|
C. Therāpadānaṃ |
C. Trưởng Lão Ký Sự: |
|
Atha Therāpadānaṃ suṇātha. |
Giờ xin thỉnh các vị hãy lắng nghe ký sự về các vị trưởng lão: |
|
1. Sāriputtattherāpadānaṃ |
1. Ký Sự về Trưởng Lão Sāriputta: |
|
140. Himavantassa avidūre lambako nāma
pabbato, |
140. Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Lambaka, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập. |
|
141. Uttānakūlā nadikā supatitthā
manoramā, |
141. Con sông nhỏ có bờ nước lúp xúp, có bãi nước cạn khéo được thiết lập, được trải lớp cát vô cùng trong sạch, làm thích ý. |
|
142. Asakkharā apabbhārā sādu
appaṭigandhikā, |
142. Con sông nhỏ chảy qua tại nơi ấy, không có cát, không có hố sâu, (có nước) dịu ngọt, không có mùi khó chịu, điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
143. Kumbhīlā makarā cettha suṃsumārā ca
kacchapā, |
143. Và ở nơi này có các con cá sấu kumbhīla, cá lưỡi kiếm, cá sấu suṃsumāra, và các con rùa. Con sông nhỏ lượn lờ tại nơi ấy điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
144. Pāṭhīnā pāvusā macchā valajā
muñjarohitā, |
144. Có các loại cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita, cá maggura đang vượt giòng nước, điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
145. Ubhokūlesu nadiyā pupphino phalino dumā, |
145. Ở hai bên bờ của con sông, những cây có đơm hoa, có kết trái đang trĩu xuống từ cả hai phía, điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
146. Ambā sālā ca tilakā pāṭalī sinduvārakā, |
146. Có các cây xoài, cây sālā, cây tilaka, cây pāṭalī, cây sinduvāraka tỏa ra hương thơm của cõi trời được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi. |
|
147. Campakā salalā nīpā
nāgapunnāgaketakā, |
147. Có các cây campaka, cây salala, cây nīpa, cây nāga, cây nguyệt quế, cây dứa hoang tỏa ra hương thơm của cõi trời được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi. |
|
148. Atimuttā asokā ca bhaginimālā ca pupphitā, aṅkolā bimbijālā ca pupphitā mama asasame. |
148. Có các cây atimutta, cây asoka, và cây bhaginimālā được nở rộ hoa, có các cây aṅkola và các cây bimbijāla được nở rộ hoa ở khu ẩn cư của tôi. |
|
149. Keṭakā kandalī ceva godhukā
tiṇasūlikā, |
149. Có các cây dừa dại, và luôn cả cây kandalī, các cây godhuka, và các bụi cây tiṇasūlika tỏa ra hương thơm của cõi trời điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
150. Kaṇikārā kaṇṇikā ca asanā ajjunā
bahū, |
150. Có nhiều cây kaṇikāra, cây kaṇṇika, cây asana, và cây ajjuna tỏa ra hương thơm của cõi trời điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
151. Punnāgā giripunnāgā koviḷārā ca
pupphitā, |
151. Có các cây nguyệt quế, cây nguyệt quế núi, cây koviḷāra được nở rộ hoa, tỏa ra hương thơm của cõi trời, điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
152. Uddālakā ca kuṭajā kadambā vakulā
bahū, |
152. Có nhiều cây bã đậu, cây kuṭaja, cây kadamba, cây vakula tỏa ra hương thơm của cõi trời điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
153. Āḷakā isimuggā ca kadalī mātuluṅgiyo,
|
153. Các cây āḷaka, các cây isimugga, các cây chuối, và các cây chanh được phát triển nhờ vào làn nước thơm, chúng trĩu những quả. |
|
154. Aññe pupphanti padumā aññe jāyanti
kesarī, |
154. Một số sen hồng trổ hoa, một số khác đơm nhụy, một số khác nữa đã úa tàn; các đóa sen hồng luôn luôn được nở rộ ở trong hồ nước. |
|
155. Gabbhaṃ
gaṇhanti padumā niddhāvanti mulāliyo, |
155. Có những đóa sen hồng đang tượng hình, với những rễ sen cắm xuống được chen chúc bởi những lá cây siṅghāṭaka, luôn luôn rực rỡ ở trong hồ nước. |
|
156. Nayitā ambagandhī ca uttālā
bandhujīvakā, |
156. Các cây ambagandhī, các cây uttāla, các cây bandhujīvaka được đem lại, tỏa ra hương thơm của cõi trời, luôn luôn được nở rộ hoa ở trong hồ nước. |
|
157. Pāṭhīnā pāvusā macchā valajā
muñja-rohitā, |
157. Các loài cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita, cá aṅgula, và cá maṅgura nữa luôn luôn sống ở trong hồ nước. |
|
158. Kumbhīlā suṃsumārā ca tantigāhā ca
rakkhasā, |
158. Các con cá sấu loại kumbhīla, loại suṃsumāra, loại cá tantigāha, các hạng quỷ sứ, các loài rắn và các loài mãng xà luôn luôn sống ở trong hồ nước. |
|
159. Pārevatā ravihaṃsā cakkavākā
nadīcarā, |
159. Các chim bồ câu, các loài ngỗng trời, ngỗng đỏ, các loài sống ở sông, các chim cu cu, chim két, chim sáo sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
160. Kukutthakā kulīrakā vane
pokkharasātakā, |
160. Các loài chim kukutthaka, chim kulīraka, chim pokkharasātaka ở rừng, chim le le, và chim suvapota sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
161. Haṃsā koñcā mayūrā ca kokilā
tambacūḷikā, |
161. Các chim thiên nga, chim cò, chim công, chim cu cu, gà rừng, chim pampaka sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
162. Kosikā poṭṭhasīsā ca kurarā senakā
bahū, |
162. Nhiều loài chim (ở đất liền) như chim cú mèo, chim gõ kiến, chim kurara, chim diều hâu, chim mahākāla sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
163. Pasadā ca varāhā ca vakā bheraṇḍakā
bahū, |
163. Nhiều con hươu, heo rừng, chó sói, chó rừng, nai, và loài thú suggapota sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
164. Sīhā vyagghā ca dīpī ca
acchakokataracchakā, |
164. Các con sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, linh cẩu, và các con voi mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
165. Kinnarā vānarā ceva atho pi
vanakammikā, |
165. Các hạng kim-sỉ-điểu luôn cả các loài khỉ, và cũng có những người thợ rừng, các người phục vụ, luôn cả các thợ săn sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
166. Tindukāni piyālāni madhukā
kāsumārayo, |
166. Không xa khu ẩn cư của tôi, các cây tinduka, cây piyāla, cây cam thảo, và cây kāsumārī thường xuyên trĩu những trái. |
|
167. Kosumbhā
salalā nīpā sāduphalasamāyutā, |
167. Không xa khu ẩn cư của tôi, các cây kosumbha, cây salala, cây nīpa có trái ngọt thường xuyên trĩu những trái. |
|
168. Harītakā āmalakā ambā jambuvibhīṭakā,
|
168. Các cây harītaka, cây āmalaka, cây xoài, cây mận đỏ, cây vibhīṭaka, cây táo, cây bhallātaka, và cây billa, chúng trĩu những trái. |
|
169. Āluvā ca kalambā ca biḷālītakkaḷāni
ca, |
169. Ở khu ẩn cư của tôi có nhiều loại (rễ củ) như là củ āluva, củ kalamba, củ biḷālī, củ takkaḷa, củ jīvaka, và củ sutaka. |
|
170. Assamassāvidūramhi taḷākāsuṃ
sunimmitā, |
170. Ở không xa khu ẩn cư của tôi đã có những hồ nước khéo được tạo lập, có nước trong, có nước mát, có những bến nước cạn xinh xắn làm thích ý. |
|
171. Padumuppalasaṃchannā
puṇḍarīkasamāyutā, |
171. Có hương thơm của cõi trời tỏa ra từ (hồ nước) được che phủ bởi những sen hồng, sen xanh, kết hợp với sen trắng, được che phủ bởi những cây mạn-đà-la. |
|
172. Evaṃ sabbaṅgasampanne pupphite phalite vane, |
172. Khi ấy, tôi sống ở khu ẩn cư khéo được xây dựng đáng yêu ở trong khu rừng được đơm hoa, được kết trái, được hội đủ tất cả các yếu tố như thế. |
|
173. Sīlavā vatasampanno jhāyī jhānarato
sadā, |
173. (Tôi) là vị đạo sĩ khổ hạnh tên Surucī, có giới hạnh, thành tựu về phận sự, chứng thiền, luôn luôn thỏa thích về thiền, đạt được năm thắng trí và năng lực. |
|
174. Catubbīsasahassāni sissā mayhaṃ
upaṭṭhahuṃ, |
174. Hai mươi bốn ngàn học trò đã phục vụ tôi. Tất cả những vị này đều là Bà-la-môn, có dòng dõi (cao quý), có danh vọng. |
|
175. Lakkhaṇe itihāse ca
sanighaṇḍusakeṭubhe, |
175. Họ đã đạt đến sự toàn hảo về (khoa) tướng mạo, về truyền thống gồm cả văn tự và nghi thức, về từ ngữ, về văn phạm, và về giáo lý (của Bà-la-môn). |
|
176. Uppātesu nimittesu lakkhaṇesu ca
kovidā, |
176. Những người học trò của tôi là khéo được học tập, và rành rẽ về các hiện tượng thiên nhiên, về các điềm báo hiệu, về các tướng mạo, về địa lý, về trái đất, và về không gian. |
|
177. Appicchā nipakā ete appāhārā alolupā,
|
177. Những vị này là ít đòi hỏi, cẩn trọng, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, hài lòng với việc có hay không có, luôn luôn hầu cận tôi. |
|
178. Jhāyī jhānaratā dhīrā santacittā
samāhitā, |
178. (Họ) là những bậc trí tuệ, chứng thiền, thỏa thích về thiền, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, không mong mỏi bất cứ điều gì, luôn luôn hầu cận tôi. |
|
179. Abhiññāpāramippattā pettike gocare
ratā, |
179. (Họ) là những bậc trí tuệ đã đạt được sự toàn hảo về thắng trí, vui thích trong hành xứ của mình, có sự đi lại ở trên không trung, luôn luôn hầu cận tôi. |
|
180. Saṃvutā chasu dvāresu anejā
rakkhitindriyā, |
180. Các bậc trí tuệ ấy đã thu thúc ở sáu căn môn, không có dục vọng, có các giác quan được phòng hộ, không quyến luyến; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận. |
|
181. Pallaṅkena nisajjāya ṭhānacaṅkamanena
ca, |
181. Các vị ấy trải qua đêm với việc ngồi xuống bằng thế kiết già, với việc đứng, và với việc đi kinh hành; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận. |
|
182. Rajanīye na rajjanti dussanīye na
dussare, |
182. Các vị không ái luyến những gì cám dỗ, không nổi giận những gì khiêu khích, không mê muội những gì mê hoặc; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận. |
|
183. Iddhiṃ vīmaṃsamānā te vattanti niccakālikaṃ, |
183. Trong khi thử nghiệm các vị ấy thường xuyên thể hiện phép thần thông, các vị ấy làm rung chuyển trái đất; bằng sự đối nghịch khó mà tiếp cận. |
|
184. Kīḷamānā ca te sissā kīḷanti
jhānakīḷitaṃ, |
184. Và trong khi giải trí, những người học trò ấy giải trí sự giải trí của thiền, các vị đem lại trái cây từ cây mận đỏ; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận. |
|
185. Aññe gacchanti goyānaṃ aññe
pubbavidehakaṃ, |
185. Một số khác đi đến Tây Ngưu Hóa Châu, một số khác đến Đông Thắng Thần Châu, và một số khác đến Bắc Cu Lu Châu, bằng sự tìm kiếm khó mà tiếp cận. |
|
186. Purato khāriṃ pesenti pacchato ’va
vajanti te, |
186. Các vị chuyển đi túi đồ dùng ở phía trước và tiến lên ngay ở phía sau, bầu trời là bị che lấp bởi hai mươi bốn ngàn vị. |
|
187. Aggipākī anaggī ca dantodukkhalikā pi
ca, |
187. Một số vị dùng vật thực là trái cây đã rụng xuống, có vị nấu bằng lửa, có vị không dùng lửa (ăn sống), có vị dùng răng, và cũng có vị dùng cối giã, có vị nghiền nát bằng đá. |
|
188. Udakorohanā keci sāyaṃ pāto suciratā,
|
188. Một số vị ưa thích sự tẩy sạch (tội) có sự lội xuống nước sáng tối, một số vị thực hiện việc rải rắc nước (ở cơ thể); những người học trò của tôi khó mà tiếp cận. |
|
189. Parūḷhakacchanakhalomā paṅkadantā
rajassirā, |
189. (Một số vị) có lông ở nách và móng tay chân được để dài, có răng dính bựa, có đầu vấy bụi, được tẩm hương bằng hương thơm của giới hạnh; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận. |
|
190. Pātova sannipatitvā jaṭilā
uggatāpanā, |
190. Khi ấy, các vị đạo sĩ tóc bện có khổ hạnh cao tột đã tụ hội lại vào sáng sớm, sau khi giải thích sự thành công và thất bại rồi ra đi ở trên không trung. |
|
191. Etesaṃ pakkamantānaṃ mahāsaddo
pavattati, |
191. Trong khi những vị này ra đi, có tiếng động ồn ào phát ra bởi âm thanh của các tấm da dê khiến chư Thiên được hoan hỷ. |
|
192. Diso disaṃ pakkamanti antalikkhacarā
isī, |
192. Có sự di chuyển ở không trung, các vi ẩn sĩ ra đi phương này phương khác. Được nâng đỡ bởi năng lực của mình, các vị ấy ra đi theo như ước muốn. |
|
193. Paṭhavīkampakā ete sabbeva
nabhacārino, |
193. Chính tất cả các vị di chuyển ở hư không này là những vị làm rung chuyển trái đất, có oai lực nổi bật, khó mà khuất phục, tợ như biển cả là không bị xao động. |
|
194. Ṭhānacaṅkamino keci keci nesajjikā
isī, |
194. Một số vị ẩn sĩ có hạnh đứng và đi kinh hành, một số vị có hạnh ngồi, một số vị có vật thực đã được rơi xuống; những người học trò của tôi khó mà tiếp cận. |
|
195. Mettāvihārino ete hitesī
sabbapāṇinaṃ, |
195. Những vị này an trú tâm từ, tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh. Tất cả các vị ấy không ca ngợi về bản thân và không khinh miệt bất cứ ai. |
|
196. Sīharājāva ’sambhītā gajarājāva
thamavā, |
196. Không bị hãi sợ như là sư tử chúa, có sức mạnh như là voi chúa, khó mà tiếp cận như là loài hổ, các vị đi đến gặp tôi. |
|
197. Vijjādharā devatā ca
nāgāgandhabbarakkhasā, |
197. Các thầy về pháp thuật, chư Thiên, các loài rồng, càn-thát-bà, loài quỷ dữ, loài quỷ sứ, người khổng lồ, loài nhân điểu sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
198. Te jaṭākhāribharitā ajinuttaravāsanā,
|
198. Các vị ấy mang búi tóc và túi vật dụng, có y choàng là tấm da dê. Là những vị di chuyển ở không trung, tất cả sống nương tựa vào hồ nước ấy. |
|
199. Sadānucchavikā ete aññamaññaṃ sagāravā, |
199. Các vị này luôn luôn (có hành vi) đúng đắn, có sự kính trọng lẫn nhau. Trong số hai mươi bốn ngàn vị, tiếng động hỉ mũi không được biết đến. |
|
200. Pāde pādaṃ nikkhipantā appasaddā susaṃvutā, |
200. (Các vị) khéo được thu thúc, trong khi đặt xuống từng bước từng bước chân, có ít tiếng động, sau khi đến gần, tất cả đều đê đầu đảnh lễ tôi. |
|
201. Tehi sissehi parivuto santehi ca
tapassihi, |
201. Được vây quanh bởi những người học trò thanh tịnh và khổ hạnh ấy, tôi sống tại nơi ấy, ở khu ẩn cư, có thiền chứng, được thỏa thích về thiền. |
|
202. Isīnaṃ sīlagandhena pupphagandhena
cūbhayaṃ, |
202. Khu ẩn cư được tỏa hương với hương thơm trái cây của các cây cho quả và hai loại hương thơm giới hạnh của các vị ẩn sĩ và hương thơm của các bông hoa. |
|
203. Rattindivaṃ na jānāmi arati me na
vijjati, |
203. Tôi không biết đến ngày và đêm, sự thù ghét ở tôi không được biết đến. Trong khi giáo huấn những người học trò của mình, tôi đạt được niềm vui dào dạt. |
|
204. Pupphānaṃ pupphamānānaṃ phaḷānañca
vipaccataṃ |
204. Trong khi các bông hoa đang trổ hoa và những trái cây đang kết trái, các hương thơm của cõi trời tỏa ra điểm tô khu ẩn cư của tôi được phần rực rỡ. |
|
205. Samādhimhā vuṭṭhahitvā ātāpī nipako ahaṃ, |
205. Khi ấy, là người có nhiệt tâm, cẩn trọng, sau khi xuất khỏi định, tôi đã cầm lấy túi vật dụng rồi đi sâu vào rừng. |
|
206. Uppāte supine cāpi lakkhaṇesu
susikkhito, |
206. Khi ấy, tôi đã khéo được học tập về các hiện tướng và luôn cả về giấc mơ đã được khởi lên, tôi duy trì câu chú thuật đang được hiện hành. |
|
207. Anomadassī bhagavā lokajeṭṭho
narāsabho, |
207. Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, đấng Toàn Giác có ước muốn độc cư nên đã đi đến núi Hi-mã-lạp. |
|
208. Ajjhogahetvā himavantaṃ aggo kāruṇiko
muni, |
208. Sau khi đã đi sâu vào núi Hi-mã-lạp, đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí, đấng Tối Thượng Nhân đã xếp chân thế kiết già rồi ngồi xuống. |
|
209. Tatth’ addasāsiṃ sambuddhaṃ
sappabhāsaṃ manoramaṃ, |
209. Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác có vẻ ngời sáng làm thích ý, được chói sáng như là bông hoa súng, được cháy rực như là ngọn lửa tế thần. |
|
210. Jalantaṃ dīparukkhaṃ’va vijjuṃ ’va
gagane yathā, |
210. Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian ví như cây đèn đang chiếu sáng, như là tia chớp ở bầu trời, tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa. |
|
211. Ayaṃ nāgo mahāvīro dukkhass’ antakaro
muni, |
211. Bậc Cao Quý này là đấng Đại Hùng, vị Đoạn Tận khổ đau, bậc Hiền Trí, Sau khi đi đến nhìn thấy vị này, toàn bộ khổ đau được phóng thích. |
|
212. Disvān’ ahaṃ devadevaṃ lakkhaṇaṃ upadhārayiṃ, |
212. Sau khi nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, tôi đã suy xét về tướng mạo: “Là đức Phật hay không phải là đức Phật? Vậy ta hãy quan sát bậc Hữu Nhãn.” |
|
213. Sahassārāni cakkāni dissanti
caraṇuttame, |
213. Những bánh xe có ngàn căm được nhìn thấy ở lòng bàn chân cao quý. Sau khi nhìn thấy những tướng mạo của Ngài, tôi đã đi đến quyết định về đức Như Lai. |
|
214. Sammajjaniṃ gahetvāna sammajjitvān’
ahaṃ tadā, |
214. Khi ấy, tôi đã cầm lấy chiếc chổi và đã quét dọn. Và sau khi tự mình mang lại những đóa hoa, tôi đã cúng dường đến đức Phật tối thượng. |
|
215. Pūjayitvāna sambuddhaṃ
oghatiṇṇamanāsavaṃ, |
215. Sau khi đã cúng dường đến bậc Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc, tôi đã khoác tấm da dê một bên vai rồi đã lễ bái đấng Lãnh Đạo Thế Gian (và đã nói rằng): |
|
216. Yena ñāṇena sambuddho viharittha
anāsavo, |
216. “Đấng Toàn Giác bậc không còn lậu hoặc sống ở thế gian này với trí tuệ nào, tôi sẽ tán dương trí tuệ ấy. Xin các người hãy lắng nghe tôi nói. |
|
217. Samuddharas’imaṃ lokaṃ sayambhū
amitodaya, |
217. Bạch đấng Tự Chủ có sự tấn hóa vô lượng, xin Ngài hãy tiếp độ thế gian này. Sau khi đi đến nhìn thấy Ngài, những người ấy vượt qua dòng nước nghi hoặc. |
|
218. Tuvaṃ satthā ca ketu ca dhajo yūpo ca
pāṇinaṃ, |
218. Bạch đấng Tối Thượng của loài người, Ngài là bậc thầy, là cờ hiệu, là biểu hiệu, là mục đích tối cao, là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ, là ngọn đèn của chúng sanh. |
|
219. Sakkā samudde udakaṃ pametuṃ āḷhakena
vā, |
219. Bạch đấng Toàn Tri, có thể đo lường nước ở biển cả bằng vật chứa, nhưng không thể nào đo lường trí tuệ của Ngài. |
|
220. Dharetuṃ paṭhaviṃ sakkā ṭhapetvā
tulamaṇḍale, |
220. Bạch đấng Toàn Tri, có thể nắm lấy trái đất đặt vào đĩa cân, nhưng không thể nào nắm lấy trí tuệ Toàn Tri của Ngài. |
|
221. Ākāsaṃ minituṃ sakkā rajjuyā aṅgulena
vā, |
221. Bạch đấng Toàn Tri, có thể đo đạc bầu trời bằng sợi dây thừng hoặc bằng ngón tay, nhưng không thể nào đo lường trí tuệ của Ngài. |
|
222. Mahāsamudde udakaṃ paṭhaviṃ c’
ākhilaṃ jahe, |
222. (Trí tuệ của đức Phật) vượt hẳn nước trong đại dương và đất liền rắn rỏi. So sánh với trí tuệ của đức Phật không gì được xem là tương đương. |
|
223. Sadevakassa lokassa cittaṃ yesaṃ
pavattati, |
223. Bạch đấng Hữu Nhãn, ở thế gian luôn cả chư Thiên những ai có tâm (được) vận hành, họ đều đi vào trong màng lưới ở trí tuệ của Ngài. |
|
224. Yena ñāṇena pattosi kevalaṃ
bodhimuttamaṃ, |
224. Bạch đấng Toàn Tri, bằng trí tuệ nào Ngài (đã) chứng đạt sự Giác Ngộ tối thượng toàn vẹn thì bằng trí tuệ ấy Ngài (đã) chế ngự các ngoại đạo khác.” |
|
225. Imā gāthā
thavitvāna surucī nāma tāpaso, |
225. Sau khi ngợi ca bằng các câu kệ này, vị đạo sĩ khổ hạnh tên Surucī ấy đã trải ra tấm da dê ở trên mặt đất rồi đã ngồi xuống. |
|
226.
Cullāsītisahassāni ajjhogāḷho mahaṇṇave, |
226. Được truyền tụng rằng ngọn núi chúa (Neru) đã chìm sâu vào trong đại dương tám mươi bốn ngàn (do-tuần) và đã vươn cao đến tận cõi Trời (cũng với khoảng cách như thế). |
|
227. Tāva
accuggato neru āyato vitthato ca so, |
227. Ngọn núi Neru ấy đã vươn cao đến chừng ấy về chiều dài và chiều rộng. Nó đã bị nghiền nát thành trăm ngàn koṭi mảnh vụn nhỏ. |
|
228. Lakkhe
ṭhapiyamānamhi parikkhayamagacchatha, |
228. “Bạch đấng Toàn Tri, trong khi được xếp thành từng nhóm một trăm ngàn những mảnh vụn nhỏ ấy đã đi đến sự chấm dứt, nhưng trí tuệ của Ngài vẫn không thể nào đo lường được. |
|
229.
Sukhumacchikena jālena udakaṃ yo parikkhipe, |
229. Nếu người nào rào quanh nước bằng tấm lưới có lỗ nhỏ, thì bất cứ các chúng sanh ở trong nước đều có thể rơi vào trong tấm lưới. |
|
230. Tatheva hi
mahāvīra ye keci puthu titthiyā, |
230. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế những người nào là phàm phu ngoại đạo đang lao theo việc nắm bắt tà kiến, và đã bị mê muội bởi sự tiếp xúc. |
|
231. Tava
suddhena ñāṇena anāvaraṇadassinā, |
231. Do trí tuệ trong sạch và tầm nhìn không bị che lấp của Ngài, những người đã đi vào trong mạng lưới không vượt hơn trí tuệ của Ngài.” |
|
232. Bhagavā
tamhi samaye anomadassī mahāyaso, |
232. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn Anomadassī, đấng Chiến Thắng có danh vọng lớn lao, sau khi xuất khỏi thiền định, đã quan sát phương hướng. |
|
233.
Anomadassimunino nisabho nāma sāvako, 234. Khīṇāsavehi
suddhehi chaḷabhiññehi jhāyihi,
|
233 - 234. Vị Thinh Văn của bậc Hiền Trí Anomadassī tên là Nisabha được tháp tùng bởi một trăm ngàn vị có tâm an tịnh như thế ấy, có các lậu hoặc đã được cạn kiệt, được trong sạch, có sáu thắng trí, có thiền chứng. Sau khi biết được tâm của đức Phật, vị ấy đã đi đến gần đấng Lãnh Đạo Thế Gian. |
|
235. Antalikkhe
ṭhitā tattha padakkhiṇamakaṃsu te, |
235. Tại nơi ấy, đứng ở trên không trung các vị ấy đã đi nhiễu quanh, tay chắp lên lễ bái, rồi đã đáp xuống ở nơi đức Phật. |
|
236.
Anomadasasī bhagavā lokajeṭṭho narāsabho, |
236. Đức Thế Tôn Anomadasasī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Chiến Thắng đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và đã để lộ nụ cười. |
|
237. Varuṇo nām’
upaṭṭhāko sabbaññussa mahesino,
|
237. Vị thị giả của đấng Toàn Tri bậc Đại Ẩn Sĩ, có tên là Varuṇa, sau khi đắp y một bên vai, đã hỏi đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng: |
|
238. “Ko nu kho
bhagavā hetu sitakammassa satthuno?
|
238. “Bạch đức Thế Tôn, điều gì là nguyên nhân của nụ cười của bậc Đạo Sư? Bởi vì không có nguyên nhân chư Phật ấy không để lộ nụ cười.” |
|
239. Anomadassī
bhagavā lokajeṭṭho narāsabho, |
239. Đức Thế Tôn Anomadasasī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã ngồi xuống ở giữa hội chúng và đã nói lên lời kệ này: |
|
240. “Yo maṃ
pupphena pūjesi ñāṇañcāpi anutthavi, |
240. “Người nào đã cúng dường Ta bằng bông hoa và cũng đã ngợi ca trí tuệ (của Ta), Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.” |
|
241. Buddhassa
giramaññāya sabbe devā samāgatā, |
241. Nhận biết lời nói của đức Phật, tất cả chư Thiên đã tụ hội lại. Có ước muốn được nghe Chánh Pháp, các vị ấy đã đi đến gần đấng Toàn Giác. |
|
242. Dasasū
lokadhātūsu devatā yā mahiddhikā,
|
242. Chư Thiên có đại thần lực ở trong mười thế giới, các vị nào có ước muốn được nghe Chánh Pháp, các vị ấy đã đi đến gần đấng Toàn Giác. |
|
243. “Hatthi assā rathā pattī senā ca caturaṅginī, parivāressant’ imaṃ niccaṃ buddhapūjāy’ idaṃ phalaṃ.
|
243. “Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật. |
|
244.
Saṭṭhituriyasahassāni bheriyo samalaṅkatā, |
244. Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được trang điểm sẽ thường xuyên phục vụ người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật. |
|
245.
Soḷasitthisahassāni nāriyo samalaṅkatā, |
245. Mười sáu ngàn phụ nữ được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni. |
|
246. Aḷārapamhā
hasulā susaññā tanumajjhimā, |
246. Có lông mi cong, có nụ cười, có điệu bộ duyên dáng, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật. |
|
247.
Kappasatasahassāni devaloke ramissati, |
247. Người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một trăm ngàn kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở quốc độ một ngàn lần. |
|
248.
Sahassakkhattuṃ devindo devarajjaṃ karissati, |
248. Và sẽ là vị Chủa của chư Thiên cai quản Thiên quốc một ngàn lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. |
|
249.
Pacchimabhave sampatte manussattaṃ gamissati, |
249. Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, người này sẽ đi đến bản thể nhân loại. Người nữ Bà-la-môn tên Sāriyā sẽ mang bào thai (người này). |
|
250. Mātuyā
nāmagottena paññāyissat’ ayaṃ naro, |
250. Người nam này sẽ được biết đến với danh hiệu dòng họ của người mẹ, và sẽ có trí tuệ sắc bén với tên là Sāriputta. |
|
251. Asītikoṭī
chaḍḍetvā pabbajissat’ akiñcano, |
251. Sau khi lìa bỏ tám mươi koṭi người này sẽ xuất gia, không còn sở hữu gì. Trong khi tầm cầu vị thế an tịnh, người này sẽ lang thang ở trái đất. |
|
252. Aparimeyye
ito kappe okkākakulasambhavo, |
252. Vô lượng kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. |
|
253. Tassa
dhammesu dāyādo oraso dhammanimmito, |
253. Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống,[1] được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ trở thành vị Thinh Văn hàng đầu với tên là Sāriputta. |
|
254. Ayaṃ
bhāgīrathī gaṅgā himavantā pabhāvitā, |
254. Được phát xuất từ núi Hi-mã-lạp, con sông Bhāgīrathī này đổ về biển cả, làm hài lòng đại dương. |
|
255. Tath’
evāyaṃ sāriputto sake tīsu visārado, |
255. Tương tợ y như thế, vị Sāriputta này, được tự tin vào ba bộ Kinh Vệ Đà, sẽ đi đến sự toàn hảo về trí tuệ, và sẽ làm hài lòng các chúng sinh. |
|
256. Himavantaṃ
upādāya sāgarañca mahodadhiṃ, |
256. Bắt nguồn từ núi Hi-mã-lạp cho đến biển cả và đại dương, số lượng cát ở vào khoảng giữa ấy là không thể ước lượng bằng cách tính đếm.[2] |
|
257. Tampi sakkā
asesena saṅkhātuṃ gaṇanā yathā,
|
257. Mặc dầu có thể tính toán đầy đủ số lượng cát ấy theo cách tính đếm, nhưng sẽ không có mức tận cùng ở trí tuệ của Sāriputta (theo cách tính đếm ấy). |
|
258. Lakkhe
ṭhapiyamānamhi khīye gaṅgāya vālukā, |
258. Trong khi đang được tồn tại ở dạng hạt nhỏ, cát của dòng sông có thể bị cạn kiệt, nhưng sẽ không có mức tận cùng ở trí tuệ của Sāriputta. |
|
259. Mahāsamudde
ūmiyo gaṇanāto asaṅkhiyā,
|
259. Các làn sóng của biển cả là không thể ước lượng bằng cách tính đếm, tương tợ y như thế sẽ không có điểm tận cùng về trí tuệ của Sāriputta. |
|
260.
Ārādhayitvā sambuddhaṃ gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ, |
260. Người này sẽ làm hài lòng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quý dòng Sakya, sẽ đi đến sự toàn hảo về trí tuệ, và sẽ trở thành vị Thinh Văn hàng đầu. |
|
261. Pavattitaṃ
dhammacakkaṃ sakyaputtena tādinā, |
261. Trong khi làm đổ mưa những cơn mưa Giáo Pháp, người này sẽ tiếp tục vận hành đúng đắn bánh xe Pháp đã được chuyển vận bởi người con trai dòng Sakya như thế ấy. |
|
262. Sabbametaṃ
abhiññāya gotamo sakyapuṅgavo, |
262. Sau khi biết rõ tất cả điều này, đức Gotama bậc cao quý dòng Sakya sẽ ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu và sẽ thiết lập (người này) vào vị thế tối thắng.” |
|
263. Aho me
sukataṃ kammaṃ anomadassissa satthuno, |
263. Ôi, việc làm đã khéo được thực hiện bởi tôi đến bậc Đạo Sư Anomadasasī! Sau khi thể hiện sự tôn kính đến vị ấy, tôi đã đạt đến sự toàn hảo về mọi phương diện. |
|
264. Aparimeyye
kataṃ kammaṃ phalaṃ dassesi me idha, |
264. Việc làm đã được thực hiện ở vô lượng kiếp (trước đây) đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não của tôi. |
|
265. Asaṅkhataṃ
gavesanto nibbāṇaṃ acalaṃ padaṃ, |
265. Lúc bấy giờ, trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác Niết Bàn là vị thế không bị lay chuyển, trong lúc xem xét tất cả các ngoại đạo, tôi đã luân hồi ở cõi hữu. |
|
266. Yathāpi
vyādhito poso pariyeseyya osadhaṃ,
|
266. Cũng giống như người bị bệnh nên tìm kiếm phương linh dược, nên xem xét toàn bộ khu rừng nhằm thoát khỏi cơn bệnh. |
|
267. Asaṅkhataṃ
gavesanto nibbāṇaṃ amataṃ padaṃ, |
267. Trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác Niết Bàn là vị thế Bất Tử, tôi đã xuất gia vào đời tu ẩn sĩ liên tục năm trăm kiếp sống. |
|
268.
Jaṭābhārena bharito ajinuttaranivāsano, |
268. Tôi đã duy trì búi tóc bện, có y choàng là tấm da dê, tôi đã đạt đến sự toàn hảo về thắng trí và đã đi đến thế giới Phạm Thiên. |
|
269. Natthi
bāhirake suddhi ṭhapetvā jinasāsanaṃ, |
269. Ngoại trừ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, không có sự thanh tịnh ở ngoại giáo. Thật vậy, bất cứ chúng sanh nào có trí giác ngộ đều được trở nên thanh tịnh trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. |
|
270.
Attakāramayaṃ etaṃ nayidaṃ itihītihaṃ, |
270. Pháp (thanh tịnh) này là sự tạo thành do hành động của bản thân, pháp này không là sự truyền tụng. Trong lúc tầm cầu pháp không tạo tác, tôi đã thân cận ngoại đạo xấu xa. |
|
271. Yathā
sāratthiko poso kadaliṃ chetvāna phālaye, |
271. Giống như người tầm cầu lõi cây, sau khi đốn ngã cây chuối rồi chẻ hai, không thể tìm thấy lõi cây ở nơi ấy bởi vì cây chuối là không có lõi. |
|
272. Tatheva
titthiyā loke nānādiṭṭhī bahujjanā, |
272. Tương tợ y như thế, các ngoại đạo ở thế gian và số đông người với những tà kiến khác nhau là vắng bóng Niết Bàn, giống như cây chuối là không có lõi. |
|
273.
Pacchimabhave sampatte brahmabandhu ahos’ ahaṃ, |
273. Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đã là thân quyến của Phạm Thiên.[3] Sau khi từ bỏ của cải lớn lao, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình |
|
(Paṭhamabhāṇavāraṃ). |
(Tụng Phẩm thứ nhất). |
|
274. Ajjhāyako
mantadharo tiṇṇaṃ vedāna pāragū, |
274. Vị Bà-la-môn tên Sañjaya là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi sống dưới sự hướng dẫn của vị ấy.[4] |
|
275. Sāvako te
mahāvīra assaji nāma brāhmaṇo, |
275. Bạch đấng Đại Hùng, vị Bà-la-môn tên Assaji là Thinh Văn của Ngài, khó mà tiếp cận, có oai lực nổi bật, khi ấy (đang) đi khất thực. |
|
276.
Tamaddasāsiṃ sappaññaṃ muniṃ mone samāhitaṃ, |
276. Tôi đã nhìn thấy bậc hiền trí ấy, có trí tuệ, được định tĩnh trong sự sáng suốt, có tâm thanh tịnh, là bậc Long Tượng, tợ như đóa sen khéo được nở rộ. |
|
277. Disvā me
cittamuppajji sudantaṃ suddhamānasaṃ, |
277. Sau khi nhìn thấy vị anh hùng ưu tú, cao quý, khéo được rèn luyện, có tâm ý thanh tịnh, tâm của tôi đã khởi lên rằng: “Phải chăng vị này là A-la-hán? |
|
278. Pāsādiko
iriyati abhirūpo susaṃvuto, |
278. Phải chăng con người đáng mến, biết cách xử trí, có dáng vóc lịch sự, khéo thu thúc, đã được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, là người nhìn thấy sự Bất Tử? |
|
279. Yannūnāhaṃ
uttamatthaṃ puccheyyaṃ tuṭṭhamānasaṃ, |
279. Hay là ta nên hỏi con người có tâm ý hớn hở về mục đích tối thượng? Được ta hỏi, vị ấy sẽ trả lời. Khi ấy, ta hãy hỏi tiếp.” |
|
280. Piṇḍapātaṃ
carantassa pacchato agamās’ ahaṃ, |
280. Trong khi vị ấy đang đi khất thực, tôi đã đi ở phía sau chờ đợi cơ hội để hỏi về vị thế Bất Tử. |
|
281. Vīthantare
anuppattaṃ upagantvāna pucch’ ahaṃ, |
281. Khi vị ấy đi đến giữa đường, tôi đã đi đến gần và đã hỏi rằng: “Thưa vị anh hùng, ngài có dòng họ thế nào? Thưa ngài, ngài là học trò của vị nào?” |
|
282. So me
puṭṭho viyākāsi asambhītova kesarī, |
282. Được tôi hỏi, tợ như con sư tử không bị hãi sợ vị ấy đã trả lời rằng: “Này đạo hữu, đức Phật đã xuất hiện ở thế gian, tôi là học trò của Ngài ấy.” |
|
283. Kīdisaṃ te
mahāvīra anujāta mahāyasa, |
283. “Thưa vị đại anh hùng, người nối dõi (đức Phật), bậc có danh vọng lớn lao, Giáo Pháp lời dạy của đức Phật là như thế nào? Thưa ngài, xin ngài hãy thuyết giảng tận tường cho tôi.” |
|
284. So me
puṭṭho kathī sabbaṃ gambhīraṃ nipuṇaṃ padaṃ, |
284. Được tôi hỏi, vị ấy đã thuyết giảng về toàn bộ Đạo Lộ thâm sâu vi tế, là pháp tiêu diệt mũi tên tham ái, có sự xua đi tất cả khổ đau (như vầy): |
|
285. “Ye dhammā
hetuppabhavā tesaṃ hetuṃ tathāgato āha, |
285. “Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.” |
|
286. So ’haṃ
vissajjite pañhe paṭhamaṃ phalamajjhagaṃ, |
286. Khi câu hỏi vừa được trả lời, tôi đây đã chứng đắc Quả vị thứ nhất. Sau khi lắng nghe lời dạy của đấng Chiến Thắng, tôi đã trở nên không còn vấy bụi, không còn nhơ bẩn. |
|
287. Sutvāna
munino vākyaṃ passitvā dhammamuttamaṃ, |
287. Sau khi lắng nghe lời nói của bậc hiền trí, sau khi nhìn thấy Giáo Pháp tối thượng, với Chánh Pháp đã được thâm nhập tôi đã nói lên lời kệ ngôn này: |
|
288. “Es’ eva
dhammo yadi tāvadeva paccabyathā padamasokaṃ,
|
288. “Đây chính là Giáo Pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi đã thấu triệt được Niết Bàn không sầu muộn (là pháp) đã không được nhìn thấy, đã bị trôi qua trong hàng vạn kiếp sống.” |
|
289. Svāhaṃ
dhammaṃ gavesanto kutitthe sañcariṃ ahaṃ, |
289. Trong lúc tầm cầu Giáo Pháp, tôi đây đã thân cận ngoại đạo xấu xa. Tôi đã đạt đến mục đích ấy, tôi không còn thời gian để xao lãng. |
|
290. Tosito
’haṃ assajinā patvāna acalaṃ padaṃ, |
290. Tôi đã được vị Assaji làm cho hoan hỷ. Sau khi đạt đến vị thế Bất Động, trong khi tìm kiếm người bạn, tôi đã đi đến khu ẩn cư. |
|
291. Dūratova
mamaṃ disvā sahāyo me susikkhito, |
291. Sau khi nhìn thấy tôi ngay từ đàng xa, bạn của tôi, là người khéo được học tập, thành tựu bốn oai nghi, đã nói lên lời nói này: |
|
292.
Pasannamukhanetto ’si munibhāvova dissati,
|
292. “Bạn có khuôn mặt và ánh mắt an tịnh, dường như bản thể hiền trí đã được (bạn) nhìn thấy. Phải chăng bạn đã chứng đắc sự Bất Tử, Niết Bàn, vị thế trường cửu? |
|
293.
Subhānurūpo āyāsi āneñjakārito viya, |
293. Bạn đạt đến điều xứng đáng với sự tốt đẹp, được làm cho trở thành điềm đạm như là con voi đã được chế ngự trong giai đoạn thuần hóa. Này người Bà-la-môn, phải chăng bạn được an tịnh?” |
|
294. Amataṃ
mayā adhigataṃ sokasallapanūdanaṃ, |
294. “Sự Bất Tử có sự xua đi mũi tên sầu muộn đã được tôi chứng đắc. Bạn cũng vậy, hãy chứng đắc điều ấy. Chúng ta hãy đi đến gặp đức Phật.” |
|
295. ‘Sādhū’ti so
paṭissutvā sahāyo me susikkhito,
|
295. Sau khi đáp lại rằng: “Lành thay!” bạn của con là người khéo được học tập đã dùng tay nắm lấy tay con và đã đi đến gặp Ngài. |
|
296. Ubhopi
pabbajissāma sakyaputta tav’ antike, |
296. Bạch người con trai dòng Sakya, cả hai chúng con cũng sẽ xuất gia trong sự chứng minh của Ngài. Sau khi đi đến Giáo Pháp của Ngài, chúng con sống không còn lậu hoặc. |
|
297. Kolito
iddhiyā seṭṭho ahaṃ paññāya pārago, |
297. Kolita là đứng đầu về thần thông, còn con có sự đạt đến bờ kia về trí tuệ. Chính cả hai chúng con đã hợp nhất làm rạng rỡ Giáo Pháp. |
|
298.
Apariyositasaṅkappo kutitthe sañcariṃ ahaṃ,
|
298. Có ước nguyện chưa được hoàn thành, con đã thân cận ngoại đạo xấu xa. Sau khi đi đến diện kiến Ngài, ước nguyện của con đã được tròn đủ. |
|
299. Paṭhaviyaṃ
patiṭṭhāya pupphanti samaye dumā, |
299. Sau khi đã thiết lập ở trên trái đất, các cây cối nở hoa lúc vào mùa. Chúng tỏa ra các hương thơm của cõi trời và làm cho tất cả chúng sinh hoan hỷ. |
|
300. Tathevāhaṃ
mahāvīra sakyaputta mahāyasa, |
300. Bạch đấng Đại Hùng, bạch người con trai dòng Sakya có danh vọng lớn lao, tương tợ như thế ấy, sau khi đã thiết lập ở trong Giáo Pháp của Ngài, con tầm cầu thời điểm để trổ hoa. |
|
301.
Vimuttipupphaṃ esanto bhavasaṃsāramocanaṃ, |
301. Trong lúc tầm cầu bông hoa giải thoát là việc ra khỏi sự luân hồi ở các cõi, với sự đạt được bông hoa giải thoát, con làm cho tất cả chúng sinh được hoan hỷ. |
|
302. Yāvatā
buddhakhettamhi ṭhapetvāna mahāmuniṃ, |
302. Bạch đấng Hữu Nhãn, cho đến địa phận của chư Phật ngoại trừ bậc Hiền Trí, không gì sánh bằng với tuệ của người con trai của Ngài. |
|
303. Suvinītā ca te
sissā parisā ca susikkhitā, |
303. Được thuần phục trong sự thuần hóa tối thượng, những người học trò đã khéo được huấn luyện và hội chúng đã khéo được học tập ấy luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
304. Jhāyī
jhānaratā dhīrā santacittā samāhitā, |
304. Là những bậc trí tuệ, chứng thiền, thỏa thích về thiền, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, các bậc hiền trí được thành tựu sự tốt đẹp về đạo đức luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
305. Appicchā
nipakā dhīrā appāhārā ālolupā, |
305. Là những bậc trí tuệ, ít đòi hỏi, cẩn trọng, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, hài lòng với việc có hay không có, các vị luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
306. Āraññakā
dhutadharā jhāyino lūkhacīvarā, |
306. Là những bậc trí tuệ chuyên sống ở rừng, thông thạo pháp giũ bỏ (đầu đà), chứng thiền, mặc y thô, thỏa thích sự độc cư, các vị luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
307. Paṭipannā
phalaṭṭhā ca sekhā phalasamaṅgino, |
307. Là những vị thực hành (bốn Đạo) trú vào Quả vị (A-la-hán), và những vị Hữu Học có thành tựu Quả vị, các vị có sự mong mỏi mục đích tối thượng luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
308. Sotāpannā
ca vimalā sakadāgāmino ca ye, |
308. Các vị là bậc Nhập Lưu không còn nhơ bẩn, các vị là bậc Nhất Lai, các vị Bất Lai, và các vị A-la-hán luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
309.
Satipaṭṭhānakusalā bojjhaṅgabhāvanāratā, |
309. Các bậc Thinh Văn ấy, có nhiều vị được thiện xảo về các pháp thiết lập niệm, được thỏa thích trong việc tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ, tất cả luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
310.
Iddhipādesu kusalā samādhibhāvanāratā, |
310. Được thiện xảo về các nền tảng của thần thông, được thỏa thích trong việc tu tập định, được gắn bó vào chánh tinh tấn, các vị luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
311. Tevijjā
chaḷabhiññā ca iddhiyā pāramiṃ gatā, |
311. Các vị có ba minh và sáu thắng trí, đã đi đến sự toàn hảo về thần thông, đã đạt được sự toàn hảo về tuệ, luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
312. Edisā te
mahāvīra tava sissā susikkhitā, |
312. Bạch đấng Đại Hùng, các vị học trò như thế ấy của Ngài đã khéo được học tập, khó mà tiếp cận, có oai lực nổi bật, luôn luôn tháp tùng Ngài. |
|
313. Tehi
sissehi parivuto saññatehi tapassihi, |
313. Được tháp tùng bởi những người học trò thu thúc, nhiệt tình ấy, Ngài tợ như (con sư tử) vua của loài thú không bị hãi sợ, tợ như (mặt trăng) vua của các vì sao chiếu sáng rực rỡ. |
|
314. Paṭhaviyaṃ
patiṭṭhāya ruhanti dharaṇīruhā, |
314. Sau khi thiết lập ở trên trái đất, các loài thảo mộc phát triển. Chúng đạt được sự lớn mạnh và kết trái. |
|
315.
Paṭhavīsadiso tvaṃ ’si sakyaputta mahāyasa, |
315. Bạch người con trai dòng Sakya có danh vọng lớn lao, Ngài là tương tợ trái đất. Các vị ấy sau khi thiết lập ở Giáo Pháp đạt được quả vị Bất Tử. |
|
316. Sindhu
sarassatī ceva nadiyo candabhāgikā, |
316. Có các con sông Sindhu, luôn cả sông Sarassatī, sông Candabhāgikā, sông Gaṅgā, sông Yamunā, luôn cả sông Sarabhū, và sông Mahī. |
|
317. Etāsaṃ
sandamānānaṃ sāgaro sampaṭicchati, |
317. Khi những con sông này trôi chảy và biển cả tiếp nhận, những con sông này từ bỏ tên gọi trước đây và chỉ được biết đến ‘biển cả’ mà thôi. |
|
318. Tathev’
ime catubbaṇṇā pabbajitvā tav’ antike, |
318. Tương tợ y như thế, bốn giai cấp này sau khi xuất gia trong sự chứng minh của Ngài, các vị từ bỏ tên gọi trước đây và được biết đến là ‘người con trai của đức Phật.’ |
|
319. Yathāpi
cando vimalo gacchaṃ ākāsadhātuyā, |
319. Cũng giống như mặt trăng không bị vết nhơ trong lúc đang di chuyển ở bầu khí quyển vượt trội tất cả các quần thể tinh tú ở thế giới về ánh sáng. |
|
320. Tatheva tvaṃ
mahāvīra parivuto devamānuse,
|
320. Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, được tháp tùng bởi chư Thiên và nhân loại, Ngài vượt lên trên tất cả các hạng này. Ngài chói sáng vào mọi lúc. |
|
321. Gambhīre
uṭṭhitā ūmi na velaṃ ativattare, |
321. Được khởi lên từ dưới sâu, sóng không thể vượt qua được bờ biển. Tất cả các đợt sóng chạm đến bờ biển thì chúng tan tác trở thành bọt nước. |
|
322. Tatheva
titthiyā loke nānādiṭṭhī bahujjanā, |
322. 7Tương tợ y như thế, các ngoại đạo ở trên thế gian và nhiều người với các quan điểm khác nhau có ý định nói về giáo lý, bọn họ không vượt qua bậc Hiền Trí ấy. |
|
323. Sace ca
taṃ pāpuṇanti paṭivādehi cakkhuma, |
323. Và nếu họ đạt được điều ấy, bạch đấng Hữu Nhãn xin Ngài hãy đáp lại. Sau khi đi đến gặp Ngài, những người ấy trở thành như là bọt nước. |
|
324. Yathāpi
udake jātā kumudā mandālakā bahū, |
324. Cũng giống như giống cây kumuda, cây mandālaka, và nhiều loài cây khác được sanh ra ở trong nước, bị lấm nhơ bởi nước và bùn lầy. |
|
325. Tatheva
bahukā sattā loke jātā virūhare, |
325. Tương tợ y như thế, nhiều chúng sanh được sanh ra lớn lên ở trên đời bị sầu khổ bởi tham ái sân hận giống như cây kumuda ở bãi bùn vậy. |