|
6. Upālittherāpadānaṃ |
6. Ký Sự về Trưởng Lão Upāli: |
|
446. Nagare
haṃsavatiyā sujāto nāma brāhmaṇo, |
446. Ở thành phố Haṃsavatī, vị Bà-la-môn tên Sujāta có sự tích lũy tám mươi koṭi, có dồi dào tài sản và lúa gạo. |
|
447. Ajjhāyako
mantadharo tiṇṇaṃ vedāna pāragū, |
447. Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, đã đạt đến sự toàn hảo về (khoa) tướng mạo, về truyền thống, và về giáo lý (của Bà-la-môn). |
|
448. Paribbājā ekasikhā gotamā
buddhasāvakā, |
448. Khi ấy, các du sĩ ngoại đạo có một ngọn lửa, các Thinh Văn của đức Phật Gotama, các vị lang thang, và cả các đạo sĩ khổ hạnh du hành ở trái đất. |
|
449. Tepi maṃ parivārenti brāhmaṇo vissuto
iti, |
449. Bọn họ cũng tháp tùng theo tôi (cho rằng): ‘Vị Bà-la-môn nổi tiếng.’ Nhiều người tôn vinh tôi, tôi không tôn vinh bất cứ người nào. |
|
450. Pūjārahaṃ na passāmi mānatthaddho ahaṃ tadā, |
450. Tôi không nhìn thấy bậc xứng đáng sự tôn vinh, khi ấy tôi là ngã mạn và ương ngạnh. Cho đến khi đấng Chiến Thắng còn chưa xuất hiện thì không có sự thốt lên về: ‘Đức Phật.’ |
|
451. Accayena ahorattā padumuttaranāyako,
|
451. Bao ngày đêm trôi qua, đấng Lãnh Đạo Padumuttara, bậc Hữu Nhãn, sau khi xua đi tất cả tăm tối, đã xuất hiện ở thế gian. |
|
452. Vitthārino bāhujaññe puthubhūte ca
sāsane, |
452. Vào lúc Giáo Pháp được phổ biến rộng rãi, được biết nhiều, và trở thành phổ thông, khi ấy đức Phật đã đi đến đến thành phố tên Haṃsa. |
|
453. Pitu atthāya so buddho dhammaṃ desesi
cakkhumā, |
453. Khi ấy, vì lợi ích của người cha, đức Phật bậc Hữu Nhãn ấy đã thuyết giảng Giáo Pháp. Vào thời điểm ấy, đám đông ở xung quanh là một do-tuần. |
|
454. Sammato manujānaṃ so sunando nāma
tāpaso, |
454. Khi ấy, được thỏa thuận trong số mọi người, vị đạo sĩ khổ hạnh tên Sunanda ấy đã che phủ hết thảy hội chúng của đức Phật bằng những bông hoa. |
|
455. Catusaccaṃ pakāsente seṭṭhe ca
pupphamaṇḍape, |
455. Và trong khi bậc Tối Thượng đang công bố bốn Sự Thật ở nơi mái che bằng bông hoa, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của một trăm ngàn koṭi người. |
|
456. Sattarattindivaṃ buddho vassetvā
dhammavuṭṭhiyo, |
456. Đức Phật đã đổ mưa những cơn mưa Giáo Pháp trong bảy ngày đêm. Khi đạt đến ngày thứ tám, đấng Chiến Thắng đã tán dương vị Sunanda rằng: |
|
457. “Devaloke manusse vā saṃsaranto ayaṃ
bhave, |
457. “Người này trong khi luân hồi ở cõi hữu, dầu ở thế giới chư Thiên hay loài người, sẽ trở thành bậc ưu tú trong số tất cả và sẽ luân hồi ở các cõi. |
|
458. Kappasatasahassamhi
okkākakulasambhavo, |
458. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. |
|
459. Tassa dhammesu dāyādo oraso
dhammanimmito, |
459. (Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Puṇṇo Mantāniputta.” |
|
460. Evaṃ kittayi sambuddho sunandaṃ
tāpasaṃ tadā, |
460. Lúc bấy giờ, trong khi làm cho tất cả dân chúng vui mừng, trong khi thị hiện năng lực của chính mình, bậc Toàn Giác đã tán dương đạo sĩ khổ hạnh Sunanda như thế. |
|
461. Katañjalī namassanti sunandaṃ tāpasaṃ
janā, |
461. Dân chúng chắp tay lễ bái vị đạo sĩ khổ hạnh Sunanda (nghĩ rằng): “Sau khi thể hiện sự tôn kính đến đức Phật, vị ấy đã làm trong sạch cảnh giới tái sanh của bản thân.” |
|
462. Tattha me ahu saṅkappo sutvāna munino
vacaṃ, |
462. Tại nơi ấy, sau khi lắng nghe lời nói của bậc Hiền Trí, tôi đã có sự suy tư rằng: “Ta cũng sẽ thể hiện sự tôn kính giống như ta nhìn thấy vị Gotama.” |
|
463. Evāhaṃ cintayitvāna kiriyaṃ cintayiṃ
mamaṃ, |
463. Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã suy nghĩ về hành động của tôi rằng: “Ta sẽ thực hành việc làm gì ở Phước Điền vô thượng?” |
|
464. Ayañca pāṭhiko bhikkhu sabbapāṭhīna
sāsane, |
464. Và vị tỳ khưu này là vị trì tụng trong số tất cả các vị trì tụng trong Giáo Pháp, và đã được chọn lựa là vị đứng đầu về Luật. Tôi đã ước nguyện vị thế ấy. |
|
465. Idaṃ me
amitaṃ bhogaṃ akkhobhaṃ sāgarūpamaṃ, |
465. Tài sản này của tôi là vô lượng, không thể bị xao động tợ như biển cả. Với của cải ấy tôi đã cho xây dựng tu viện dành cho đức Phật. |
|
466. Sobhanaṃ nāma ārāmaṃ nagarassa
puratthato, |
466. Có khu vườn tên là Sobhana ở phía Đông của thành phố. Sau khi đã mua bằng một trăm ngàn, tôi đã cho thực hiện tu viện của Hội Chúng. |
|
467. Kūṭāgāre ca pāsāde maṇḍape hammiye
guhā, |
467. Sau khi đã xây dựng các nhà mái nhọn, các lầu đài, các mái che, các tòa nhà, các hang động, các đường kinh hành khéo được kiến tạo, tôi đã cho thực hiện tu viện của Hội Chúng. |
|
468. Jantāgharaṃ aggisālaṃ atho udakamāḷakaṃ, |
468. Sau khi đã cho xây dựng nhà tắm hơi, nhà đốt lửa, rồi giếng nước, nhà tắm, tôi đã dâng cúng đến hội chúng tỳ khưu. |
|
469. Āsandiyo pīṭhake ca paribhoge ca
bhājane, |
469. Tôi đã dâng cúng mọi thứ này (gồm có) các ghế dài, các ghế đẩu, các vật dụng, các son nồi, và thuốc men dành cho tu viện. |
|
470. Ārakkhaṃ paṭṭhapetvāna pākāraṃ
kārayiṃ daḷhaṃ, |
470. Sau khi đã thiết lập sự phòng hộ, tôi đã cho xây dựng tường thành vững chắc, không cho bất cứ việc gì quấy rầy đến những bậc có tâm thanh tịnh như thế ấy. |
|
471. Āvāsaṃ satasahassena saṅghārāme
amāpayiṃ, |
471. Tôi đã cho xây dựng một trăm ngàn chỗ ngụ ở tu viện của Hội Chúng. Sau khi bố trí đầy đủ tiện nghi, tôi đã cống hiến đến bậc Toàn Giác. |
|
472. “Niṭṭhāpito may' ārāmo sampaṭiccha
tuvaṃ muni, |
472. “Bạch bậc Hiền Trí, xin Ngài hãy thọ lãnh ngôi tu viện đã được con hoàn thành. Bạch đấng Anh Hùng, con sẽ dâng cúng đến Ngài. Bạch bậc Hữu Nhãn, xin Ngài hãy chấp thuận.” |
|
473. Padumuttaro lokavidū āhutīnaṃ
paṭiggaho, |
473. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Lãnh Đạo sau khi biết được tâm tư của tôi đã chấp thuận. |
|
474. Adhivāsanamaññāya sabbaññussa
mahesino, |
474. Sau khi biết được sự chấp thuận của bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Toàn Tri, sau khi đã chuẩn bị thức ăn, tôi đã thông báo về thời điểm. |
|
475. Ārocitamhi kālamhi padumuttaranāyako,
|
475. Khi thời điểm đã được thông báo, đấng Lãnh Đạo Padumuttara đã đi đến tu viện của tôi cùng với một ngàn bậc Vô Lậu. |
|
476. Nisinnaṃ kālamaññāya annapānena
tappayiṃ, |
476. Biết được lúc Ngài đã ngồi xuống, tôi đã làm thỏa mãn Ngài với cơm ăn và nước uống. Biết được lúc Ngài đã thọ thực xong, tôi đã nói lời nói này: |
|
477. “Kīto
satasahassena tattaken’ eva kārito, |
477. “Bạch đấng Hiền Trí, tu viện tên Sobhana đã được mua bằng một trăm ngàn và đã được cho xây dựng với chừng cỡ ấy, xin Ngài hãy thọ lãnh. |
|
478. Imin’ ārāmadānena cetanāpaṇidhīhi ca,
|
478. Do sự dâng cúng tu viện này và do các nguyện lực của tác ý, trong khi sanh ra ở cõi hữu, mong sao con đạt được điều con đã ước nguyện.” |
|
479. Paṭiggahetvā sambuddho saṅghārāmaṃ
sumāpitaṃ, |
479. Sau khi thọ nhận tu viện của Hội Chúng đã được xây dựng khéo léo, đấng Toàn Giác đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã nói lời nói này: |
|
480. “Yo so buddhassa pādāsi saṅghārāmaṃ sumāpitaṃ, |
480. “Người nào đã dâng lên tu viện của Hội Chúng đã được xây dựng khéo léo đến đức Phật, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói. |
|
481. Hatthi assā rathā pattī senā ca
caturaṅginī, |
481. Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện của Hội Chúng. |
|
482. Saṭṭhīturiyasahassāni bheriyo
samalaṅkatā, |
482. Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được trang điểm sẽ thường xuyên tháp tùng người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện của Hội Chúng. |
|
483. Chaḷāsītisahassāni nāriyo
samalaṅkatā, |
483. Tám mươi sáu ngàn phụ nữ được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni. |
|
484. Āḷārapamhā hasulā susaññā tanumajjhimā, |
484. Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu về (sự dâng cúng) tu viện của Hội Chúng. |
|
485. Tiṃsakappasahassāni devaloke
ramissati, |
485. Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần. |
|
486. Devarājena pattabbaṃ sabbaṃ
paṭilabhissati, |
486. (Người này) sẽ thọ lãnh tất cả mọi thứ mà vị Thiên Vương có thế đạt được, sẽ có được của cải không bị thiếu hụt, và sẽ cai quản Thiên quốc. |
|
487. Sahassakkhattuṃ cakkavattī rājā raṭṭhe bhavissati, |
487. (Người này) sẽ trở thành trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở quốc độ một ngàn lần. Vương quyền ở trái đất là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. |
|
488. Kappasatasahassamhi
okkākakulasambhavo, |
488. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. |
|
489. Tassa dhammesu dāyādo oraso dhammanimmito, |
489. (Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Upāli. |
|
490. Vinaye pāramiṃ patvā ṭhānāṭhāne ca
kovido, |
490. Sau khi đạt được sự toàn hảo về Luật và rành rẽ về sự thành lập hay không thành lập tội, trong lúc duy trì Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, (người này) sẽ sống không còn lậu hoặc. |
|
491. Sabbametaṃ abhiññāya gotamo
sakyapuṅgavo, |
491. Sau khi biết rõ mọi việc này, đức Gotama bậc Cao Quý dòng Sakya sẽ ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.” |
|
492. Aparimeyy’ upādāya patthemi tava
sāsanaṃ, |
492. Khởi nguyên từ vô lượng (kiếp) con ước nguyện về Giáo Pháp của Ngài, con đã đạt đến mục đích ấy và có được sự đoạn tận tất cả mọi điều trói buộc. |
|
493. Yathā sūlāvuto poso rājadaṇḍena
tajjito, |
493. Giống như khi bị buộc vào cọc nhọn, người đàn ông khiếp sợ hình phạt của đức vua, trong khi không tìm thấy sự thoải mái ở cọc nhọn thì mong mỏi chỉ mỗi sự phóng thích. |
|
494. Tath’ evāhaṃ mahāvīra bhavadaṇḍena
tajjito, |
494. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế con khiếp sợ hình phạt của sự hiện hữu. Trong khi bị buộc vào cọc nhọn của nghiệp, con bị phiền muộn vì cảm thọ khát khao. |
|
495. Bhave sātaṃ na vindāmi ḍayhanto tīhi
aggīhi, |
495. Bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, con không tìm thấy sự thoải mái ở sự hiện hữu. Cũng giống như người bị hành phạt bởi đức vua, con tầm cầu sự giải thoát. |
|
496. Yathā visādo puriso visena
paripīḷito, |
496. Giống như khi bị rắn độc cắn người đàn ông bị hành hạ bởi nọc độc, người ấy có thể tìm kiếm phương thuốc là cách áp dụng cho việc làm tiêu tan nọc độc. |
|
497. Gavesamāno passeyya agadaṃ
visaghātakaṃ, |
497. Trong khi tìm kiếm có thể nhìn thấy phương thuốc là vật làm tiêu tan nọc độc. Sau khi uống thuốc ấy, có thể có được sự an lạc do việc thoát khỏi nọc độc. |
|
498. Tath’ evāhaṃ mahāvīra yathā visahato
naro, |
498. Bạch đấng Đại Hùng, giống như người đàn ông bị hãm hại bởi nọc độc, tương tợ y như thế bị hành hạ bởi vô minh, con đã tầm cầu phương thuốc Chánh Pháp. |
|
499. Dhammāgadaṃ gavesanto addakkhiṃ sakyasāsanaṃ, |
499. Trong khi tìm kiếm phương thuốc Giáo Pháp, con đã nhìn thấy lời chỉ dạy của dòng họ Sakya ấy là cao quý trong số tất cả các loại thuốc men, là sự xua đi tất cả các mũi tên. |
|
500. Dhammosadhaṃ pipitvāna visaṃ sabbaṃ
samūhaniṃ, |
500. Sau khi uống vào phương thuốc Giáo Pháp, con đã xóa sạch tất cả nọc độc, con đã chạm đến Niết Bàn có trạng thái mát mẻ không già không chết. |
|
501. Yathā bhūtaṭṭito poso bhūtagāhena
pīḷito, |
501. Giống như khi bị ma quỷ khuấy rối, người đàn ông bị hành hạ bởi ma quỷ nhập vào có thể tìm kiếm thầy chữa bệnh ma quỷ nhằm thoát khỏi ma quỷ. |
|
502. Gavesamāno passeyya bhūtavijjāsu
kovidaṃ, |
502. Trong khi tìm kiếm có thể nhìn thấy vị rành rẽ các sự hiểu biết về ma quỷ. Người ấy diệt trừ ma quỷ cho người ấy và làm cho tiêu tan tận gốc rễ. |
|
503. Tath’ evāhaṃ mahāvīra tamaggāhena
pīḷito, |
503. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế con bị phiền muộn bởi sự xâm nhập của tăm tối, con tìm kiếm ánh sáng của trí tuệ nhằm sự giải thoát khỏi tăm tối. |
|
504. Ath’ addasaṃ sakyamuniṃ
kilesatamasodhanaṃ, |
504. Giờ con đã nhìn thấy bậc Hiền Trí dòng họ Sakya có sự trong sạch đối với các điều tăm tối phiền não. Vị ấy đã xua đi sự tăm tối của con tợ như người thầy chữa bệnh ma quỷ xua đi ma quỷ. |
|
505. Saṃsārasotaṃ saṃchindiṃ taṇhāsotaṃ nivārayiṃ, |
505. Con đã chặt đứt lìa dòng chảy luân hồi, đã chận đứng dòng nước tham ái, đã thủ tiêu tất cả hữu tận gốc rễ ví như người thầy chữa bệnh ma quỷ. |
|
506. Garuḷo yathā opatati pannagaṃ
bhakkhamattano, |
506. Giống như loài nhân điểu lao xuống con rắn là thức ăn của bản thân, nó khuấy động toàn bộ hồ nước lớn (kích thước) một trăm do-tuần. |
|
507. Pannagaṃ so gahetvāna adhosīsaṃ
viheṭhayaṃ, |
507. Sau khi bắt được con rắn, trong khi làm tổn thương phía dưới đầu, con nhân điểu ấy tóm lấy (con rắn) rồi ra đi đến nơi theo dự tính. |
|
508. Tath’ evāhaṃ mahāvīra yathāpi garuḷo
balī, |
508. Bạch đấng Đại Hùng, cũng giống như con nhân điểu có sức mạnh (tìm kiếm con mồi rồi tiêu diệt), tương tợ y như thế trong khi tầm cầu (Niết Bàn) không còn tạo tác, con đã chùi rửa sạch sẽ các điều xấu xa. |
|
509. Diṭṭho ahaṃ dhammavaraṃ santipadamanuttaraṃ, |
509. Con đã nhìn thấy Giáo Pháp cao quý là đạo lộ an tịnh vô thượng, con đã nắm giữ điều này và an trú giống như con nhân điểu tóm lấy con rắn rồi mang đi. |
|
510. Āsāvatī nāma latā jātā cittalatāvane,
|
510. Có loại dây leo tên là āsāvatī được sanh ra tại khu rừng Cittalatāvana (ở cõi trời Đạo Lợi). Đối với loại dây leo ấy một ngàn năm nó sanh ra một trái. |
|
511. Taṃ devā payirupāsanti tāva dūre
phale sati, |
511. Chư Thiên gần gũi với loại dây leo ấy cho đến khi nó có trái sau thời gian dài lâu. Loài dây leo thượng hạng āsāvatī ấy được chư Thiên yêu quý như thế. |
|
512. Satasahassupādāya tāhaṃ paricare
muniṃ, |
512. Con thân cận với bậc Hiền Trí ấy đến một trăm ngàn (năm),[1] con lễ bái sáng chiều như là chư Thiên gần gũi với trái āsāvatī vậy. |
|
513. Avañjhā pāricariyā amoghā ca
namassanā, |
513. Sự phục vụ không phải là không có kết quả và sự lễ bái là không phải là rỗng không. Dầu con đang trải qua (luân hồi) thăm thẳm, cơ hội (về sự xuất hiện của đức Phật) đã không bỏ rơi con. |
|
514. Paṭisandhiṃ na passāmi vicinanto
bhave ahaṃ, |
514. Trong khi xem xét các cõi, con không nhìn thấy sự tiếp nối tái sanh, con không còn nền tảng tái sanh, đã hoàn toàn giải thoát, được an tịnh, con đi đó đây. |
|
515. Yathāpi padumaṃ nāma suriyaraṃsena
pupphati, |
515. Bạch đấng Đại Hùng, cũng giống như đóa hoa sen nở rộ nhờ tia nắng mặt trời, tương tợ y như thế con được thăng hoa nhờ vào hào quang của đức Phật. |
|
516. Yathā balākāyonimhi na vijjati pumā
sadā, |
516. Giống như giống đực không bao giờ được biết đến trong việc sanh sản của loài hạc nâu, những con hạc nâu cái ấy luôn luôn đậu thai trong khi những cơn mưa đang gào thét. |
|
517. Cirampi gabbhaṃ dhārenti yāva megho
na vassati, |
517. Những con hạc nâu cái ấy còn duy trì bào thai lâu dài đến chừng nào cơn mưa còn chưa đổ xuống. Khi cơn mưa đổ xuống, chúng được thoát khỏi gánh nặng. |
|
518. Padumuttarabuddhassa dhammameghena gajjato, |
518. Được gào thét bởi cơn mưa Giáo Pháp của đức Phật Padumuttara, con đã kết tụ bào thai Giáo Pháp nhờ vào âm thanh của cơn mưa Giáo Pháp. |
|
519. Satasahassupādāya puññagabbhaṃ dharem’ ahaṃ, |
519. Con mang theo bào thai phước báu đến một trăm ngàn (kiếp),[2] con không được thoát khỏi gánh nặng (luân hồi) khi cơn mưa Giáo Pháp chưa gào thét. |
|
520. Yadā tuvaṃ sakyamune ramme
kāpilavatthave, |
520. Bạch đấng Hiền Trí của dòng họ Sakya, khi nào Ngài gào thét với cơn mưa Giáo Pháp ở thành Kapilavatthu đáng yêu thì con được giải thoát khỏi gánh nặng (luân hồi). |
|
521. Suññataṃ animittañca
tathāppaṇihitampi ca, |
521. Con đã nhận thức về không tánh, về vô tướng, và cũng như thế về vô nguyện, về bốn Quả vị và tất cả các pháp. |
|
(Dutiyabhāṇavāraṃ). |
(Tụng phẩm thứ nhì). |
|
522. Aparimeyyupādāya patthemi tava
sāsanaṃ, |
522. Khởi nguyên từ vô lượng (kiếp) con ước nguyện về Giáo Pháp của Ngài, con đã đạt đến mục đích ấy và vị thế an tịnh vô thượng (Niết Bàn). |
|
523. Vinaye pāramiṃ patto yathāpi pāṭhiko isi, |
523. Cũng giống như vị ẩn sĩ (tỳ khưu) là bậc trì tụng, con đã đạt đến sự toàn hảo về Luật, không có vị nào sánh bằng với con, con duy trì Giáo Pháp. |
|
524. Vinaye khandhake cāpi tikacchede ca pañcame, |
524. Đối với con không có điều nghi ngờ về mẫu tự hay từ ngữ ở Tạng Luật theo cách chia thành ba phần là gồm có Luật Phân Tích (Giới Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni), luôn cả Luật Hợp Phần (Đại Phẩm và Tiểu Phẩm), và Luật Tập Yếu là thứ năm. |
|
525. Niggahe paṭikamme ca ṭhānāṭhāne ca kovido, |
525. Con được rành rẽ về việc khiển trách tội, về việc sửa chữa tội, về sự thành lập hay không thành lập tội, về sự phục hồi (phẩm vị), về sự làm cho hết tội, con đã đạt đến sự toàn hảo về mọi lãnh vực. |
|
526. Vinaye khandhake cāpi nikkhipitvā
padaṃ ahaṃ, |
526. Sau khi lấy ra một điều học ở Luật Phân Tích thậm chí ở Luật Hợp Phần, con có thế đưa ra phương thức về cả hai bộ Luật và giải thích điều cốt lõi. |
|
527. Niruttiyā sukusalo atthānatthe ca
kovido, |
527. Con vô cùng thiện xảo về ngôn từ và rành rẽ về điều lợi ích hoặc không lợi ích. Không có điều (Luật) gì là con không biết đến, con là vị có sự chăm chú về Giáo Pháp của bậc Đạo Sư. |
|
528. Rūpadakkho ahaṃ ajja sakyaputtassa
sāsane, |
528. Giờ đây trong thời điểm hiện tại, con xua đi tất cả mọi điều ngờ vực về Giáo Pháp của người con trai dòng Sakya, con cắt đứt tất cả các điều nghi hoặc. |
|
529. Padaṃ anupadañcāpi akkharañcāpi
vyañjanaṃ, |
529. Con rành rẽ về câu cú, luôn cả phần phụ thuộc của câu cú, về mẫu tự, luôn cả từ ngữ, về nhập đề, về kết thúc, về tất cả các lãnh vực này. |
|
530. Yathāpi rājā balavā niggaṇhitvā
parantape, |
530. Cũng giống như vị vua hùng mạnh có thể khống chế và gây khó khăn cho kẻ địch, sau khi toàn thắng cuộc chiến thì có thể kiến tạo thành phố tại nơi ấy. |
|
531. Pākāraṃ parikhañcāpi esikaṃ
dvārakoṭṭhakaṃ, |
531. (Đức vua) có thể cho xây dựng tường thành, luôn cả hào rãnh, trạm gác, cổng thành, và nhiều vọng canh đủ các loại ở thành phố. |
|
532. Siṅghāṭakaṃ caccarañca suvibhatt’
antarāpaṇaṃ, |
532. Ở tại nơi ấy, (đức vua) có thể cho xây dựng ngã tư đường, bùng binh, khu phố chợ khéo được phân bố, và phòng hội họp để quyết định điều hay lẽ thiệt. |
|
533. Nigghātatthaṃ amittānaṃ
chiddāchiddañca jānituṃ, |
533. Đức vua bổ nhiệm vị tướng lãnh quân đội với nhiệm vụ tiêu diệt những kẻ nghịch, để biết được thế yếu và thế mạnh nhằm bảo toàn binh lực. |
|
534.
Ārakkhatthāya bhaṇḍassa nidhānakusalaṃ naraṃ, |
534. Nhằm mục đích bảo quản phẩm vật, đức vua bổ nhiệm người nam thiện xảo việc cất giữ làm người thủ khố: “Chớ để phẩm vật của Trẫm bị thất thoát.” |
|
535. Māmako
hoti yo rañño vuddhiṃ yassa ca icchati, |
535. Người nào tận tụy đối với đức vua và mong mỏi sự tiến triển của ngài, đức vua ban cho người ấy quyền phân xử để trở thành bạn hữu của ngài. |
|
536. Uppātesu
nimittesu lakkhaṇesu ca kovidaṃ, |
536. Đức vua bổ nhiệm vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, rành rẽ về các điềm báo hiệu và các hiện tượng đã được sanh khởi vào vị trí của vị quân sư. |
|
537. Etehaṅgehi
sampanno khattiyoti pavuccati, |
537. (Đức vua) hội đủ những yếu tố này được gọi là ‘Sát-đế-lỵ.’ (Quần thần) luôn bảo vệ đức vua tợ như con ngỗng đỏ luôn hộ trì kẻ bị khổ đau. |
|
538. Tatheva
tvaṃ mahāvīra hatāmittova khattiyo, |
538. Tương tợ như thế ấy, bạch đấng Đại Hùng, ví như vị Sát-đế-lỵ có kẻ thù bị đánh bại, đối với thế gian luôn cả chư Thiên Ngài được gọi là “Pháp Vương.” |
|
539. Titthiye
nihanitvāna mārañcāpi sasenakaṃ, |
539. Sau khi đánh bại các ngoại đạo và luôn cả Ma Vương cùng với đội quân binh, sau khi hủy diệt sự tăm tối ấy, Ngài đã xây dựng thành phố Giáo Pháp. |
|
540. Sīlaṃ
pākārakaṃ tattha ñāṇaṃ te dvārakoṭṭhakaṃ, |
540. Bạch đấng trí tuệ, tại nơi ấy giới là tường thành, trí của Ngài là cổng thành, tín của Ngài là trạm gác, và thu thúc là sự canh gác cửa ra vào. |
|
541.
Satipaṭṭhānamaṭṭālaṃ paññā te caccaraṃ mune, |
541. Bạch đấng Hiền Trí, sự thiết lập niệm là vọng canh, tuệ của Ngài là bùng binh, và nền tảng của thần thông là ngã tư đường; con đường Giáo Pháp đã khéo được xây dựng. |
|
542. Suttantaṃ
abhidhammo ca vinayo cā pi kevalaṃ, |
542. Toàn bộ Kinh, Vi Diệu Pháp, và luôn cả Luật là lời dạy của đức Phật gồm có chín thể loại, đây là phòng hội về Giáo Pháp của Ngài. |
|
543. Suññataṃ
animittañca appaṇihitavihārakaṃ,
|
543. Sự an trú không tánh, sự an trú vô tướng, và sự an trú vô nguyện, (bốn Quả vị Sa-môn) không bị lay chuyển, và sự tịch diệt (Niết Bàn); đây là căn nhà Giáo Pháp của Ngài. |
|
544. Paññāya
agganikkhitto paṭibhāne ca kovido, |
544. Vị có tên Sāriputta đã được chọn lựa là vị đứng đầu về tuệ, được rành rẽ về biện tài, là vị Tướng Quân Chánh Pháp của Ngài |
|
545.
Cutūpapātakusalo iddhiyā pāramiṅgato, |
545. Bạch đấng Hiền Trí, vị tên Kolita được thiện xảo về sanh tử, đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông là vị quân sư của Ngài. |
|
546.
Porāṇakavaṃsadharo uggatejo durāsado, |
546. Bạch đấng Hiền Trí, vị duy trì truyền thống cổ xưa (Mahākassapa), có oai lực nổi bật, khó mà tiếp cận, đứng đầu về đức hạnh trong việc giáo giới các pháp giũ bỏ, là vị quan phán xử của Ngài. |
|
547. Bahussuto
dhammadharo sabbapāṭhī ca sāsane, |
547. Bạch đấng Hiền Trí, vị tên Ānanda nghe nhiều (học rộng), nắm giữ Giáo Pháp, có sự trì tụng toàn bộ về lời chỉ dạy, là vị bảo vệ Giáo Pháp của Ngài. |
|
548. Ete sabbe
atikkamma pamesi bhagavā mamaṃ, |
548. Sau khi bỏ qua tất cả các vị này, đức Thế Tôn đã cân nhắc đến tôi và đã ban cho tôi việc phân xử về Luật đã được bậc Thức Tri thuyết giảng. |
|
549. Yo koci
vinaye pañhaṃ pucchati buddhasāvako, |
549. Bất cứ vị Thinh Văn nào của đức Phật hỏi câu hỏi về Luật, tôi không cần có sự suy nghĩ về câu hỏi ấy, tôi giảng giải đúng ngay ý nghĩa câu hỏi ấy. |
|
550. Yāvatā
buddhakhettamhi ṭhapetvā taṃ mahāmuniṃ, |
550. Cho đến địa phận của chư Phật ngoại trừ bậc Đại Hiền Trí ấy, không ai sánh bằng tôi về Luật, làm sao sẽ có vị hơn được? |
|
551.
Bhikkhusaṅghe nisīditvā evaṃ gajjati gotamo, |
551. Sau khi ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu, đức Gotama khẳng định như vầy: “Không có vị nào sánh bằng Upāli về Luật (Phân Tích) và các bộ Hợp Phần.” |
|
552. Yāvatā
buddhabhaṇitaṃ navaṅgaṃ satthusāsanaṃ, |
552. Cho đến Giáo Pháp của bậc Đạo Sư có chín thể loại đã được đức Phật nói ra, đối với người nhận thức được ‘Luật là nền tảng’ thì tất cả (Giáo Pháp) đều được bao gồm trong Luật. |
|
553. Mama kammaṃ
saritvāna gotamo sakyapuṅgavo,
|
553. Sau khi nhớ lại việc làm của tôi, đức Gotama bậc Cao Quý dòng Sakya đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng. |
|
554.
Satasahassupādāya imaṃ ṭhānamapatthayiṃ, |
554. Khởi nguyên từ vô lượng (kiếp) tôi đã ước nguyện về vị thế ấy, tôi đã đạt đến mục đích ấy, đã đạt đến sự toàn hảo về Luật. |
|
555. Sakyānaṃ
nandijanano kappako ās’ ahaṃ pure, |
555. Trước đây tôi đã là người thợ cạo râu tóc đem lại niềm vui cho các vị dòng Sakya. Sau khi lìa bỏ sự xuất thân ấy, tôi đã trở thành người con trai của bậc Đại Ẩn Sĩ. |
|
556. Ito
dutiyake kappe añjaso nāma khattiyo, |
556. Trước đây hai kiếp, vị hộ trì trái đất là vị Sát-đế-lỵ tên Añjasa có oai lực vô biên, có danh vọng vô lượng, có tài sản lớn lao. |
|
557. Tassa
rañño ahaṃ putto candano nāma khattiyo, |
557. Là người con trai của vị vua ấy, tôi là vị Sát-đế-lỵ tên Candana đã ỷ lại vào sự kiêu hãnh về dòng dõi và sự kiêu hãnh về danh vọng và của cải. |
|
558.
Nāgasatasahassāni sabbālaṅkārabhūsitā, |
558. Một trăm ngàn con long tượng mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi đã được trang điểm với tất cả các loại trang sức, luôn luôn hộ tống tôi. |
|
559. Sabalehi
parīto ’haṃ uyyānaṃ gantukāmako, |
559. Khi ấy, được tháp tùng bởi các binh lính của mình, là người có ý thích đi đạo khu vườn, tôi đã cỡi lên con voi Sirika và đã rời khỏi thành phố. |
|
560. Caraṇena
ca sampanno guttadvāro susaṃvuto, |
560. Đức Phật tên Devala[3] đầy đủ tánh hạnh, có các căn được phòng hộ, khéo thu thúc đã đi đến phía trước tôi. |
|
561. Pesetvā
sirikaṃ nāgaṃ buddhaṃ āsādayiṃ tadā,
|
561. Khi ấy, tôi đã thúc con voi Sirika và đã công kích đức Phật. Do đó, với sự giận dữ sanh khởi, con voi ấy không nhấc bàn chân lên. |
|
562. Nāgaṃ
duṭṭhamanaṃ disvā buddhe kopaṃ akās’ ahaṃ, |
562. Sau khi nhìn thấy con voi có tâm ý bất bình, tôi đã nổi cơn giận dữ đối với đức Phật. Sau khi gây khó khăn cho đức Phật, tôi đã đi đến khu vườn. |
|
563. Sātaṃ
tattha na vindāmi siro pajjalito yathā, |
563. Tôi không tìm thấy sự thoải mái ở tại nơi ấy giống như cái đầu bị bốc cháy, tôi bị thiêu đốt vì sự bực bội tợ như con cá bị vướng vào lưỡi câu. |
|
564. Sasāgarantā
paṭhavī ādittā viya hoti me,
|
564. Việc xảy ra cho tôi tợ như trái đất bị rực cháy đến tận bờ biển, tôi đã đi đến gặp người cha và đã nói lời nói này: |
|
565. “Āsīvisaṃ
’va kupitaṃ aggikkhandhaṃ ’va āgataṃ, |
565. “Việc con đã công kích đấng Tự Chủ tợ như con rắn độc bị nổi giận, tợ như khối lửa đã tiến đến, tợ như con voi có sự huấn luyện bị động cỡn.
|
|
566. Āsādito
mayā buddho ghoro uggatapo jino, |
566. Đức Phật, đấng Chiến Thắng có khổ hạnh nổi bật khủng khiếp, đã bị con công kích. Trước khi tất cả chúng ta bị tiêu diệt, chúng ta hãy xin bậc Hiền Trí ấy thứ lỗi. |
|
567. No ce taṃ
nijjhapessāma attadantaṃ samāhitaṃ, |
567. Ngài là vị có bản thân đã được rèn luyện được định tĩnh, nếu chúng ta không được vị ấy tha thứ thì xứ sở của con sẽ bị tiêu hoại trong vòng bảy ngày. |
|
568. Sumekhalo
kosiyo ca siggavo cāpi sattuko, |
568. (Các vị vua) Sumekhala, Kosiya, Siggava, và luôn cả Sattuko sau khi công kích các vị ẩn sĩ, họ cùng với cư dân của xứ sở đã lâm cảnh khổ đau. |
|
569. Yadā
kuppanti isayo saññatā brahmacārino, |
569. Khi các vị ẩn sĩ thanh tịnh có sự thực hành Phạm hạnh bực tức, các vị làm cho thế gian cùng với biển cả và núi non luôn cả chư Thiên bị hủy hoại.”
|
|
570.
Tiyojanasahassamhi purise sannipātayiṃ, |
570. Tôi đã triệu tập các nam nhân trong phạm vi ba ngàn do-tuần, và tôi đã đi đến gặp đấng Tự Chủ với ý định sám hối tội lỗi. |
|
571. Allavatthā
allasirā sabbeva pañjalī katā, |
571. Hết thảy tất cả có y phục ướt đẫm, có đầu tóc ướt đẫm đã chắp tay lên. Sau khi quỳ xuống ở bàn chân của đức Phật, bọn họ đã nói lời nói này: |
|
572. “Khamassu
tvaṃ mahāvīra abhiyācati taṃ jano, |
572. “Bạch đấng Đại Hùng, dân chúng cầu xin Ngài, xin Ngài hãy tha thứ, xin Ngài hãy xua đi sự bực bội, xin Ngài chớ hủy hoại xứ sở của chúng tôi.” |
|
573.
Sadevamānusā sabbe sadānavasarakkhasā, |
573. “Xin tất cả loài người và chư Thiên cùng với hạng người khổng lồ và các quỷ dữ hãy chẻ đôi đầu của con bằng cái chày vồ làm bằng sắt vào mọi lúc.” |
|
574. “Udake
aggi na saṇṭhāti bījaṃ sele na rūhati, |
574. (Lời đức Phật) “Ngọn lửa không tồn tại ở nước, hạt giống không mọc lên ở tảng đá, sâu bọ không tồn tại ở thuốc men, sự giận dữ không nảy sanh ở đức Phật. |
|
575. Yathāpi
bhūmi acalā appameyyo ca sāgaro, |
575. Cũng giống như trái đất là không lay chuyển, biển cả là không thể đo lường, và không gian là vô tận, tương tợ như vậy chư Phật là không giao động. |
|
576. Sadā khantā
mahāvīrā khamitā ca tapassino,
|
576. Các đấng Đại Hùng luôn nhẫn nại, các đạo sĩ khổ hạnh luôn thứ tha. Đối với các vị đã nhẫn nại đã thứ tha, việc đi đến sự bực bội là không có.” |
|
577. Idaṃ vatvāna
sambuddho pariḷāhaṃ vinodayaṃ,
|
577. Nói xong điều này, trong khi xua đi sự bực bội, đức Phật khi ấy đã bay lên không trung ở phía trước đám đông dân chúng. |
|
578. Tena
kammen’ ahaṃ dhīra hīnattaṃ ajjhupāgato, |
578. Bạch đấng trí tuệ, do nghiệp ấy con đi đến bản thể thấp kém. Sau khi tự mình vượt qua số phận ấy, con đã đi vào thành phố (Niết Bàn) không còn hãi sợ. |
|
579. Tadāpi maṃ
mahāvīra ḍayhamānaṃ susaṇṭhitaṃ, |
579. Bạch đấng Đại Hùng, cũng vào khi ấy con đã cầu xin đấng Tự Chủ thứ lỗi và vị ấy đã xua đi sự bực bội đang thiêu đốt con, đang tồn tại vững chắc ở con. |
|
580. Ajjāpi maṃ
mahāvīra ḍayhamānaṃ tih’ aggihi, |
580. Bạch đấng Đại Hùng, hôm nay cũng vậy trong khi con đang bị thiêu đốt bởi ba ngọn lửa, Ngài đã dập tắt ba ngọn lửa và giúp con đạt đến trạng thái mát mẻ. |
|
581. Yesaṃ
sotāvadhān’ atthi suṇātha mama bhāsato,
|
581. Nếu các người có sự chú ý vào việc nghe thì hãy lắng nghe khi tôi đang nói. Tôi sẽ giảng giải ý nghĩa cho các người theo cách đó tôi đã thấy được vị thế (Niết Bàn). |
|
582. Sayambhuṃ
taṃ vimānetvā santacittaṃ samāhitaṃ, |
582. Sau khi đã khinh miệt đấng Tự Chủ là vị có tâm an tịnh, định tĩnh ấy, do nghiệp ấy ngày hôm nay tôi đã bị sanh ra vào dòng dõi thấp kém. |
|
583. Mā vo
khaṇaṃ virādhetha khaṇātītā hi socare, |
583. Các người chớ để cơ hội trôi qua bởi vì khi cơ hội đã trôi qua các người sẽ sầu muộn. Các người hãy nên tinh tấn cho lợi ích của chính mình, cơ hội sẽ xảy đến cho các người. |
|
584.
Ekaccānañca vamanaṃ ekaccānaṃ virecanaṃ, |
584. Và (Giáo Pháp) đối với một số người là sự ói mửa, đối với một số người là sự tháo dạ, đối với số người là chất độc chết người và đối với một số người là phương thuốc. |
|
585. Vamanaṃ
paṭipannānaṃ phalaṭṭhānaṃ virecanaṃ, |
585. Là sự ói mửa đối với những người đang thực hành, là sự xổ ruột đối với những người tiến đến Quả vị, là phương thuốc đối với những người có sự thành tựu Quả vị, là Phước Điền đối với những người tầm cầu. |
|
586. Sāsanena
viruddhānaṃ visaṃ halāhalaṃ yathā, |
586. Là chất độc chết người đối với những kẻ thù nghịch Giáo Pháp như thế nào, con rắn độc có nọc độc tà kiến thiêu đốt người đàn ông ấy như vậy. |
|
587. Sakiṃ pītaṃ
halāhalaṃ uparundhati jīvitaṃ,
|
587. Được uống một lần, chất độc chết người chấm dứt mạng sống. Còn người thù nghịch với Giáo Pháp bị thiêu đốt một koṭi (mười triệu) kiếp. |
|
588. Khantiyā
avihiṃsāya mettacittavatāya ca, |
588. Do sự nhẫn nại, do sự không hãm hại, và do sự hành trì tâm từ ái, đức Phật giúp thế gian luôn cả chư Thiên vượt qua; vì thế các người không nên thù nghịch. |
|
589. Lābhālābhe
na sajjanti sammānana-vimānane, |
589. Chư Phật tương đương với trái đất, các Ngài không bị vướng bận vào các sự được lợi hay mất lợi, vào sự kính trọng hay không kính trọng; vì thế các người không nên thù nghịch. |
|
590. Devadatte
ca vadhake core aṅgulimālake, |
590. Về kẻ phá hoại Devadatta, kẻ cướp Aṅgulimāla, con voi Dhanapāla, và (người con trai) Rāhula, bậc Hiền Trí là bình đẳng đối với tất cả. |
|
591. Etesaṃ
paṭigho natthi rāgo ’mesaṃ na vijjati, |
591. Sự bất bình của các vị này là không có, sự luyến ái của các vị này không được biết đến. Đức Phật là bình đẳng đối với tất cả, đối với kẻ phá hoại cũng như đối với người con ruột. |
|
592. Panthe disvāna
kāsāvaṃ chaḍḍitaṃ mīḷhamakkhitaṃ,
|
592. Sau khi nhìn thấy ở trên đường tấm y ca-sa bị quăng bỏ lấm lem bởi phân bò, nên chắp tay ở trên đầu đảnh lễ biểu tượng của bậc Ẩn Sĩ. |
|
593. Abbhatītā ca
ye buddhā vattamānā anāgatā,
|
593. Chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai được thanh tịnh nhờ vào biểu tượng này, vì thế những vị này đáng được lễ bái. |
|
594.
Satthukappaṃ suvinayaṃ dhāremi hadayen’ ahaṃ, |
594. Luật tốt đẹp là tương đương với bậc Đạo Sư, Tôi duy trì Luật bằng trái tim. Trong khi tôn kính đối với Luật tôi sẽ luôn luôn an trú. |
|
595. Vinayo
āsayo mayhaṃ vinayo ṭhānacaṅkamaṃ, |
595. Luật là khuynh hướng của tôi, Luật là chỗ đứng và là đường kinh hành (của tôi), tôi sắp xếp sự cư ngụ ở trong Luật, Luật là hành xứ của tôi. |
|
596. Vinaye
pāramippatto samathe cāpi kovido, |
596. Tôi đã đạt đến sự toàn hảo về Luật và cũng rành rẽ các pháp dàn xếp (về tranh tụng). Bạch đấng Đại Hùng, Upāli đảnh lễ ở bàn chân của Ngài là bậc Đạo Sư. |
|
597. So ahaṃ
vicarissāmi gāmā gāmaṃ purā puraṃ, |
597. Trong khi lễ bái bậc Toàn Giác và bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp, tôi đây sẽ du hành từ làng này đến làng khác, từ thành phố này đến thành phố khác. |
|
598. Kilesā
jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā, |
598. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa. |
|
599. Svāgataṃ
vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike, |
599. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng. |
|
600.
Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime, |
600. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. |
|
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Upālitthero imā gāthāyo abhāsitthāti. |
Đại đức trưởng lão Upāli đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. |
|
Upālittherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ. |
Ký sự về trưởng lão Upāli là phần thứ sáu. |
|
--ooOoo-- |
--ooOoo-- |
[1] satasahassasaṃvaccharaṃ (Apa. 281). saṃvaccharaṃ có ý nghĩa là ‘năm.’
[2] kappasatasahassaṃ (Sđd. 282), kappa có ý nghĩa là ‘kiếp.’
[3] Mặc dầu văn bản ghi là sambuddho nghĩa là Phật Toàn Giác, nhưng Chú Giải giải thích đây là paccekasambudddho Phật Độc Giác (ApA. 288).