Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
   
I. BUDDHAVAGGO I. PHẨM ĐỨC PHẬT TOÀN GIÁC:
   
A. Buddhāpadānaṃ A. Phật Toàn Giác Ký Sự:
1. Tathāgataṃ jetavane vasantaṃ apucchi vedehamunī nataṅgo, “Sabbaññubuddhā kira nāma honti bhavanti te hetuhi kehi vīra?” 1. Trong khi đức Như lai ngự tại Jetavana, bậc hiền trí xứ Videha[1] đã cúi mình hỏi Ngài rằng: “Bạch đấng Anh Hùng, nghe nói có các vị được gọi là đức Phật Toàn Tri, các vị ấy được thành tựu là do các nguyên nhân nào?
2. Tadā’ha sabbaññuvaro mahesī ānandabhaddaṃ madhurassarena,
ye pubbabuddhesu katādhikārā aladdhamokkhā jinasāsanesu.
2. Khi ấy, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Toàn Tri cao qu‎ý, đã nói với vị hiền nhân Ānanda bằng âm điệu ngọt ngào rằng: “Những vị nào có hành động hướng thượng đã được thực hiện đến chư Phật quá khứ, (nhưng) có sự giải thoát chưa được thành đạt trong các Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
3. Teneva sambodhimukhena dhīrā ajjhāsayenāpi mahābalena,
paññāya tejena sutikkhapaññā sabbaññubhāvaṃ anupāpuṇanti.
3. Chính nhờ vào yếu tố đầu tiên ấy đối với phẩm vị giác ngộ, đồng thời nhờ vào sự quyết định, nhờ vào năng lực lớn lao, và nhờ vào quyền lực của tuệ, những vị sáng suốt có trí tuệ vô cùng sắc bén thành tựu phẩm vị Toàn Tri.
4. Ahampi pubbabuddhesu buddhattamabhipatthayiṃ,
manasāyeva hutvāna dhammarājā asaṅkhiyā.
4. Các đấng Pháp Vương là (vô số) không thể đếm được. Ta cũng đã phát nguyện về bản thể giác ngộ ở nơi các vị Phật quá khứ, và đã được thành tựu dầu chỉ bằng tâm ý.
5. Atha buddhāpadānāni suṇātha suddhamānasā;
tiṃsapāramisampuṇṇā dhammarājā asaṅkhiyā.
5. Giờ đây, các ngươi với tâm ý thanh tịnh hãy lắng nghe các k‎ý sự về chư Phật Toàn Giác: Các đấng Pháp Vương đã được tròn đủ ba mươi pháp toàn hảo là (vô số) không thể đếm được.[2]
6. Sambodhiṃ buddhaseṭṭhānaṃ sasaṅghe lokanāyake,
dasaṅgulī namassitvā sirasā abhivādayiṃ.
6. Ta đã cung kính chắp mười ngón tay lại đê đầu lễ bái phẩm vị Toàn Giác của chư Phật Tối Thượng, (đảnh lễ) các đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với các Hội Chúng (Thinh Văn).[3]
7. Yāvatā buddhakhettesu ratanā vijjant’ asaṅkhiyā,
ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā manasā sabbamāhariṃ.
7. Cho đến các châu báu vô số kể được tìm thấy ở trên bầu trời và ở dưới mặt đất tại các địa phận của chư Phật (trong mười ngàn thế giới),[4] Ta đã mang lại toàn bộ (châu báu ấy) bằng tâm (chú nguyện).
8. Tattha rūpiyabhūmiyaṃ pāsādaṃ māpayiṃ ahaṃ,
nekabhummaṃ ratanamayaṃ ubbiddhaṃ nabhamuggataṃ.
8. Tại nơi ấy ở trên mặt đất bằng bạc, Ta đã hóa hiện ra tòa lâu đài làm bằng châu báu, có nhiều tầng lầu, có chiều cao vươn tận không trung.
9. Vicittathambhaṃ sukataṃ suvibhattaṃ mahārahaṃ,
kanakāmayasaṅghāṭaṃ toraṇacchattamaṇḍitaṃ.
9. (Tòa lâu đài) có trụ cột được tô điểm, khéo được thực hiện, khéo được phân bố, có giá trị lớn lao, có chỗ nối liền làm bằng vàng, được tô điểm bằng các cổng chào và các lọng che.
10. Paṭhamā veḷuriyā bhūmi vimalābbhasamā subhā,
nalinījalajākiṇṇavarakañcanabhūmiyā.
10. Tầng thứ nhất bằng ngọc bích xinh đẹp tương tợ bầu trời không chút bợn nhơ. Ở tầng lầu bằng vàng cao quý có hồ sen với những đóa hoa sen chen chúc.
11. Pavāḷaṃsā pavāḷavaṇṇā kāci lohitakā subhā,
indagopakavaṇṇābhā bhūmi obhāsatī disā.
11. Có tầng lầu làm bằng san hô với màu sắc của san hô, có tầng lầu màu đỏ xinh đẹp, có tầng lầu với ánh sáng màu cánh kiến đang chiếu sáng các phương.
12. Suvibhattā gharamukhā niyyūhā sīhapañjarā,
caturo vedikā jālagandhāvelamanoramā.
12. Có tiền sảnh khéo được phân bố, có các tháp nhọn, có các cửa ra vào hình sư tử, có bốn viền rào làm thích ý với những mạng lưới vòng hoa có hương thơm.
13. Nīlā pītā lohitā odātā suddhakāḷakā,
kūṭāgāravarūpetā sattaratanabhūsitā.
13. Có các nhà mái nhọn cao quý màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, và màu đen thuần khiết được điểm tô bằng bảy loại châu báu.
14. Olokamayā padumā vāḷavihagasobhitā,
nakkhattatārakākiṇṇā candasuriyehi maṇḍitā.
14. Có mặt tiền ở phần trên được rạng rỡ với các đóa hoa sen cùng với (hình ảnh) các loài thú dữ và chim muông, được trải ra với các chòm tinh tú và các vì sao, được điểm tô với mặt trăng và mặt trời.
15. Hemajālena sañchannā soṇṇakiṅkiṇikāyutā,
vātavegena kūjanti soṇṇamālā manoramā.
14. (Các tầng lầu) được che phủ bởi màn lưới bằng vàng có các chuông lục lạc bằng vàng. Các tràng hoa bằng vàng quyến rũ vang lên âm thanh nhờ vào sức đẩy của làn gió.
16. Mañjeṭṭhakaṃ lohitakaṃ pītakaṃ haripiñjaraṃ,
nānāraṅgehi suppitaṃ ussitaddhajamāliniṃ.
16. Có dãy cờ hiệu khéo nhuộm với các màu khác nhau là màu đỏ tía, màu đỏ, màu vàng, màu hồng được dựng lên.
17. Nānā bahū nekasatā phaḷikā rajatāmayā,
maṇimayā lohitaṅkā masāragallamayā tathā,
nānāsayanavicittā saṇhakāsikasanthatā.
17. Được tô điểm với nhiều kiểu giường được trải lên bằng các tấm vải mịn màng của xứ Ka-si, có đến hàng trăm chiếc giường bằng ngọc pha-lê, bằng bạc, bằng ngọc ma-ni, bằng hồng ngọc, và bằng đá quý tương tợ như thế.
18. Kambalā dukūlā cīnā pattuṇṇā paṇḍupāvurā,
vividhattharaṇaṃ sabbaṃ manasā paññapes’ahaṃ.
18. Có những tấm mền lông thú màu vàng úa được làm ở các xứ Dukūla, xứ Trung Hoa, và xứ Pattuṇṇa. Bằng tâm ý, Ta đã sắp xếp tất cả (các chiếc giường) với các tấm trải đủ các loại.
19. Tāsu tāsveva bhūmīsu ratanakūṭalaṅkatā,
maṇiverocanā ukkā dhārayantā sutiṭṭhare.
19. Ở khắp các tầng lầu, có những người đứng nghiêm cầm các ngọn đuốc làm bằng ngọc ma-ni đỏ được điểm tô bằng châu báu ở chóp nhọn.
20. Sobhanti esikāthambhā subhā kañcanatoraṇā,
jambonadā sāramayā atho rajatamayāpi ca.
20. Những cột trụ dựng đứng (ở cổng), những cổng chào xinh đẹp làm bằng vàng (được khai thác từ sông) Jambu, làm bằng lõi gỗ (cây khira), và còn làm bằng bạc nữa, (tất cả đều) chói sáng.
21. Nekā sandhī suvibhattā kavāṭaggaḷacittitā,
ubhato puṇṇaghaṭānekā padumuppalasaṃyutā.
21. Có nhiều gian tiếp giáp được khéo phân bố, được tô điểm với những cánh cửa và chốt khóa. Cả hai phía (của tòa lâu đài) đều có nhiều chậu chứa đầy những đóa sen đỏ và sen xanh.
22. Atīte sabbabuddhe ca sasaṅghe lokanāyake,
pakativaṇṇarūpena nimminitvā sasāvake.
22. Ta đã hóa hiện ra tất cả chư Phật thời quá khứ cùng với Hội Chúng và các đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng các vị Thinh Văn trong dáng vóc tự nhiên.
23. Tena dvārena pavisitvā sabbe buddhā sasāvakā,
sabbasovaṇṇaye pīṭhe nisinnā ariyamaṇḍalā.
23. Chư Phật cùng các vị Thinh Văn sau khi đi vào bằng cánh cửa ấy đã ngồi xuống ở ghế ngồi toàn bộ đều làm bằng vàng, (hình thành) đoàn thể các bậc Thánh Nhân.
24. Ye ca etarahi atthi buddhā loke anuttarā,
atītā vattamānā ca bhavanaṃ sabbe samāruhuṃ.
24. Và có những vị trong lúc này là các vị Phật vô thượng ở thế gian. (Chư Phật) quá khứ và hiện tại, tất cả các vị đã bước lên tòa lâu đài.
25. Paccekabuddhe nekasate sayambhū aparājite,
atīte vattamāne ca bhavanaṃ sabbe samāruhuṃ.
25. Hàng trăm vị Phật Độc Giác là các đấng Tự Chủ, là các bậc không bị khuất phục trong quá khứ và hiện tại, tất cả các vị đã bước lên tòa lâu đài.
26. Kapparukkhā bahū atthi ye dibbā ye ca mānusā,
sabbaṃ dussaṃ samāhatvā acchādemi ticīvarā.
26. Có nhiều cây như ý thuộc cõi trời và thuộc loài người, (từ những cây ấy) Ta đã mang lại toàn bộ vải vóc và đã khoác ba lá y lên (tất cả các vị ấy).
27. Khajjaṃ bhojjaṃ sāyanīyaṃ sampannaṃ pānabhojanaṃ,
maṇimaye subhe patte sampūretvā adāsahaṃ.
27. Ta đã chứa đầy các bình bát xinh đẹp làm bằng ngọc ma-ni với các vật thực cứng mềm đáng được thưởng thức, có đầy đủ nước uống và thức ăn, rồi đã dâng cúng (đến các vị ấy).

28. Dibbacakkhusamā hutvā maṭṭhacīvarasaṃyutā,
madhunā sakkharā ceva telena madhuphāṇitā.

29. Tappitā paramannena sabbe te ariyamaṇḍalā,
ratanagabbhaṃ pavisitvā kesarīva guhāsayā.

 
28-29. Tất cả các vị ấy, đoàn thể các bậc Thánh nhân, đều đồng đẳng về Thiên nhãn, gắn bó với tấm y thanh bạch. Được hài lòng với vật thực tối thắng (của Ta) gồm có mật ong, đường thô, luôn cả dầu ăn, và mật mía, (các vị) đã đi vào gian phòng làm bằng châu báu tợ như những con sư tử cư ngụ ở hang động.
30. Mahārahamhi sayane sīhaseyyamakappayuṃ,
sampajānā samuṭṭhāya sayane pallaṅkamābhujuṃ,
gocaraṃ sabbabuddhānaṃ jhānaratisamappitā.
30. Các vị đã nằm xuống với tư thế của loài sư tử ở chiếc giường vô cùng giá trị, có sự tỉnh thức, rồi đã ngồi dậy, và đã xếp vào tư thế kiết già ở trên chiếc giường, thể nhập vào sự thỏa thích trong thiền là hành xứ của tất cả chư Phật.
31. Aññe dhammāni desenti aññe kīḷanti iddhiyā,
aññe abhiññā appenti abhiññāvasibhāvitā,
vikubbanā vikubbanti aññe nekasahassiyo.
31. Một số vị khác thuyết giảng Giáo Pháp, một số vị khác tiêu khiển bằng thần thông, một số vị khác đã phát triển được năng lực của các thắng trí thì hướng tâm vào các thắng trí, hàng ngàn vị khác thể hiện các sự biến hóa về thần thông.
32. Buddhāpi buddhe pucchanti visayaṃ sabbaññumālayaṃ,
gambhīraṃ nipuṇaṃ ṭhānaṃ paññāya vinibujjhare.
32. Chư Phật cũng chất vấn chư Phật về chủ đề liên quan đến cảnh giới của các đấng Toàn Tri. Nhờ vào tuệ, các vị giác ngộ rốt ráo về sự việc một cách sâu sắc và hoàn hảo.
33. Sāvakā buddhe pucchanti buddhā pucchanti sāvake,
aññamaññaṃ ca pucchanti aññoññaṃ byākaronti te.
33. Các vị Thinh Văn chất vấn chư Phật, chư Phật chất vấn các vị Thinh Văn. Các vị ấy chất vấn lẫn nhau và trả lời cho nhau.
34. Buddhā paccekabuddhā ca sāvakā paricārakā,
evaṃ sakāya ratiyā pāsāde ’bhiramanti te.
34. Chư Phật Toàn Giác, chư Phật Độc Giác, chư Thinh Văn, và tín chúng, các vị ấy vui thích ở tòa lâu đài tùy theo sự thỏa thích của bản thân như vầy:

35. Chattā tiṭṭhantu ratanā kañcanāvelapantikā,
muttājālaparikkhittā sabbe dhārentu matthake.

 
35. ‘Nguyện cho những chiếc lọng che bằng châu báu với những chuỗi vòng hoa bằng vàng và những mạng lưới ngọc trai viền quanh được tồn tại, nguyện cho tất cả hãy duy trì ở trên đỉnh đầu (của tôi).’
36. Bhavantu ceḷavitānā soṇṇatārakacittitā,
vicittamālyavitānā sabbe dhārentu matthake.
36. ‘Nguyện cho những mái che bằng vải được tô điểm với những ngôi sao bằng vàng, những mái che được tô điểm với những tràng hoa hãy xuất hiện, nguyện cho tất cả hãy duy trì ở trên đỉnh đầu (của tôi).’
37. Vitatā mālyadāmehi gandhadāmehi sobhitā,
dussadāmehi parikiṇṇā ratanadāmavibhūsitā.
37. (Tòa lâu đài có hồ nước) được trải dài với những vòng hoa và chuỗi bông, được rạng rỡ với những chuỗi bông hoa thơm ngát, được viền quanh bằng những chuỗi vải vóc, được tô điểm bằng những chuỗi châu báu.
38. Pupphābhikiṇṇā sucittā surabhigandhadhūpitā,
gandhapañcaṅgulikatā hemacchadanachāditā.
38. (Hồ nước) được tô điểm với các đóa hoa chen chúc, được tỏa lên mùi hương thơm ngào ngạt, được thể hiện bởi năm loại hương thơm tổng hợp lại, được phủ lên bằng tấm che bằng vàng.
39. Catuddisā pokkharañño padumuppalasanthatā,
sovaṇṇarūpā khāyantu padumareṇurajuggatā.
39. ‘Nguyện cho bốn phía của hồ nước hãy biểu hiện màu sắc vàng chói với những sen hồng sen xanh được phơi bày, với các bụi phấn của hoa sen được tỏa ra.
40. Pupphantu pādapā sabbe pāsādassa samantato,
sayaṃ ca pupphā muñcitvā gantvā bhavanamokiruṃ.
40. ‘Nguyện cho các cây cối ở xung quanh tòa lâu đài hãy trổ hoa. Nguyện cho các bông hoa hãy tự mình phóng thích, đi đến, và rải rắc ở tòa lâu đài.’
41. Sikhino tattha naccantu dibbahaṃsā pakūjare,
karavīkā ca gāyantu dijasaṅghā samantato.
41. ‘Nguyện cho các con chim công ở tại nơi ấy hãy nhảy múa, các con thiên nga hãy líu lo, các con chim ca-lăng-tần-già và các bầy chim ở xung quanh hãy cất tiếng hót.’
42. Bheriyo sabbā vajjantu vīṇā sabbā ravantu tā,
sabbā saṃgīti vattantu pāsādassa samantato.
42. ‘Nguyện cho tất cả các chiếc trống hãy vang lên, tất cả các cây đàn vīṇā ấy hãy tấu nhạc. Nguyện cho tất cả các cuộc trì tụng (được) tiến hành ở xung quanh của tòa lâu đài.’
43. Yāvatā buddhakhettamhi cakkavāḷe tato pare,
mahantā jotisampannā acchiddā ratanāmayā.

44. Tiṭṭhantu soṇṇapallaṅkā dīparukkhā jalantu te,
bhavantu ekapajjotā dasasahassīparamparā.

43-44. ‘Nguyện cho những chiếc ghế bành bằng vàng khổng lồ, hội đủ hào quang, không bị hỏng hóc, làm bằng châu báu hãy tồn tại từ thế giới này đến thế giới khác cho đến địa phận của chư Phật. Nguyện cho những cây đèn ấy hãy chói sáng. Nguyện cho hệ thống mười ngàn (thế giới) hãy trở thành (sáng chói như là) một ngọn đèn.’
45. Gaṇikā lāsikā ceva naccantu accharāgaṇā,
nānāraṅgā padissantu pāsādassa samantato.
45. ‘Nguyện cho các kiều nữ luôn cả các vũ công, các toán mỹ nhân hãy nhảy múa. Nguyện cho các màn trình diễn khác lạ hãy được phô diễn ở xung quanh của tòa lâu đài.’
46. Dumagge pabbatagge vā sinerugirimuddhani,
ussāpemi dhajaṃ sabbaṃ vicittaṃ pañcavaṇṇikaṃ.
46. (Khi ấy, Ta là Chuyển Luân Vương tên Tilokavijaya).[5] Ta dựng lên ngọn cờ hiệu ở ngọn cây, ở đỉnh núi, ở trên đỉnh núi Sineru, tất cả được tô điểm, có năm màu.
47. Narā nāgā ca gandhabbā sabbe devā upentu te,
namassantā pañjalikā pāsādaṃ parivārayuṃ.
47. ‘Nguyện cho loài người, loài rồng, Càn-thát-bà, và tất cả chư Thiên ấy hãy đi đến.’ Các vị đã đến quây quần xung quanh tòa lâu đài, chắp tay lễ bái.
48. Yaṃ kiñci kusalaṃ kammaṃ kattabbaṃ kiriyaṃ mama,
kāyena vācā manasā tidase sukataṃ kataṃ.
48. ‘Bất cứ thiện nghiệp nào là hành động cần phải thực hiện để sanh lên cõi trời Đạo Lợi đều đã được tôi thực hiện tốt đẹp bằng thân, bằng lời nói, bằng ý.[6]
49. Ye sattā saññino atthi ye ca sattā asaññino,
kataṃ puññaphalaṃ mayhaṃ sabbe bhāgī bhavantu te.
49. Có những chúng sanh là hữu tưởng và có những chúng sanh là vô tưởng, nguyện cho tất cả các vị ấy đều được hưởng phần chia sẻ quả báu phước thiện đã được thực hiện của tôi.
50. Yesaṃ kataṃ suviditaṃ dinnaṃ puññaphalaṃ mayā,
ye ca tasmiṃ na jānanti devā gantvā nivedayuṃ.
50. Quả báu phước thiện của tôi đã được thực hiện, đã được biết chắc chắn, đã được ban phát đến những vị ấy, còn những vị nào chưa biết về điều ấy thì chư Thiên đã đi đến và thông báo.
51. Sabbalokamhi ye sattā jīvant’āhārahetukā,
manuññaṃ bhojanaṃ sabbaṃ labhantu mama tejasā.
51. Những chúng sanh nào (sinh tồn) do nhân vật thực sống ở tất cả các thế giới, do nhờ năng lực của tôi nguyện cho tất cả đều thọ lãnh vật thực hợp ý.’
52. Manasā dānaṃ mayā dinnaṃ manasā pāsādamāvahiṃ,
pūjitā sabbasambuddhā paccekā jinasāvakā.
52. Vật cúng dường đã được Ta cúng dường bằng tâm ý, (trong sự cúng dường ấy) Ta đã làm hóa hiện ra tòa lâu đài bằng tâm ý. Tất cả chư Phật Toàn Giác, chư Phật Độc Giác, chư Thinh Văn của các đấng Chiến Thắng đã được cúng dường.
53. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagañchahaṃ.
53. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, Ta đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
54. Duve bhave pajānāmi devatte atha mānuse,
aññaṃ gatiṃ na jānāmi manasā patthanāphalaṃ.
54. Ta (đã) luân hồi ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, Ta không biết đến cõi tái sanh khác; điều này là quả báu của ước nguyện bằng tâm ý.[7]
55. Devānaṃ adhiko homi bhavāmi manujādhipo,
rūpalakkhaṇasampanno paññāya asamo bhave.
55. (Nếu sanh ra ở cõi trời) Ta là vượt trội chư Thiên, (nếu sanh làm người) Ta là vị thống lãnh nhân loại, Ta được hội đủ tướng mạo về sắc thân, trong cõi hữu không ai sánh bằng (Ta) về trí tuệ.
56. Bhojanaṃ vividhaṃ seṭṭhaṃ ratanañca anappakaṃ,
nānāvidhāni vatthāni nabhā khippaṃ upenti maṃ.
56. Vật thực tối thượng đủ các loại và châu báu không phải là ít ỏi, (cùng với) vô số các loại vải từ trên không trung tức thời hiện đến cho Ta.

57. Pathavyā pabbate ceva ākāse udake vane

yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi dibbā bhakkhā upenti maṃ.

 
57. Ở đất liền, luôn cả ở ngọn núi, ở trên hư không, ở trong nước, ở trong rừng, mỗi khi Ta vươn cánh tay ra thì các thức ăn của cõi trời hiện đến cho Ta.
58. Pathavyā —pe— pasāremi ratanā sabbe upenti maṃ. 58. Ở đất liền, —nt— Ta vươn cánh tay ra thì mọi thứ châu báu hiện đến cho Ta.
59. Pathavyā —pe— pasāremi sabbe gandhā upenti maṃ. 59. Ở đất liền, —nt— Ta vươn cánh tay ra thì mọi thứ vật thơm hiện đến cho Ta.
60. Pathavyā —pe— pasāremi sabbe yānā upenti maṃ. 60. Ở đất liền, —nt— Ta vươn cánh tay ra thì mọi thứ xe thuyền hiện đến cho Ta.
61. Pathavyā —pe— pasāremi sabbā mālā upenti maṃ. 61. Ở đất liền, —nt— Ta vươn cánh tay ra thì mọi thứ tràng hoa hiện đến cho Ta.
62. Pathavyā —pe— pasāremi alaṅkārā upenti maṃ. 62. Ở đất liền, —nt— Ta vươn cánh tay ra thì mọi vật trang sức hiện đến cho Ta.
63. Pathavyā —pe— pasāremi sabbā kaññā upenti maṃ. 63. Ở đất liền, —nt— Ta vươn cánh tay ra thì tất cả thiếu nữ hiện đến cho Ta.
64. Pathavyā —pe— pasāremi upenti madhusakkharā. 64. Ở đất liền, —nt— Ta vươn cánh tay ra thì mật ong và đường hiện đến cho Ta.
65. Pathavyā —pe— pasāremi sabbe khajjā upenti maṃ. 65. Ở đất liền, —nt— Ta vươn cánh tay ra thì mọi vật thực cứng hiện đến cho Ta.
66. Adhane addhikajane yācake ca pathāvino,
dadām’ ahaṃ dānavaraṃ sambodhivarapattiyā.
66. Nhằm đạt được phẩm vị Toàn Giác cao quý, Ta (đã) bố thí tặng phẩm quý giá đến những kẻ không có tài sản, những người lữ khách, những kẻ ăn xin, và những người bộ hành.
67. Nādento pabbataṃ selaṃ gajjento bahalaṃ giriṃ,
sadevalokaṃ hāsento buddho loke bhavām’ ahaṃ.
67. Ta trở thành đức Phật ở trên đời khiến cho ngọn núi gào thét, khiến cho tảng đá gầm lên tiếng vang ầm ĩ, khiến cho thế gian luôn cả chư Thiên vui cười.
68. Disā dasavidhā loke yāyato natthi antakaṃ,
tasmiñca disābhāgamhi buddhakkhettā asaṅkhiyā.
68. Mười phương ở thế giới vũ trụ đối với người đang du hành là vô tận (không có điểm tận cùng). Và ở mỗi phương (thế giới) ấy, các địa phận của chư Phật là (vô số) không thể đếm được.
69. Pabhā pakittitā mayhaṃ yamakā raṃsivāhanā,
etthantare raṃsijālaṃ āloko vipulo bhave.
69. (Khi Ta là đấng Chuyển Luân Vương)[8] Ta có hào quang được nổi danh với (hình thức) tia ánh sáng di chuyển thành từng đôi. Mạng lưới hào quang và ánh sáng vĩ đại hiện hữu ở khoảng giữa của mười ngàn thế giới.[9]
70. Ettake lokadhātumhi sabbe passantu maṃ janā,
sabbe ca sumanā hontu sabbe maṃ anuvattare.
(sabbe maṃ anuvattantu yāva brahmanivesanaṃ).
70. ‘Nguyện cho tất cả mọi người ở chừng ấy thế giới đều nhìn thấy Ta. Nguyện cho tất cả đều có tâm ý vui mừng và tất cả đều tiến bước theo Ta. (Nguyện cho tất cả đều tiến bước theo Ta đến tận chỗ ngụ của đấng Phạm Thiên).’[10]
71. Vissaṭṭhamadhunādena amataṃ bherimāhaniṃ,
etthantare janā sabbe suṇantu madhuraṃ giraṃ.
71. Ta đã vỗ vào chiếc trống Bất Tử với tiếng vang ngọt ngào được phát ra.[11]Nguyện cho tất cả mọi người ở khoảng giữa mười ngàn thế giới lắng nghe âm thanh ngọt ngào.
72. Dhammameghe pavassante sabbe hontu anāsavā,
ye ’ttha pacchimakā sattā sotāpannā bhavantu te.
72. Trong khi đám mây Giáo Pháp đang đổ mưa, nguyện cho tất cả không còn lậu hoặc.[12] Những chúng sanh nào là hạng thấp kém ở nơi đây,[13] nguyện cho những người ấy được là bậc Nhập Lưu.’
73. Datvā dātabbakaṃ dānaṃ sīlaṃ pūretv’asesato,
nekkhamme pāramiṃ gantvā patto sambodhimuttamaṃ.
73. Sau khi bố thí những gì cần được bố thí, sau khi làm viên mãn giới hạnh không thiếu sót, sau khi đi đến sự toàn hảo về pháp xuất ly, Ta đã đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.[14]
74. Paṇḍite paripucchitvā katvā viriyamuttamaṃ,
khantiyā pāramiṃ gantvā patto sambodhimuttamaṃ.
74. Sau khi đã vấn hỏi các bậc trí tuệ, sau khi đã thể hiện sự tinh tấn tối thượng, sau khi đã đi đến sự toàn hảo về pháp nhẫn nại, Ta đã đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.
75. Katvā daḷhamadhiṭṭhānaṃ pūretvā saccapāramiṃ,
mettāya pāramiṃ gantvā patto sambodhimuttamaṃ.
75. Sau khi đã thực hành pháp quyết định một cách bền vững, sau khi đã làm tròn đủ về pháp chân thật, sau khi đã đi đến sự toàn hảo về pháp từ ái, Ta đã đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.
76. Lābhālābhe sukhe dukkhe sammāne cāvamānane,
sabbattha samako hutvā patto sambodhimuttamaṃ.
76. Ðối với lợi lộc và không lợi lộc, đối với danh thơm và tiếng xấu, đối với sự kính trọng và chê bai, sau khi đã là bình đẳng trong mọi trường hợp, Ta đã đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.
77. Kosajjaṃ bhayato disvā viriyañcāpi khemato,
āraddhaviriyā hotha esā buddhānusāsanī.
77. Sau khi thấy được sự biếng nhác là nguy hiểm và thậm chí (thấy được) sự tinh tấn là an toàn, các ngươi hãy có sự nỗ lực tinh tấn; điều này là lời giáo huấn của chư Phật.
78. Vivādaṃ bhayato disvā avivādañca khemato,
samaggā sakhilā hotha esā buddhānusāsanī.
78. Sau khi thấy được sự tranh cãi là nguy hiểm và sự không tranh cãi là an toàn, các ngươi hãy có sự hợp nhất, thân thiện; điều này là lời giáo huấn của chư Phật.
79. Pamādaṃ bhayato disvā appamādaṃ ca khemato,
bhāveth’ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ esā buddhānusāsanī.
79. Sau khi thấy được sự dễ duôi là nguy hiểm và sự không dễ duôi là an toàn, các ngươi hãy tu tập Đạo Lộ có tám chi phần; điều này là lời giáo huấn của chư Phật.
80. Samāgatā bahū buddhā arahantā ca sabbaso,
sambuddhe arahante ca vandamānā namassatha.
80. Nhiều đức Phật và các bậc A-la-hán đã tụ hội lại đầy đủ. Các ngươi hãy tôn kính đảnh lễ chư Phật Toàn Giác và các bậc A-la-hán.”
81. Evaṃ acintiyā buddhā buddhadhammā acintiyā,
acintiyesu pasannānaṃ vipāko hoti acintiyo.
81. Như vậy, chư Phật là không thể nghĩ bàn. Giáo Pháp của chư Phật là không thể nghĩ bàn. Đối với những người được tịnh tín vào những điều không thể nghĩ bàn, kết quả cho những người ấy là không thể nghĩ bàn.
Itthaṃ sudaṃ bhagavā attano buddhacariyaṃ sambhāvayamāno buddhāpadāniyaṃ nāma dhammapariyāyaṃ abhāsitthāti. Trong khi trình bày về phẩm hạnh Phật của bản thân, đức Thế Tôn đã nói về bản thể của Giáo Pháp có tên là Buddhāpadāniyaṃ[15] như thế ấy.
Buddhāpadānaṃ samattaṃ. Ký Sự về Phật Toàn Giác được đầy đủ.

--ooOoo--

--ooOoo--

[1] Đây chính là ngài Ānanda. Chú giải của Apadāna giải thích vedehamuni là vị hiền trí con trai của một người phụ nữ sanh ra ở xứ sở Vedeha (ApA. 128).

[2] Lúc này đức Phật Gotama kể về thời kỳ Bồ Tát là đấng Chuyển Luân Vương Tilokavijaya (ApA. 103).

[3] sasaṅghe sāvakasaṅghasahite (Sđd. 103).

[4] yāvatā buddhakhettesūti dasasahassacakkavāḷesu buddhakhettesu (Sđd. 104).

[5] ApA. 109.

[6] Các câu kệ ngôn từ 48 đến 51 đang được sử dụng ở phần nghi thức hồi hướng trong các cuộc lễ cúng dường hiện nay (ND).

[7] Lưu ý hai từ manasā (bằng tâm ý) và patthanā (sự ước nguyện) để xác định văn cảnh (ND).

[8] ApA. 112.

[9] etthantare dasasahassicakkavāḷantare (Sđd.)

[10] Câu 1 và 2 được thấy ở Tạng Thái và Tạng Anh. Câu 1 và 3 được thấy ở Tạng Miến.

[11] Ta đã thuyết giảng Giáo Pháp Bất Tử với âm thanh vi diệu được phát ra (ND).

[12] Chú Giải ghi rằng: ‘sabbe bhikkhubhikkhunī-ādayo’ = ‘tất cả’ là tỳ khưu, tỳ khưu ni, v.v... (Sđd.).

[13] ‘Ở nơi đây’ chính là tứ chúng gồm có tỳ khưu, tỳ khưu ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ (Sđd.).

[14] Các câu kệ từ 73 - 79 được thấy ở Cariyāpiṭaka - Hạnh Tạng (Tam Tạng Pāḷi - Việt tập 42, 324 - 327)

[15] Buddhāpadāniyaṃ là sự giảng giải về nhân duyên của đức Phật (ApA. 127), là đề tài được thuyết giảng, đề tài được trình bày có liên quan đến công hạnh khó làm thuộc thời xa xưa nghĩa là việc làm quá khứ của chư Phật, (CpA. 335).

 

Phía Trước - Before!==^==Kế Tiếp - Next