhammābhisamayo ahu.

455. Và trong khi bậc Tối Thượng đang công bố bốn Sự Thật ở nơi mái che bằng bông hoa, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của một trăm ngàn koṭi người.

456. Sattarattindivaṃ buddho vassetvā dhammavuṭṭhiyo,
aṭṭhame divase patte sunandaṃ kittayī jino.

456. Đức Phật đã đổ mưa những cơn mưa Giáo Pháp trong bảy ngày đêm. Khi đạt đến ngày thứ tám, đấng Chiến Thắng đã tán dương vị Sunanda rằng:

457. “Devaloke manusse vā saṃsaranto ayaṃ bhave,
sabbesaṃ pavaro hutvā bhavesu saṃsarissati.

457. “Người này trong khi luân hồi ở cõi hữu, dầu ở thế giới chư Thiên hay loài người, sẽ trở thành bậc ưu tú trong số tất cả và sẽ luân hồi ở các cõi.

458. Kappasatasahassamhi okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.

458. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

459. Tassa dhammesu dāyādo oraso dhammanimmito,
mantāniputto puṇṇoti hessati satthusāvako.”

459. (Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Puṇṇo Mantāniputta.”

460. Evaṃ kittayi sambuddho sunandaṃ tāpasaṃ tadā,
hāsayanto janaṃ sabbaṃ dassayanto sakaṃ balaṃ.

460. Lúc bấy giờ, trong khi làm cho tất cả dân chúng vui mừng, trong khi thị hiện năng lực của chính mình, bậc Toàn Giác đã tán dương đạo sĩ khổ hạnh Sunanda như thế.

461. Katañjalī namassanti sunandaṃ tāpasaṃ janā,
buddhe kāraṃ karitvāna sodhesi gatimattano.

461. Dân chúng chắp tay lễ bái vị đạo sĩ khổ hạnh Sunanda (nghĩ rằng): “Sau khi thể hiện sự tôn kính đến đức Phật, vị ấy đã làm trong sạch cảnh giới tái sanh của bản thân.”

462. Tattha me ahu saṅkappo sutvāna munino vacaṃ,
ahampi kāraṃ kassāmi yathā passāmi gotamaṃ.

462. Tại nơi ấy, sau khi lắng nghe lời nói của bậc Hiền Trí, tôi đã có sự suy tư rằng: “Ta cũng sẽ thể hiện sự tôn kính giống như ta nhìn thấy vị Gotama.”

463. Evāhaṃ cintayitvāna kiriyaṃ cintayiṃ mamaṃ,
kyāhaṃ kammaṃ ācarāmi puññakkhette anuttare?

463. Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã suy nghĩ về hành động của tôi rằng: “Ta sẽ thực hành việc làm gì ở Phước Điền vô thượng?

464. Ayañca pāṭhiko bhikkhu sabbapāṭhīna sāsane,
vinaye ca agganikkhitto taṃ ṭhānaṃ patthayiṃ ahaṃ.

464. Và vị tỳ khưu này là vị trì tụng trong số tất cả các vị trì tụng trong Giáo Pháp, và đã được chọn lựa là vị đứng đầu về Luật. Tôi đã ước nguyện vị thế ấy.

465. Idaṃ me amitaṃ bhogaṃ akkhobhaṃ sāgarūpamaṃ,
tena bhogena buddhassa ārāmaṃ māpayiṃ ahaṃ.

465. Tài sản này của tôi là vô lượng, không thể bị xao động tợ như biển cả. Với của cải ấy tôi đã cho xây dựng tu viện dành cho đức Phật.

466. Sobhanaṃ nāma ārāmaṃ nagarassa puratthato,
kītvā satasahassena saṅghārāmaṃ amāpayiṃ.

466. Có khu vườn tên là Sobhana ở phía Đông của thành phố. Sau khi đã mua bằng một trăm ngàn, tôi đã cho thực hiện tu viện của Hội Chúng.

467. Kūṭāgāre ca pāsāde maṇḍape hammiye guhā,
caṅkame sukate katvā saṅghārāmaṃ amāpayiṃ.

467. Sau khi đã xây dựng các nhà mái nhọn, các lầu đài, các mái che, các tòa nhà, các hang động, các đường kinh hành khéo được kiến tạo, tôi đã cho thực hiện tu viện của Hội Chúng.

468. Jantāgharaṃ aggisālaṃ atho udakamāḷakaṃ,
nahānagharaṃ māpayitvā bhikkhusaṅghass’ adāsahaṃ.

 

468. Sau khi đã cho xây dựng nhà tắm hơi, nhà đốt lửa, rồi giếng nước, nhà tắm, tôi đã dâng cúng đến hội chúng tỳ khưu.

469. Āsandiyo pīṭhake ca paribhoge ca bhājane,
ārāmikañca bhesajjaṃ sabbametaṃ adāsahaṃ.

469. Tôi đã dâng cúng mọi thứ này (gồm có) các ghế dài, các ghế đẩu, các vật dụng, các son nồi, và thuốc men dành cho tu viện.

470. Ārakkhaṃ paṭṭhapetvāna pākāraṃ kārayiṃ daḷhaṃ,
mā naṃ koci viheṭhesi santacittāna tādinaṃ.

470. Sau khi đã thiết lập sự phòng hộ, tôi đã cho xây dựng tường thành vững chắc, không cho bất cứ việc gì quấy rầy đến những bậc có tâm thanh tịnh như thế ấy.

471. Āvāsaṃ satasahassena saṅghārāme amāpayiṃ,
vepullataṃ pāpayitvā sambuddhaṃ upanāmayiṃ.

471. Tôi đã cho xây dựng một trăm ngàn chỗ ngụ ở tu viện của Hội Chúng. Sau khi bố trí đầy đủ tiện nghi, tôi đã cống hiến đến bậc Toàn Giác.

472. “Niṭṭhāpito may' ārāmo sampaṭiccha tuvaṃ muni,
niyyādessāmi te vīra adhivāsehi cakkhuma.”

472. “Bạch bậc Hiền Trí, xin Ngài hãy thọ lãnh ngôi tu viện đã được con hoàn thành. Bạch đấng Anh Hùng, con sẽ dâng cúng đến Ngài. Bạch bậc Hữu Nhãn, xin Ngài hãy chấp thuận.”

473. Padumuttaro lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
mama saṅkappamaññāya adhivāsesi nāyako.

473. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Lãnh Đạo sau khi biết được tâm tư của tôi đã chấp thuận.

474. Adhivāsanamaññāya sabbaññussa mahesino,
bhojanaṃ paṭiyādetvā kālamārocayiṃ ahaṃ.

474. Sau khi biết được sự chấp thuận của bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Toàn Tri, sau khi đã chuẩn bị thức ăn, tôi đã thông báo về thời điểm.

 

475. Ārocitamhi kālamhi padumuttaranāyako,
khīṇāsavasahassehi ārāmaṃ me upāgami.

475. Khi thời điểm đã được thông báo, đấng Lãnh Đạo Padumuttara đã đi đến tu viện của tôi cùng với một ngàn bậc Vô Lậu.

476. Nisinnaṃ kālamaññāya annapānena tappayiṃ,
bhuttāviṃ kālamaññāya idaṃ vacanamabraviṃ:

476. Biết được lúc Ngài đã ngồi xuống, tôi đã làm thỏa mãn Ngài với cơm ăn và nước uống. Biết được lúc Ngài đã thọ thực xong, tôi đã nói lời nói này:

477. “Kīto satasahassena tattaken’ eva kārito,
sobhano nāma ārāmo sampaṭiccha tuvaṃ muni.

477. “Bạch đấng Hiền Trí, tu viện tên Sobhana đã được mua bằng một trăm ngàn và đã được cho xây dựng với chừng cỡ ấy, xin Ngài hãy thọ lãnh.

478. Imin’ ārāmadānena cetanāpaṇidhīhi ca,
bhave nibbattamāno ’haṃ labhāmi mama patthitaṃ.”

478. Do sự dâng cúng tu viện này và do các nguyện lực của tác ý, trong khi sanh ra ở cõi hữu, mong sao con đạt được điều con đã ước nguyện.”

479. Paṭiggahetvā sambuddho saṅghārāmaṃ sumāpitaṃ,
bhikkhusaṅghe nisīditvā idaṃ vacanamabravī:

479. Sau khi thọ nhận tu viện của Hội Chúng đã được xây dựng khéo léo, đấng Toàn Giác đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã nói lời nói này:

 

480. “Yo so buddhassa pādāsi saṅghārāmaṃ sumāpitaṃ,
tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.

 

480. “Người nào đã dâng lên tu viện của Hội Chúng đã được xây dựng khéo léo đến đức Phật, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.

481. Hatthi assā rathā pattī senā ca caturaṅginī,
parivāressant’ imaṃ niccaṃ saṅghārāmass’ idaṃ phalaṃ.

481. Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện của Hội Chúng.

482. Saṭṭhīturiyasahassāni bheriyo samalaṅkatā,
parivāressant’ imaṃ niccaṃ saṅghārāmass’ idaṃ phalaṃ.

482. Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được trang điểm sẽ thường xuyên tháp tùng người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện của Hội Chúng.

483. Chaḷāsītisahassāni nāriyo samalaṅkatā,
vicittavatthābharaṇā āmuttamaṇikuṇḍalā.

483. Tám mươi sáu ngàn phụ nữ được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.

484. Āḷārapamhā hasulā susaññā tanumajjhimā,
parivāressant’ imaṃ niccaṃ saṅghārāmass’ idaṃ phalaṃ.

 

484. Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện của Hội Chúng.

485. Tiṃsakappasahassāni devaloke ramissati,
sahassakkhattuṃ devindo devarajjaṃ karissati.

485. Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần.

486. Devarājena pattabbaṃ sabbaṃ paṭilabhissati,
anūnabhogo hutvāna devarajjaṃ karissati.

486. (Người này) sẽ thọ lãnh tất cả mọi thứ mà vị Thiên Vương có thế đạt được, sẽ có được của cải không bị thiếu hụt, và sẽ cai quản Thiên quốc.

487. Sahassakkhattuṃ cakkavattī rājā raṭṭhe bhavissati,
pathavyā rajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.

 

487. (Người này) sẽ trở thành trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở quốc độ một ngàn lần. Vương quyền ở trái đất là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

488. Kappasatasahassamhi okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.

488. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

489. Tassa dhammesu dāyādo oraso dhammanimmito,
upāli nāma nāmena hessati satthusāvako.

 

489. (Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Upāli.

 

490. Vinaye pāramiṃ patvā ṭhānāṭhāne ca kovido,
jinasāsanaṃ dhārayanto vihariss’ anāsavo.

490. Sau khi đạt được sự toàn hảo về Luật và rành rẽ về sự thành lập hay không thành lập tội, trong lúc duy trì Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, (người này) sẽ sống không còn lậu hoặc.

491. Sabbametaṃ abhiññāya gotamo sakyapuṅgavo,
bhikkhusaṅghe nisīditvā etadagge ṭhapessati.”

491. Sau khi biết rõ mọi việc này, đức Gotama bậc Cao Quý dòng Sakya sẽ ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.”

492. Aparimeyy’ upādāya patthemi tava sāsanaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.

492. Khởi nguyên từ vô lượng (kiếp) con ước nguyện về Giáo Pháp của Ngài, con đã đạt đến mục đích ấy và có được sự đoạn tận tất cả mọi điều trói buộc.

493. Yathā sūlāvuto poso rājadaṇḍena tajjito,
sūle sātaṃ avindanto parimuttiṃva icchati.

493. Giống như khi bị buộc vào cọc nhọn, người đàn ông khiếp sợ hình phạt của đức vua, trong khi không tìm thấy sự thoải mái ở cọc nhọn thì mong mỏi chỉ mỗi sự phóng thích.

494. Tath’ evāhaṃ mahāvīra bhavadaṇḍena tajjito,
kammasūlāvuto santo pipāsāvedanaṭṭito.

494. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế con khiếp sợ hình phạt của sự hiện hữu. Trong khi bị buộc vào cọc nhọn của nghiệp, con bị phiền muộn vì cảm thọ khát khao.

495. Bhave sātaṃ na vindāmi ḍayhanto tīhi aggīhi,
parimuttiṃ gavesāmi yathāpi rājadaṇḍito.

495. Bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, con không tìm thấy sự thoải mái ở sự hiện hữu. Cũng giống như người bị hành phạt bởi đức vua, con tầm cầu sự giải thoát.

496. Yathā visādo puriso visena paripīḷito,
agadaṃ so gaveseyya visaghātāy’ upālanaṃ.

496. Giống như khi bị rắn độc cắn người đàn ông bị hành hạ bởi nọc độc, người ấy có thể tìm kiếm phương thuốc là cách áp dụng cho việc làm tiêu tan nọc độc.

497. Gavesamāno passeyya agadaṃ visaghātakaṃ,
taṃ pivitvā sukhī assa visamhā parimuttiyā.

497. Trong khi tìm kiếm có thể nhìn thấy phương thuốc là vật làm tiêu tan nọc độc. Sau khi uống thuốc ấy, có thể có được sự an lạc do việc thoát khỏi nọc độc.

498. Tath’ evāhaṃ mahāvīra yathā visahato naro,
sampīḷito avijjāya saddhammāgadamesayiṃ.

498. Bạch đấng Đại Hùng, giống như người đàn ông bị hãm hại bởi nọc độc, tương tợ y như thế bị hành hạ bởi vô minh, con đã tầm cầu phương thuốc Chánh Pháp.

499. Dhammāgadaṃ gavesanto addakkhiṃ sakyasāsanaṃ,
aggaṃ sabbosadhānaṃ taṃ sabbasallavinodanaṃ.

 

499. Trong khi tìm kiếm phương thuốc Giáo Pháp, con đã nhìn thấy lời chỉ dạy của dòng họ Sakya ấy là cao quý trong số tất cả các loại thuốc men, là sự xua đi tất cả các mũi tên.

500. Dhammosadhaṃ pipitvāna visaṃ sabbaṃ samūhaniṃ,
ajarāmaraṃ sītibhāvaṃ nibbāṇaṃ phassayiṃ ahaṃ.

500. Sau khi uống vào phương thuốc Giáo Pháp, con đã xóa sạch tất cả nọc độc, con đã chạm đến Niết Bàn có trạng thái mát mẻ không già không chết.

501. Yathā bhūtaṭṭito poso bhūtagāhena pīḷito,
bhūtavejjaṃ gaveseyya bhūtasmā parimuttiyā.

501. Giống như khi bị ma quỷ khuấy rối, người đàn ông bị hành hạ bởi ma quỷ nhập vào có thể tìm kiếm thầy chữa bệnh ma quỷ nhằm thoát khỏi ma quỷ.

502. Gavesamāno passeyya bhūtavijjāsu kovidaṃ,
tassa so vihane bhūtaṃ samūlañca vināsaye.

502. Trong khi tìm kiếm có thể nhìn thấy vị rành rẽ các sự hiểu biết về ma quỷ. Người ấy diệt trừ ma quỷ cho người ấy và làm cho tiêu tan tận gốc rễ.

 

503. Tath’ evāhaṃ mahāvīra tamaggāhena pīḷito,
ñāṇālokaṃ gavesāmi tamato parimuttiyā.

503. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế con bị phiền muộn bởi sự xâm nhập của tăm tối, con tìm kiếm ánh sáng của trí tuệ nhằm sự giải thoát khỏi tăm tối.

504. Ath’ addasaṃ sakyamuniṃ kilesatamasodhanaṃ,
so me tamaṃ vinodesi bhūtavejjova bhūtakaṃ.

504. Giờ con đã nhìn thấy bậc Hiền Trí dòng họ Sakya có sự trong sạch đối với các điều tăm tối phiền não. Vị ấy đã xua đi sự tăm tối của con tợ như người thầy chữa bệnh ma quỷ xua đi ma quỷ.

505. Saṃsārasotaṃ saṃchindiṃ taṇhāsotaṃ nivārayiṃ,
bhavaṃ ugghāṭayiṃ sabbaṃ bhūtavejjova mūlato.

 

505. Con đã chặt đứt lìa dòng chảy luân hồi, đã chận đứng dòng nước tham ái, đã thủ tiêu tất cả hữu tận gốc rễ ví như người thầy chữa bệnh ma quỷ.

506. Garuḷo yathā opatati pannagaṃ bhakkhamattano,
samantā yojanasataṃ vikkhobheti mahāsaraṃ.

506. Giống như loài nhân điểu lao xuống con rắn là thức ăn của bản thân, nó khuấy động toàn bộ hồ nước lớn (kích thước) một trăm do-tuần.

507. Pannagaṃ so gahetvāna adhosīsaṃ viheṭhayaṃ,
ādāya so pakkamati yena kāmaṃ vihaṅgamo.

507. Sau khi bắt được con rắn, trong khi làm tổn thương phía dưới đầu, con nhân điểu ấy tóm lấy (con rắn) rồi ra đi đến nơi theo dự tính.

 

508. Tath’ evāhaṃ mahāvīra yathāpi garuḷo balī,
asaṅkhataṃ gavesanto dose vikkhālayiṃ ahaṃ.

508. Bạch đấng Đại Hùng, cũng giống như con nhân điểu có sức mạnh (tìm kiếm con mồi rồi tiêu diệt), tương tợ y như thế trong khi tầm cầu (Niết Bàn) không còn tạo tác, con đã chùi rửa sạch sẽ các điều xấu xa.

509. Diṭṭho ahaṃ dhammavaraṃ santipadamanuttaraṃ,
ādāya viharāmetaṃ garuḷo pannagaṃ yathā.

 

509. Con đã nhìn thấy Giáo Pháp cao quý là đạo lộ an tịnh vô thượng, con đã nắm giữ điều này và an trú giống như con nhân điểu tóm lấy con rắn rồi mang đi.

510. Āsāvatī nāma latā jātā cittalatāvane,
tassā vassasahassena ekaṃ nibbattate phalaṃ.

510. Có loại dây leo tên là āsāvatī được sanh ra tại khu rừng Cittalatāvana (ở cõi trời Đạo Lợi). Đối với loại dây leo ấy một ngàn năm nó sanh ra một trái.

 

511. Taṃ devā payirupāsanti tāva dūre phale sati,
devānaṃ sā piyā evaṃ āsāvatīlatuttamā.

511. Chư Thiên gần gũi với loại dây leo ấy cho đến khi nó có trái sau thời gian dài lâu. Loài dây leo thượng hạng āsāvatī ấy được chư Thiên yêu quý như thế.

512. Satasahassupādāya tāhaṃ paricare muniṃ,
sāyaṃ pātaṃ namassāmi devā āsāvatiṃ yathā.

512. Con thân cận với bậc Hiền Trí ấy đến một trăm ngàn (năm),[1] con lễ bái sáng chiều như là chư Thiên gần gũi với trái āsāvatī vậy.

513. Avañjhā pāricariyā amoghā ca namassanā,
dūrāgatampi maṃ santaṃ khaṇo maṃ na virādhayī.

513. Sự phục vụ không phải là không có kết quả và sự lễ bái là không phải là rỗng không. Dầu con đang trải qua (luân hồi) thăm thẳm, cơ hội (về sự xuất hiện của đức Phật) đã không bỏ rơi con.

514. Paṭisandhiṃ na passāmi vicinanto bhave ahaṃ,
nirūpadhi vippamutto upasanto carām’ ahaṃ.

514. Trong khi xem xét các cõi, con không nhìn thấy sự tiếp nối tái sanh, con không còn nền tảng tái sanh, đã hoàn toàn giải thoát, được an tịnh, con đi đó đây.

515. Yathāpi padumaṃ nāma suriyaraṃsena pupphati,
tath’ evāhaṃ mahāvīra buddharaṃsena pupphito.

515. Bạch đấng Đại Hùng, cũng giống như đóa hoa sen nở rộ nhờ tia nắng mặt trời, tương tợ y như thế con được thăng hoa nhờ vào hào quang của đức Phật.

516. Yathā balākāyonimhi na vijjati pumā sadā,
meghesu gajjamānesu gabbhaṃ gaṇhanti tā sadā.

516. Giống như giống đực không bao giờ được biết đến trong việc sanh sản của loài hạc nâu, những con hạc nâu cái ấy luôn luôn đậu thai trong khi những cơn mưa đang gào thét.

517. Cirampi gabbhaṃ dhārenti yāva megho na vassati,
bhārato parimuccanti yadā megho pavassati.

517. Những con hạc nâu cái ấy còn duy trì bào thai lâu dài đến chừng nào cơn mưa còn chưa đổ xuống. Khi cơn mưa đổ xuống, chúng được thoát khỏi gánh nặng.

518. Padumuttarabuddhassa dhammameghena gajjato,
saddena dhammameghassa dhammagabbhaṃ agaṇhi ’haṃ.

 

518. Được gào thét bởi cơn mưa Giáo Pháp của đức Phật Padumuttara, con đã kết tụ bào thai Giáo Pháp nhờ vào âm thanh của cơn mưa Giáo Pháp.

519. Satasahassupādāya puññagabbhaṃ dharem’ ahaṃ,
nappamuñcāmi bhārato dhammameghe na gajjati.

 

519. Con mang theo bào thai phước báu đến một trăm ngàn (kiếp),[2] con không được thoát khỏi gánh nặng (luân hồi) khi cơn mưa Giáo Pháp chưa gào thét.

520. Yadā tuvaṃ sakyamune ramme kāpilavatthave,
gajjasi dhammameghena bhārato parimutt’ ahaṃ.

520. Bạch đấng Hiền Trí của dòng họ Sakya, khi nào Ngài gào thét với cơn mưa Giáo Pháp ở thành Kapilavatthu đáng yêu thì con được giải thoát khỏi gánh nặng (luân hồi).

521. Suññataṃ animittañca tathāppaṇihitampi ca,
caturo ca phale sabbe dhamme vijanayiṃ ahaṃ.

521. Con đã nhận thức về không tánh, về vô tướng, và cũng như thế về vô nguyện, về bốn Quả vị và tất cả các pháp.

(Dutiyabhāṇavāraṃ).

(Tụng phẩm thứ nhì).

522. Aparimeyyupādāya patthemi tava sāsanaṃ,
so me attho anuppatto santipadamanuttaraṃ.

522. Khởi nguyên từ vô lượng (kiếp) con ước nguyện về Giáo Pháp của Ngài, con đã đạt đến mục đích ấy và vị thế an tịnh vô thượng (Niết Bàn).

523. Vinaye pāramiṃ patto yathāpi pāṭhiko isi,
na me samasamo atthi dhāremi sāsanaṃ ahaṃ.

 

523. Cũng giống như vị ẩn sĩ (tỳ khưu) là bậc trì tụng, con đã đạt đến sự toàn hảo về Luật, không có vị nào sánh bằng với con, con duy trì Giáo Pháp.

524. Vinaye khandhake cāpi tikacchede ca pañcame,
ettha me vimati natthi akkhare vyañjanepi vā.

 

524. Đối với con không có điều nghi ngờ về mẫu tự hay từ ngữ ở Tạng Luật theo cách chia thành ba phần là gồm có Luật Phân Tích (Giới Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni), luôn cả Luật Hợp Phần (Đại Phẩm và Tiểu Phẩm), và Luật Tập Yếu là thứ năm.

525. Niggahe paṭikamme ca ṭhānāṭhāne ca kovido,
osāraṇe vuṭṭhāpane sabbattha pāramiṃ gato.

 

525. Con được rành rẽ về việc khiển trách tội, về việc sửa chữa tội, về sự thành lập hay không thành lập tội, về sự phục hồi (phẩm vị), về sự làm cho hết tội, con đã đạt đến sự toàn hảo về mọi lãnh vực.

526. Vinaye khandhake cāpi nikkhipitvā padaṃ ahaṃ,
ubhato viniveṭhetvā rasato osareyy’ ahaṃ.

526. Sau khi lấy ra một điều học ở Luật Phân Tích thậm chí ở Luật Hợp Phần, con có thế đưa ra phương thức về cả hai bộ Luật và giải thích điều cốt lõi.

527. Niruttiyā sukusalo atthānatthe ca kovido,
anaññātaṃ mayā natthi ekaggo satthusāsane.

527. Con vô cùng thiện xảo về ngôn từ và rành rẽ về điều lợi ích hoặc không lợi ích. Không có điều (Luật) gì là con không biết đến, con là vị có sự chăm chú về Giáo Pháp của bậc Đạo Sư.

528. Rūpadakkho ahaṃ ajja sakyaputtassa sāsane,
kaṅkhaṃ sabbaṃ vinodemi chindāmi sabbasaṃsayaṃ.

528. Giờ đây trong thời điểm hiện tại, con xua đi tất cả mọi điều ngờ vực về Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya, con cắt đứt tất cả các điều nghi hoặc.

529. Padaṃ anupadañcāpi akkharañcāpi vyañjanaṃ,
nidāne pariyosāne sabbattha kovido ahaṃ.

529. Con rành rẽ về câu cú, luôn cả phần phụ thuộc của câu cú, về mẫu tự, luôn cả từ ngữ, về nhập đề, về kết thúc, về tất cả các lãnh vực này.

530. Yathāpi rājā balavā niggaṇhitvā parantape,
vijinitvāna saṅgāmaṃ nagaraṃ tattha māpaye.

530. Cũng giống như vị vua hùng mạnh có thể khống chế và gây khó khăn cho kẻ địch, sau khi toàn thắng cuộc chiến thì có thể kiến tạo thành phố tại nơi ấy.

531. Pākāraṃ parikhañcāpi esikaṃ dvārakoṭṭhakaṃ,
aṭṭālake ca vividhe kāraye nagare bahū.

531. (Đức vua) có thể cho xây dựng tường thành, luôn cả hào rãnh, trạm gác, cổng thành, và nhiều vọng canh đủ các loại ở thành phố.

532. Siṅghāṭakaṃ caccarañca suvibhatt’ antarāpaṇaṃ,
kārayeyya sabhaṃ tattha atthānatthavinicchayaṃ.

532. Ở tại nơi ấy, (đức vua) có thể cho xây dựng ngã tư đường, bùng binh, khu phố chợ khéo được phân bố, và phòng hội họp để quyết định điều hay lẽ thiệt.

533. Nigghātatthaṃ amittānaṃ chiddāchiddañca jānituṃ,
balakāyassa rakkhāya senāpaccaṃ ṭhapeti so.

533. Đức vua bổ nhiệm vị tướng lãnh quân đội với nhiệm vụ tiêu diệt những kẻ nghịch, để biết được thế yếu và thế mạnh nhằm bảo toàn binh lực.

534. Ārakkhatthāya bhaṇḍassa nidhānakusalaṃ naraṃ,
mā me bhaṇḍaṃ vinassīti bhaṇḍarakkhaṃ ṭhapeti so.

534. Nhằm mục đích bảo quản phẩm vật, đức vua bổ nhiệm người nam thiện xảo việc cất giữ làm người thủ khố: “Chớ để phẩm vật của Trẫm bị thất thoát.”

535. Māmako hoti yo rañño vuddhiṃ yassa ca icchati,
tassādhikaraṇaṃ deti mittassa paṭipajjituṃ.

535. Người nào tận tụy đối với đức vua và mong mỏi sự tiến triển của ngài, đức vua ban cho người ấy quyền phân xử để trở thành bạn hữu của ngài.

536. Uppātesu nimittesu lakkhaṇesu ca kovidaṃ,
ajjhāyakaṃ mantadharaṃ porohicce ṭhapeti so.

536. Đức vua bổ nhiệm vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, rành rẽ về các điềm báo hiệu và các hiện tượng đã được sanh khởi vào vị trí của vị quân sư.

 

537. Etehaṅgehi sampanno khattiyoti pavuccati,
sadā rakkhanti rājānaṃ cakkavākova dukkhitaṃ.

537. (Đức vua) hội đủ những yếu tố này được gọi là ‘Sát-đế-lỵ.’ (Quần thần) luôn bảo vệ đức vua tợ như con ngỗng đỏ luôn hộ trì kẻ bị khổ đau.

538. Tatheva tvaṃ mahāvīra hatāmittova khattiyo,
sadevakassa lokassa dhammarājāti vuccati.

538. Tương tợ như thế ấy, bạch đấng Đại Hùng, ví như vị Sát-đế-lỵ có kẻ thù bị đánh bại, đối với thế gian luôn cả chư Thiên Ngài được gọi là “Pháp Vương.”

539. Titthiye nihanitvāna mārañcāpi sasenakaṃ,
tamandhakāraṃ vidhamitvā dhammanagaraṃ amāpayī.

539. Sau khi đánh bại các ngoại đạo và luôn cả Ma Vương cùng với đội quân binh, sau khi hủy diệt sự tăm tối ấy, Ngài đã xây dựng thành phố Giáo Pháp.

540. Sīlaṃ pākārakaṃ tattha ñāṇaṃ te dvārakoṭṭhakaṃ,
saddhā te esikā dhīra dvārapālo ca saṃvaro.

540. Bạch đấng trí tuệ, tại nơi ấy giới là tường thành, trí của Ngài là cổng thành, tín của Ngài là trạm gác, và thu thúc là sự canh gác cửa ra vào.

541. Satipaṭṭhānamaṭṭālaṃ paññā te caccaraṃ mune,
iddhipādañca siṅghāṭaṃ dhammavīthi sumāpitā.

541. Bạch đấng Hiền Trí, sự thiết lập niệm là vọng canh, tuệ của Ngài là bùng binh, và nền tảng của thần thông là ngã tư đường; con đường Giáo Pháp đã khéo được xây dựng.

542. Suttantaṃ abhidhammo ca vinayo cā pi kevalaṃ,
navaṅgaṃ buddhavacanaṃ esā dhammasabhā tava.

542. Toàn bộ Kinh, Vi Diệu Pháp, và luôn cả Luật là lời dạy của đức Phật gồm có chín thể loại, đây là phòng hội về Giáo Pháp của Ngài.

543. Suññataṃ animittañca appaṇihitavihārakaṃ,
anejaṃ ca nirodho ca esā dhammakuṭī tava.

 

543. Sự an trú không tánh, sự an trú vô tướng, và sự an trú vô nguyện, (bốn Quả vị Sa-môn) không bị lay chuyển, và sự tịch diệt (Niết Bàn); đây là căn nhà Giáo Pháp của Ngài.

544. Paññāya agganikkhitto paṭibhāne ca kovido,
sāriputtoti nāmena dhammasenāpatī tava.

544. Vị có tên Sāriputta đã được chọn lựa là vị đứng đầu về tuệ, được rành rẽ về biện tài, là vị Tướng Quân Chánh Pháp của Ngài

545. Cutūpapātakusalo iddhiyā pāramiṅgato,
kolito nāma nāmena mune tava purohito.

545. Bạch đấng Hiền Trí, vị tên Kolita được thiện xảo về sanh tử, đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông là vị quân sư của Ngài.

546. Porāṇakavaṃsadharo uggatejo durāsado,
dhutavādiguṇen’ aggo akkhadasso tavaṃ mune.

546. Bạch đấng Hiền Trí, vị duy trì truyền thống cổ xưa (Mahākassapa), có oai lực nổi bật, khó mà tiếp cận, đứng đầu về đức hạnh trong việc giáo giới các pháp giũ bỏ, là vị quan phán xử của Ngài.

547. Bahussuto dhammadharo sabbapāṭhī ca sāsane,
Ānando nāma nāmena dhammārakkho tavaṃ mune.

547. Bạch đấng Hiền Trí, vị tên Ānanda nghe nhiều (học rộng), nắm giữ Giáo Pháp, có sự trì tụng toàn bộ về lời chỉ dạy, là vị bảo vệ Giáo Pháp của Ngài.

548. Ete sabbe atikkamma pamesi bhagavā mamaṃ,
vinicchayamme pādāsi vinaye viññudesitaṃ.

548. Sau khi bỏ qua tất cả các vị này, đức Thế Tôn đã cân nhắc đến tôi và đã ban cho tôi việc phân xử về Luật đã được bậc Thức Tri thuyết giảng.

549. Yo koci vinaye pañhaṃ pucchati buddhasāvako,
tattha me cintanā natthi taññev’ atthaṃ kathem’ ahaṃ.

549. Bất cứ vị Thinh Văn nào của đức Phật hỏi câu hỏi về Luật, tôi không cần có sự suy nghĩ về câu hỏi ấy, tôi giảng giải đúng ngay ý nghĩa câu hỏi ấy.

550. Yāvatā buddhakhettamhi ṭhapetvā taṃ mahāmuniṃ,
vinaye mādiso natthi kuto bhiyyo bhavissati.

550. Cho đến địa phận của chư Phật ngoại trừ bậc Đại Hiền Trí ấy, không ai sánh bằng tôi về Luật, làm sao sẽ có vị hơn được?

551. Bhikkhusaṅghe nisīditvā evaṃ gajjati gotamo,
upālissa samo natthi vinaye khandhakesu ca.

551. Sau khi ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu, đức Gotama khẳng định như vầy: “Không có vị nào sánh bằng Upāli về Luật (Phân Tích) và các bộ Hợp Phần.”

552. Yāvatā buddhabhaṇitaṃ navaṅgaṃ satthusāsanaṃ,
vinayogadhitaṃ sabbaṃ vinayamūlaṃti passato.

552. Cho đến Giáo Pháp của bậc Đạo Sư có chín thể loại đã được đức Phật nói ra, đối với người nhận thức được ‘Luật là nền tảng’ thì tất cả (Giáo Pháp) đều được bao gồm trong Luật.

553. Mama kammaṃ saritvāna gotamo sakyapuṅgavo,
bhikkhusaṅghe nisīditvā etadagge ṭhapesi maṃ.

 

553. Sau khi nhớ lại việc làm của tôi, đức Gotama bậc Cao Quý dòng Sakya đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.

554. Satasahassupādāya imaṃ ṭhānamapatthayiṃ,
so me attho anuppatto vinaye pāramiṅgato.

554. Khởi nguyên từ vô lượng (kiếp) tôi đã ước nguyện về vị thế ấy, tôi đã đạt đến mục đích ấy, đã đạt đến sự toàn hảo về Luật.

555. Sakyānaṃ nandijanano kappako ās’ ahaṃ pure,
vijahitvāna taṃ jātiṃ putto jāto mahesino.

555. Trước đây tôi đã là người thợ cạo râu tóc đem lại niềm vui cho các vị dòng Sakya. Sau khi lìa bỏ sự xuất thân ấy, tôi đã trở thành người con trai của bậc Đại Ẩn Sĩ.

556. Ito dutiyake kappe añjaso nāma khattiyo,
anantatejo amitayaso bhūmipālo mahaddhano.

556. Trước đây hai kiếp, vị hộ trì trái đất là vị Sát-đế-lỵ tên Añjasa có oai lực vô biên, có danh vọng vô lượng, có tài sản lớn lao.

557. Tassa rañño ahaṃ putto candano nāma khattiyo,
jātimadenupatthaddho yasabhogamadena ca.

557. Là người con trai của vị vua ấy, tôi là vị Sát-đế-lỵ tên Candana đã ỷ lại vào sự kiêu hãnh về dòng dõi và sự kiêu hãnh về danh vọng và của cải.

558. Nāgasatasahassāni sabbālaṅkārabhūsitā,
tidhāpabhinnamātaṅgā parivārenti maṃ sadā.

558. Một trăm ngàn con long tượng mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi đã được trang điểm với tất cả các loại trang sức, luôn luôn hộ tống tôi.

559. Sabalehi parīto ’haṃ uyyānaṃ gantukāmako,
āruyha sirikaṃ nāgaṃ nagarā nikkhamiṃ tadā.

559. Khi ấy, được tháp tùng bởi các binh lính của mình, là người có ý thích đi đạo khu vườn, tôi đã cỡi lên con voi Sirika và đã rời khỏi thành phố.

560. Caraṇena ca sampanno guttadvāro susaṃvuto,
devalo nāma sambuddho āgacchi purato mama.

560. Đức Phật tên Devala[3] đầy đủ tánh hạnh, có các căn được phòng hộ, khéo thu thúc đã đi đến phía trước tôi.

561. Pesetvā sirikaṃ nāgaṃ buddhaṃ āsādayiṃ tadā,
tato sañjātakopo so nāgo nuddharate padaṃ.

 

561. Khi ấy, tôi đã thúc con voi Sirika và đã công kích đức Phật. Do đó, với sự giận dữ sanh khởi, con voi ấy không nhấc bàn chân lên.

562. Nāgaṃ duṭṭhamanaṃ disvā buddhe kopaṃ akās’ ahaṃ,
vihesayitvā sambuddhaṃ uyyānaṃ agamās’ ahaṃ.

562. Sau khi nhìn thấy con voi có tâm ý bất bình, tôi đã nổi cơn giận dữ đối với đức Phật. Sau khi gây khó khăn cho đức Phật, tôi đã đi đến khu vườn.

563. Sātaṃ tattha na vindāmi siro pajjalito yathā,
pariḷāhena ḍayhāmi macchova baḷisādako.

563. Tôi không tìm thấy sự thoải mái ở tại nơi ấy giống như cái đầu bị bốc cháy, tôi bị thiêu đốt vì sự bực bội tợ như con cá bị vướng vào lưỡi câu.

564. Sasāgarantā paṭhavī ādittā viya hoti me,
pitusantik’ upāgamma idaṃ vacanamabraviṃ:

 

564. Việc xảy ra cho tôi tợ như trái đất bị rực cháy đến tận bờ biển, tôi đã đi đến gặp người cha và đã nói lời nói này:

565. “Āsīvisaṃ ’va kupitaṃ aggikkhandhaṃ ’va āgataṃ,
mattaṃ ’va kuñjaraṃ dantiṃ yaṃ sayambhumasādadhiṃ.

565. “Việc con đã công kích đấng Tự Chủ tợ như con rắn độc bị nổi giận, tợ như khối lửa đã tiến đến, tợ như con voi có sự huấn luyện bị động cỡn.

 

566. Āsādito mayā buddho ghoro uggatapo jino,
purā sabbe vinassāma khamāpessāma taṃ muniṃ.

566. Đức Phật, đấng Chiến Thắng có khổ hạnh nổi bật khủng khiếp, đã bị con công kích. Trước khi tất cả chúng ta bị tiêu diệt, chúng ta hãy xin bậc Hiền Trí ấy thứ lỗi.

567. No ce taṃ nijjhapessāma attadantaṃ samāhitaṃ,
orena sattadivasā raṭṭhaṃ me vidhamissati.

567. Ngài là vị có bản thân đã được rèn luyện được định tĩnh, nếu chúng ta không được vị ấy tha thứ thì xứ sở của con sẽ bị tiêu hoại trong vòng bảy ngày.

568. Sumekhalo kosiyo ca siggavo cāpi sattuko,
āsādayitvā isayo duggatā te saraṭṭhakā.

568. (Các vị vua) Sumekhala, Kosiya, Siggava, và luôn cả Sattuko sau khi công kích các vị ẩn sĩ, họ cùng với cư dân của xứ sở đã lâm cảnh khổ đau.

569. Yadā kuppanti isayo saññatā brahmacārino,
sadevakaṃ vināsenti sasāgaraṃ sapabbataṃ.”

569. Khi các vị ẩn sĩ thanh tịnh có sự thực hành Phạm hạnh bực tức, các vị làm cho thế gian cùng với biển cả và núi non luôn cả chư Thiên bị hủy hoại.”

 

570. Tiyojanasahassamhi purise sannipātayiṃ,
accayaṃ desanatthāya sayambhuṃ upasaṅkamiṃ.

570. Tôi đã triệu tập các nam nhân trong phạm vi ba ngàn do-tuần, và tôi đã đi đến gặp đấng Tự Chủ với ý định sám hối tội lỗi.

571. Allavatthā allasirā sabbeva pañjalī katā,
buddhassa pāde nipatitvā idaṃ vacanamabravuṃ:

571. Hết thảy tất cả có y phục ướt đẫm, có đầu tóc ướt đẫm đã chắp tay lên. Sau khi quỳ xuống ở bàn chân của đức Phật, bọn họ đã nói lời nói này:

572. “Khamassu tvaṃ mahāvīra abhiyācati taṃ jano,
pariḷāhaṃ vinodehi mā no raṭṭhaṃ vināsaya.

572. “Bạch đấng Đại Hùng, dân chúng cầu xin Ngài, xin Ngài hãy tha thứ, xin Ngài hãy xua đi sự bực bội, xin Ngài chớ hủy hoại xứ sở của chúng tôi.”

573. Sadevamānusā sabbe sadānavasarakkhasā,
ayomayena kuṭena siraṃ bhindeyyu me sadā.”

573. “Xin tất cả loài người và chư Thiên cùng với hạng người khổng lồ và các quỷ dữ hãy chẻ đôi đầu của con bằng cái chày vồ làm bằng sắt vào mọi lúc.”

574. “Udake aggi na saṇṭhāti bījaṃ sele na rūhati,
agade kimi na saṇṭhāti kopo buddhe na jāyati.

574. (Lời đức Phật) “Ngọn lửa không tồn tại ở nước, hạt giống không mọc lên ở tảng đá, sâu bọ không tồn tại ở thuốc men, sự giận dữ không nảy sanh ở đức Phật.

575. Yathāpi bhūmi acalā appameyyo ca sāgaro,
anantako ca ākāso evaṃ buddhā akhobhiyā.

575. Cũng giống như trái đất là không lay chuyển, biển cả là không thể đo lường, và không gian là vô tận, tương tợ như vậy chư Phật là không giao động.

576. Sadā khantā mahāvīrā khamitā ca tapassino,
khantānaṃ khamitānañca gamanaṃ taṃ na vijjati.”

 

576. Các đấng Đại Hùng luôn nhẫn nại, các đạo sĩ khổ hạnh luôn thứ tha. Đối với các vị đã nhẫn nại đã thứ tha, việc đi đến sự bực bội là không có.”

577. Idaṃ vatvāna sambuddho pariḷāhaṃ vinodayaṃ,
mahājanassa purato nabhaṃ abbhuggamī tadā.

 

577. Nói xong điều này, trong khi xua đi sự bực bội, đức Phật khi ấy đã bay lên không trung ở phía trước đám đông dân chúng.

578. Tena kammen’ ahaṃ dhīra hīnattaṃ ajjhupāgato,
samatikkamma taṃ jātiṃ pāvisiṃ abhayaṃ puraṃ.

578. Bạch đấng trí tuệ, do nghiệp ấy con đi đến bản thể thấp kém. Sau khi tự mình vượt qua số phận ấy, con đã đi vào thành phố (Niết Bàn) không còn hãi sợ.

579. Tadāpi maṃ mahāvīra ḍayhamānaṃ susaṇṭhitaṃ,
pariḷāhaṃ vinodesi sayambhuñca khamāpayi.

579. Bạch đấng Đại Hùng, cũng vào khi ấy con đã cầu xin đấng Tự Chủ thứ lỗi và vị ấy đã xua đi sự bực bội đang thiêu đốt con, đang tồn tại vững chắc ở con.

580. Ajjāpi maṃ mahāvīra ḍayhamānaṃ tih’ aggihi,
nibbāpesi tayo aggī sītibhāvañca pāpayī.

580. Bạch đấng Đại Hùng, hôm nay cũng vậy trong khi con đang bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, Ngài đã dập tắt ba ngọn lửa và giúp con đạt đến trạng thái mát mẻ.

581. Yesaṃ sotāvadhān’ atthi suṇātha mama bhāsato,
atthaṃ tumhaṃ pavakkhāmi yathā diṭṭhaṃ padaṃ mama.

 

581. Nếu các người có sự chú ý vào việc nghe thì hãy lắng nghe khi tôi đang nói. Tôi sẽ giảng giải ý nghĩa cho các người theo cách đó tôi đã thấy được vị thế (Niết Bàn).

582. Sayambhuṃ taṃ vimānetvā santacittaṃ samāhitaṃ,
tena kammen’ ahaṃ ajja jāto ’mhi nīcayoniyaṃ.

582. Sau khi đã khinh miệt đấng Tự Chủ là vị có tâm an tịnh, định tĩnh ấy, do nghiệp ấy ngày hôm nay tôi đã bị sanh ra vào dòng dõi thấp kém.

583. Mā vo khaṇaṃ virādhetha khaṇātītā hi socare,
sadatthe vāyameyyātha khaṇo vo paṭipādito.

583. Các người chớ để cơ hội trôi qua bởi vì khi cơ hội đã trôi qua các người sẽ sầu muộn. Các người hãy nên tinh tấn cho lợi ích của chính mình, cơ hội sẽ xảy đến cho các người.

584. Ekaccānañca vamanaṃ ekaccānaṃ virecanaṃ,
visaṃ halāhalaṃ eke ekaccānaṃ ca osadhaṃ.

584. Và (Giáo Pháp) đối với một số người là sự ói mửa, đối với một số người là sự tháo dạ, đối với số người là chất độc chết người và đối với một số người là phương thuốc.

585. Vamanaṃ paṭipannānaṃ phalaṭṭhānaṃ virecanaṃ,
osadhaṃ phalalābhīnaṃ puññakkhettaṃ gavesinaṃ.

585. Là sự ói mửa đối với những người đang thực hành, là sự xổ ruột đối với những người tiến đến Quả vị, là phương thuốc đối với những người có sự thành tựu Quả vị, là Phước Điền đối với những người tầm cầu.

586. Sāsanena viruddhānaṃ visaṃ halāhalaṃ yathā,
āsīviso diṭṭhaviso evaṃ jhāpeti taṃ naraṃ.

586. Là chất độc chết người đối với những kẻ thù nghịch Giáo Pháp như thế nào, con rắn độc có nọc độc tà kiến thiêu đốt người đàn ông ấy như vậy.

587. Sakiṃ pītaṃ halāhalaṃ uparundhati jīvitaṃ,
sāsanena virujjhitvā kappakoṭimhi ḍayhati.

 

587. Được uống một lần, chất độc chết người chấm dứt mạng sống. Còn người thù nghịch với Giáo Pháp bị thiêu đốt một koṭi (mười triệu) kiếp.

588. Khantiyā avihiṃsāya mettacittavatāya ca,
sadevakaṃ so tāreti tasmā vo avirodhiyo.

588. Do sự nhẫn nại, do sự không hãm hại, và do sự hành trì tâm từ ái, đức Phật giúp thế gian luôn cả chư Thiên vượt qua; vì thế các người không nên thù nghịch.

589. Lābhālābhe na sajjanti sammānana-vimānane,
paṭhavīsadisā buddhā tasmā te na virodhiyā.

589. Chư Phật tương đương với trái đất, các Ngài không bị vướng bận vào các sự được lợi hay mất lợi, vào sự kính trọng hay không kính trọng; vì thế các người không nên thù nghịch.

590. Devadatte ca vadhake core aṅgulimālake,
dhanapāle rāhule ca sabbesaṃ samako muni.

590. Về kẻ phá hoại Devadatta, kẻ cướp Aṅgulimāla, con voi Dhanapāla, và (người con trai) Rāhula, bậc Hiền Trí là bình đẳng đối với tất cả.

591. Etesaṃ paṭigho natthi rāgo ’mesaṃ na vijjati,
sabbesaṃ samako buddho vadhakassorasassa ca.

591. Sự bất bình của các vị này là không có, sự luyến ái của các vị này không được biết đến. Đức Phật là bình đẳng đối với tất cả, đối với kẻ phá hoại cũng như đối với người con ruột.

592. Panthe disvāna kāsāvaṃ chaḍḍitaṃ mīḷhamakkhitaṃ,
sirasmiṃ añjaliṃ katvā vanditabbaṃ isiddhajaṃ.

 

592. Sau khi nhìn thấy ở trên đường tấm y ca-sa bị quăng bỏ lấm lem bởi phân bò, nên chắp tay ở trên đầu đảnh lễ biểu tượng của bậc Ẩn Sĩ.

593. Abbhatītā ca ye buddhā vattamānā anāgatā,
dhajenānena sujjhanti tasmā ete namassiyā.

 

593. Chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai được thanh tịnh nhờ vào biểu tượng này, vì thế những vị này đáng được lễ bái.

594. Satthukappaṃ suvinayaṃ dhāremi hadayen’ ahaṃ,
namasasmāno vinayaṃ viharissāmi sabbadā.

594. Luật tốt đẹp là tương đương với bậc Đạo Sư, Tôi duy trì Luật bằng trái tim. Trong khi tôn kính đối với Luật tôi sẽ luôn luôn an trú.

595. Vinayo āsayo mayhaṃ vinayo ṭhānacaṅkamaṃ,
kappemi vinaye vāsaṃ vinayo mayha gocaro.

595. Luật là khuynh hướng của tôi, Luật là chỗ đứng và là đường kinh hành (của tôi), tôi sắp xếp sự cư ngụ ở trong Luật, Luật là hành xứ của tôi.

596. Vinaye pāramippatto samathe cāpi kovido,
upāli taṃ mahāvīra pāde vandati satthuno.

596. Tôi đã đạt đến sự toàn hảo về Luật và cũng rành rẽ các pháp dàn xếp (về tranh tụng). Bạch đấng Đại Hùng, Upāli đảnh lễ ở bàn chân của Ngài là bậc Đạo Sư.

597. So ahaṃ vicarissāmi gāmā gāmaṃ purā puraṃ,
namassamāno sambuddhaṃ dhammassa ca sudhammataṃ.

597. Trong khi lễ bái bậc Toàn Giác và bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp, tôi đây sẽ du hành từ làng này đến làng khác, từ thành phố này đến thành phố khác.

598. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
sabbāsavā parikkhīṇā natthidāni punabbhavo.

598. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.

599. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

599. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.

600. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

600. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Upālitthero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Upāli đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Upālittherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.

Ký sự về trưởng lão Upāli là phần thứ sáu.

--ooOoo--

--ooOoo--

[1] satasahassasaṃvaccharaṃ (Apa. 281). saṃvaccharaṃ có ý nghĩa là ‘năm.’

[2] kappasatasahassaṃ (Sđd. 282), kappa có ý nghĩa là ‘kiếp.’

[3] Mặc dầu văn bản ghi là sambuddho nghĩa là Phật Toàn Giác, nhưng Chú Giải giải thích đây là paccekasambudddho Phật Độc Giác (ApA. 288).

 

Phía Trước - Before!==^==Kế Tiếp - Next