48. Caṅkamadāyakattherāpadānaṃ

48. Ký Sự về Trưởng Lão Caṅkamadāyaka:

1207. Atthadassissa munino lokajeṭṭhassa tādino,
iṭṭhakāhi cinitvāna caṅkamaṃ kārayiṃ ahaṃ.

1207. Sau khi gom góp các viên gạch, tôi đã cho xây dựng đường kinh hành của đấng Hiền Trí Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

1208. Uccato pañcaratanaṃ caṅkamaṃ sādhu māpitaṃ,
āyāmato hatthasataṃ bhāvanīyaṃ manoramaṃ.

1208. Đường kinh hành đã được kiến tạo tốt đẹp, cao năm ratana (1,25 mét), dài một trăm cánh tay (50 mét), đáng được trân trọng, thích ý.

1209. Paṭiggahesi bhagavā atthadassī naruttamo,
hatthena pulinaṃ gayha imā gāthā abhāsatha:

1209. Đức Thế Tôn, đấng Tối Thượng Nhân Atthadassī đã thọ nhận. Ngài đã cầm lấy cát bằng bàn tay và đã nói lên những lời kệ này:  

1210. “Iminā pulinadānena caṅkamaṃ sukatena ca,
sattaratanasampannaṃ pulinaṃ anubhossati.

1210. “Với sự dâng cúng cát và đường kinh hành đã khéo được xây dựng này, (người ấy) sẽ thọ hưởng cát có đầy đủ bảy loại châu báu.

1211. Tīṇi kappāni devesu devarajjaṃ karissati,
anubhossati sampattiṃ accharāhi purakkhato.

1211. (Người ấy) sẽ cai quản Thiên quốc ở giữa chư Thiên ba mươi kiếp và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.

1212. Manussalokaṃ āgantvā rājā raṭṭhe bhavissati,
tikkhattuṃ cakkavattī ca mahiyā so bhavissati.”

1212. Sau khi đi đến thế giới nhân loại, (người ấy) sẽ là đức vua ở quốc độ. Và người ấy sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở trái đất ba lần.”

1213. Aṭṭhārase kappasate yaṃ kammamakariṃ tadā.
duggatiṃ nābhijānāmi caṅkamassa idaṃ phalaṃ.

1213. Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của đường kinh hành.

1214. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

1214. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Caṅkamadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Caṅkamadāyaka[1] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Caṅkamadāyakattherassa apadānaṃ aṭṭhamaṃ.

 

Ký sự về trưởng lão Caṅkamadāyaka là phần thứ tám.

 

--ooOoo--

--ooOoo--

 

49. Subhaddattherāpadānaṃ

49. Ký Sự về Trưởng Lão Subhadda:

1215. Padumutaro lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
janataṃ uddharitvāna nibbāyati mahāyaso.

1215. Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara vị thọ nhận các vật hiến cúng có danh vọng lớn lao đã tiếp độ đám đông dân chúng rồi Niết Bàn.

1216. Nibbāyante ca sambuddhe dasasahassī pakampatha,
janakāyo mahā āsi devā sannipatuṃ tadā.

1216. Và trong khi bậc Toàn Giác đang Niết Bàn, mười ngàn (thế giới) đã rúng động. Khi ấy, đã có tập thể dân chúng đông đảo và chư Thiên tụ hội lại.

1217. Candanaṃ pūjayitvāna tagaramallikāhi ca,
haṭṭho haṭṭhena cittena ālepesiṃ naruttamaṃ.

1217. Sau khi cúng dường trầm hương cùng với các loại bột thơm và hoa nhài, tôi đã trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đã thoa lên đấng Tối Thượng Nhân.

1218. Mama saṅkappamaññāya satthā loke anuttaro,
nipannakova sambuddho imā gāthā abhāsatha:

1218. Biết được ý định của tôi, bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, bậc Toàn Giác ngay khi đang nằm đã nói lên những lời kệ này:

1219. “Yo me pacchimake kāle gandhamālyena chādayī,
tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.

1219. “Người nào vào thời điểm cuối cùng của Ta đã phủ lên (cơ thể Ta) bằng vật thơm và tràng hoa, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.

1220. Ito cuto ayaṃ poso tusitakāyaṃ gamissati,
tattha rajjaṃ karitvāna nimmānaṃ so gamissati.

1220. Mệnh chung ở đây, người nam này sẽ đi đến cõi trời Đẩu Suất. Sau khi trị vì vương quốc ở tại nơi ấy, người ấy sẽ đi đến cõi Hóa Lạc Thiên.

1221. Eteneva upāyena datvā malyaṃ varuttamaṃ,
sakakammābhiraddho so sampattiṃ anubhossati.

1221. Sau khi cúng dường tràng hoa cao quý tối thượng theo phương thức này đây, được hài lòng với nghiệp của chính mình, người ấy sẽ thọ hưởng sự thành đạt.

1222. Punāpi tusite kāye nibbattissatayaṃ naro,
tamhā kāyā cavitvāna manussattaṃ gamissati.

1222. Người nam này cũng sẽ tái sanh ở cõi trời Đẩu Suất lần nữa. Sau khi mệnh chung từ cõi trời ấy (người này) sẽ đi đến bản thể nhân loại.

1223. Sakyaputto mahānāgo aggo loke sadevake,
bodhayitvā bahū satte nibbāyissati cakkhumā.

1223. Người con trai dòng Sakya, đấng Long Tượng cao cả ở thế gian luôn cả chư Thiên, bậc Hữu Nhãn sẽ giúp cho nhiều chúng sanh giác ngộ rồi Niết Bàn.

1224. Pabbajjūpagato santo sukkamūlena codito,
upasaṅkamma sambuddhaṃ pañhaṃ pucchissati tadā.

1224. Trong khi đã thành đạt sự xuất gia, (người này) được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch khi ấy sẽ đi đến gặp bậc Toàn Giác và sẽ hỏi câu hỏi.

1225. Hāsayitvāna sambuddho sabbaññū lokanāyako,
puññakammaṃ pariññāya saccāni vivarissati.

1225. Bậc Toàn Giác, đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian sẽ làm cho (người này) vui vẻ. Sau khi biết toàn diện về hành động phước thiện, Ngài sẽ phơi bày các Chân Lý (cao thượng).

1226. Āraddho ca ayaṃ pañhe tuṭṭho ekaggamānaso,
satthāraṃ abhivādetvā pabbajjaṃ yācayissati.

1226. Và được hài lòng về câu hỏi, người này sẽ hớn hở, có sự chăm chú. Sau khi đảnh lễ bậc Đạo Sư, (người này) sẽ cầu xin sự xuất gia.

 

1227. Pasannamānasaṃ disvā sakakammena tositaṃ,
pabbājessati so buddho aggadhammassa kovido.

 

1227. Đức Phật ấy, bậc rành rẽ về Giáo Pháp cao cả, sau khi nhìn thấy (người này) có tâm tịnh tín, hoan hỷ với nghiệp của mình, sẽ cho (người này) xuất gia.

1228. Vāyamitvān’ ayaṃ poso sammāsambuddhasāsane,
sabbāsave pariññāya nibbāyissat’ anāsavo.”

1228. Người nam này sẽ nỗ lực trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”

1229. Pubbakammena saṃyutto ekaggo susamāhito,
buddhassa oraso putto dhammajo ’mhi sunimmito.

1229. Được gắn liền với nghiệp quá khứ, có sự chăm chú, khéo được định tĩnh, tôi là người con trai chánh thống của đức Phật, đã được sanh ra từ Giáo Pháp, đã được tạo ra tốt đẹp.

 

(Pañcamabhāṇavāraṃ).

(Tụng phẩm thứ năm).

1230. Dhammarājaṃ upāgamma āpucchiṃ pañhamuttamaṃ,
kathayanto ca me pañhaṃ dhammasotaṃ upānayī.

1230. Sau khi đi đến gặp đấng Pháp Vương, tôi đã hỏi câu hỏi tối thượng. Và trong khi giảng giải về câu hỏi của tôi, Ngài đã đưa tôi vào dòng chảy Giáo Pháp.

1231. Tassāhaṃ dhammamaññāya vihāsiṃ sāsane rato,
sabbāsave pariññāya viharāmi anāsavo.

1231. Sau khi hiểu được Giáo Pháp của Ngài, được thỏa thích trong Giáo Pháp tôi đã an trú. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.

1232. Satasahasse ito kappe jalajuttaranāyako,
nibbāyi anupādāno dīpo ’va telasaṅkhayā.

1232. Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Lãnh Đạo Padumuttara đã Niết Bàn không còn chấp thủ, tợ như cây đèn đã tắt vì sự cạn kiệt về dầu thắp.

1233. Sattayojanikaṃ āsi thūpañca ratanāmayaṃ,
dhajaṃ tattha apūjesiṃ sabbabhaddaṃ manoramaṃ.

 

1233. Đã có ngôi bảo tháp làm bằng châu báu cao bảy do-tuần. Tại nơi ấy, tôi đã cúng dường ngọn cờ tốt đẹp về mọi mặt, làm thích ý.

1234. Kassapassa ca buddhassa tisso nāmaggasāvako,
putto me oraso āsi dāyādo jinasāsane.

1234. Và vị Thinh Văn hàng đầu tên Tissa của đức Phật Kassapa người thừa tự trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đã là người con trai chánh thống của tôi.

1235. Tassa hīnena manasā vācaṃ bhāsiṃ abhaddakaṃ,
tena kammavipākena pacchime addasaṃ jinaṃ.

1235. Do tâm ý kém cỏi, tôi đã nói lời nói không tốt đẹp với vị ấy. Do quả thành tựu của nghiệp ấy tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng vào thời điểm cuối cùng.

1236. Upavattane sālavane pacchime sayane muni,
pabbājesi mahāvīro hito kāruṇiko jino.

1236. Tại rừng cây sālā Upavattana ở chỗ nằm cuối cùng, đấng Hiền Trí, bậc Đại Hùng, đấng Chiến Thắng, bậc có sự lợi ích và lòng bi mẫn, đã cho (tôi) xuất gia.

1237. Ajjeva ’dāni pabbajjā ajjeva upasampadā,
ajjeva parinibbāṇaṃ sammukhā dipaduttame.

1237. Giờ đây, đúng ngày hôm nay là sự xuất gia, đúng ngày hôm nay là sự tu lên bậc trên, đúng ngày hôm nay là sự Viên Tịch Niết Bàn trong sự hiện diện của bậc Tối Thượng Nhân.

1238. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

1238. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Subhaddo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Subhadda đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Subhaddattherassa apadānaṃ navamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Subhadda là phần thứ chín.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

50. Cundattherāpadānaṃ

50. Ký Sự về Trưởng Lão Cunda:

1239. Siddhatthassa bhagavato lokajeṭṭhassa tādino,
agghiyaṃ kārayitvāna jātipupphehi chādayiṃ.

1239. Tôi đã cho thực hiện cây cột trụ rồi đã phủ lên bằng các bông hoa nhài dành cho đức Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

1240. Niṭṭhāpetvāna taṃ pupphaṃ buddhassa upanāmayiṃ,
pupphāvasesaṃ paggayha buddhassa abhiropayiṃ.

1240. Sau khi cho làm hoàn tất, tôi đã đem bông hoa ấy lại gần đức Phật. Tôi đã cầm lấy phần còn lại của bông hoa và đã dâng lên đức Phật.

1241. Kañcanagghiyasaṅkāsaṃ buddhaṃ lokagganāyakaṃ,
pasannacitto sumano pupphagghiyamupānayiṃ.

1241. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng tặng cây cột trụ bông hoa đến đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian trông tợ như cây cột trụ bằng vàng.

1242. Vitiṇṇakaṅkho sambuddho tiṇṇoghehi purakkhato,
bhikkhusaṅghe nisīditvā imā gāthā abhāsatha:

1242. Đấng Toàn Giác, bậc có sự nghi hoặc đã được loại trừ, được tháp tùng bởi những vị đã vượt qua các bộc lưu, sau khi ngồi xuống ở nơi Hội Chúng tỳ khưu đã nói lên những lời kệ này:

1243. “Dibbagandhaṃ pavāyantaṃ yo me pupphagghiyaṃ adā,
tamahaṃ kittayissāmi suṇātha mama bhāsato.

1243. “Người nào đã dâng cúng cột trụ bông hoa đang tỏa ra mùi hương của cõi trời đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.

1244. Ito cuto ayaṃ poso devasaṃghapurakkhato,
jātipupphehi parikiṇṇo devalokaṃ gamissati.

1244. Mệnh chung ở đây, người nam này sẽ đi đến thế giới chư Thiên, (và sẽ) được hội chúng chư Thiên tôn trọng, được các bông hoa nhài phủ quanh.

1245. Ubbiddhaṃ bhavanaṃ tassa sovaṇṇañca maṇimayaṃ,
vyamhaṃ pātubhavissati puññakammappabhāvitaṃ.

1245. Dành cho vị ấy, có chỗ trú ngụ cao vút làm bằng vàng và ngọc ma-ni, có cung điện sẽ hiện ra, được phát khởi từ nghiệp phước thiện.

1246. Catusattatikkhattuṃ so devarajjaṃ karissati,
anubhossati sampattiṃ accharāhi purakkhato.

1246. Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc bảy mươi bốn kiếp và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.

1247. Pathavyā rajjaṃ tisataṃ vasudhaṃ āvasissati,
pañcasattatikkhattuñca cakkavattī bhavissati.

1247. (Người ấy) sẽ ngự trị quốc độ thuộc đất liền ở trái đất ba trăm lần, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần.

1248. Dujjayo nāma nāmena hessati manujādhipo,
anubhotvāna taṃ puññaṃ sakakammaṃ apassito.

1248. (Người y) s tr thành vị thống lãnh nhân loại tên là Dujjaya. (Người y) s thọ hưởng phước báu ấy tùy thuc vào nghiệp của chính mình.

1249. Vinipātaṃ agantvāna manussattaṃ gamissati,
hiraññassa ca nicitaṃ koṭisatamanappakaṃ.

1249. (Người y) s không đi đến đọa x và sẽ đi đến bn th nhân loại. Và số vàng không ít hơn một trăm koṭi (một tỷ) sẽ được tích lũy (cho người ấy).

1250. Nibbattissati yonimhi brāhmaṇe so bhavissati,
vaṅgantassa suto dhīmā sāriyā oraso piyo.

1250. Người y s sanh vào dòng dõi Bà-la-môn và s là người con trai rut thông minh yêu du ca (Bà-la-môn) Vaṅganta và bà Sārī.

1251. So ca pacchā pabbajitvā aṅgīrasassa sāsane,
cūlacundo’ti nāmena hessati satthusāvako.

1251. Và về sau, người ấy sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Aṅgīrasa (Phật Gotama) và sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư có tên là Cūlacunda.

1252. Sāmaṇero ’va so santo khīṇāsavo bhavissati,
sabbāsave pariññāya nibbāyissat’ anāsavo.”

1252. Ngay khi còn là vị sa-di, người ấy sẽ có lậu hoặc được cạn kiệt. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, người ấy sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”

1253. Upaṭṭhahiṃ mahāvīraṃ aññe ca pesale bahū,
bhātaraṃ me c’ upaṭṭhāsiṃ uttamatthassa pattiyā.

1253. Tôi đã phục vụ đấng Đại Hùng và nhiều vị hiền đức khác, và tôi đã hầu cận người anh trai của tôi nhằm đạt đến mục đích tối thượng.

1254. Bhātaraṃ me upaṭṭhitvā dhātū pattamhi opiya,
sambuddhaṃ upanāmesiṃ lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ.

1254. Tôi đã phục vụ người anh trai của tôi. Tôi đã đặt xá-lợi trong bình bát và đã trình lên đấng Toàn Giác, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu.

1255. Ubhohatthehi paggayha buddho loke sadevake,
saṃdassayanto taṃ dhātuṃ kittayī aggasāvakaṃ.

1255. Đức Phật ở thế gian luôn cả chư Thiên đã cầm lấy bằng hai bàn tay, và trong khi phô bày xá-lợi ấy Ngài đã tán dương vị Thinh Văn hàng đầu.

1256. Cittaṃ ca suvimuttaṃ me saddhā mayhaṃ patiṭṭhitā,
sabbāsave pariññāya viharāmi anāsavo.

1256. Tâm của tôi đã khéo được giải thoát, đức tin của tôi đã được thiết lập. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.

1257. Paṭisambhidā catasso ca ―pe― kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

1257. Bốn (tuệ) phân tích, ...(như trên)... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Cundo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Cunda đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Cundattherassa apadānaṃ dasamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Cunda là phần thứ mười.

Uddānaṃ

Phần Tóm Lược:

Upāli soṇo bhaddiyo sanniṭṭhāpaka hatthiyo,

chadanaṃ seyyacaṅkamaṃ subhaddo cundasavhayo,

gāthā sataṃ ca tāḷīsaṃ catasso ca taduttari.

 

Vị Upāli, vị Soṇa, vị Bhaddiya, vị Sanniṭṭhāpaka, vị Hatthiya, mái che, giường nằm, đường kinh hành, vị Subhadda, vị tên Cunda; (tổng cộng) có một trăm bốn mươi câu kệ và bốn câu thêm vào đó.

Upālivaggo pañcamo.

Phẩm Upāli phẩm thứ năm.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

VI. VĪJANĪVAGGO

VI. PHẨM VĪJANĪ:

   

51. Vidhūpanadāyakattherāpadānaṃ

51. Ký Sự về Trưởng Lão Vidhūpanadāyaka:

1258. Padumuttarabuddhassa lokajeṭṭhassa tādino,
vījanikā mayā dinnā dipadindassa tādino.

1258. Chiếc quạt đã được tôi dâng cúng đến đức Phật Padumuttara, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.

1259. Sakaṃ cittaṃ pasādetvā paggahetvāna añjaliṃ,
sambuddhaṃ abhivādetvā pakkāmiṃ uttarāmukho.

1259. Sau khi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín, tôi đã chắp tay lên. Tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Giác rồi ra đi, mặt nhìn hướng bắc.

1260. Vījaniṃ paggahetvāna satthā loke anuttaro,
bhikkhusaṅghe ṭhito santo imaṃ gāthaṃ abhāsatha:

 

1260. Sau khi cầm lấy chiếc quạt, bậc Đạo Sư đấng Vô Thượng ở thế gian, trong khi đang đứng ở nơi Hội Chúng tỳ khưu đã nói lên lời kệ này:

1261. “Iminā vījanidānena cittassa paṇidhīhi ca,
kappānaṃ satasahassaṃ vinipātaṃ na gacchati.”

1261. “Do sự dâng cúng chiếc quạt này và do các nguyện lực của tâm, (người ấy) không sa vào đọa xứ trong một trăm ngàn kiếp.”

1262. Āraddhaviriyo pahitatto cetoguṇasamāhito,
jātiyā sattavasso ’haṃ arahattamapāpuṇiṃ.

1262. Có sự ra sức tinh tấn, có tính khẳng quyết, tâm có đức tính định tĩnh, vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.

1263. Saṭṭhikappasahassamhi vījamānasanāmakā,
soḷas’ āsiṃsu rājāno cakkavattī mahabbalā.

 

1263. (Trước đây) sáu mươi ngàn kiếp, đã có mười sáu vị vua tên Vījamāna là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.

1264. Paṭisambhidā catasso ca ―pe― kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

1264. Bốn (tuệ) phân tích, ...(như trên)... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Vidhūpanadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Vidhūpanadāyaka[2] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Vidhūpanadāyakattherassa apadānaṃ paṭhamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Vidhūpanadāyaka là phần thứ nhất.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

52. Sataraṃsikattherāpadānaṃ

52. Ký Sự về Trưởng Lão Sataraṃsika:

1265. Ucciyaṃ selamāruyha nisīdi purisuttamo,
pabbatassāvidūramhi brāhmaṇo mantapāragū.

1265. Sau khi trèo lên tảng đá cao, đấng Tối Thượng Nhân đã ngồi xuống. Tôi là vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật (cư ngụ) ở không xa ngọn núi.

1266. Upaviṭṭhaṃ mahāvīraṃ devadevaṃ narāsabhaṃ,
añjalimpaggahetvāna santhaviṃ lokanāyakaṃ:

1266. Khi đấng Đại Hùng, vị Trời của chư Thiên, đấng Nhân Ngưu đã ngồi xuống, tôi đã chắp tay lên và đã ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng:

1267. “Esa buddho mahāvīro varadhammappakāsako,
jalati aggikhandho ’va bhikkhusaṅghapurakkhato.

1267. “Vị này là đức Phật, đấng Đại Hùng, bậc giảng giải về Giáo Pháp cao quý, đứng đầu Hội Chúng tỳ khưu, chói sáng như là đống lửa.

1268. Mahāsamuddo ’vakkhobho aṇṇavo ’va duruttaro,
migarājā ’vasambhīto dhammaṃ deseti cakkhumā.”

1268. Bậc Hữu Nhãn thuyết giảng Giáo Pháp tợ như đại dương không bị suy suyển, tợ như biển cả khó mà vượt qua, tợ như (con sư tử) vua của loài thú không bị hãi sợ.”

1269. Mama saṅkappamaññāya padumuttaranāyako,
bhikkhusaṅghe ṭhito satthā imā gāthā abhāsatha:

1269. Biết được ý định của tôi, đấng Lãnh Đạo Padumuttara đứng ở nơi Hội Chúng tỳ khưu, đã nói lên những lời kệ này:

 

1270. “Yenāyaṃ añjali dinno buddhāseṭṭho ca thomito,
tiṃsakappasahassāni devarajjaṃ karissati.

1270. “Sự chắp tay này đã được dâng cúng và đức Phật tối thượng đã được ngợi ca bởi người nào, (người ấy) sẽ cai quản Thiên quốc ba mươi ngàn kiếp.

1271. Kappasatasahassamhi aṅgīrasasanāmako,
vivattacchaddo sambuddho uppajjissati tāvade.

 

1271. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Toàn Giác tên Aṅgīrasa, vị đã dt b s thoái hóa, lúc y s hin khi.

1272. Tassa dhammesu dāyado oraso dhammanimmito, .
sataraṃsīti nāmena arahā so bhavissati.”

1272. (Người ấy) sẽ là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, là vị A-la-hán với tên Sataraṃsī.”

1273. Jātiyā sattavasso ’haṃ pabbajiṃ anagāriyaṃ,
sataraṃsī ’mhi nāmena pabhā niddhāvate mama.

1273. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi có ánh sáng tỏa ra, (cho nên) tôi có tên là Sataraṃsī (trăm tia sáng).

1274. Maṇḍape rukkhamūle vā jhāyī jhānarato ahaṃ,
dhāremi antimaṃ dehaṃ sammāsambuddhasāsane.

1274. Ở mái che hoặc ở gốc cây, tôi là người có thiền chứng, được thỏa thích về thiền. Tôi mang thân mạng cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.

1275. Saṭṭhikappasahassamhi caturo rāmanāmakā,
sattaratanasampannā cakkavattī mahabbalā.

1275. (Trước đây) sáu mươi ngàn kiếp, (đã có) bốn vị có tên Rāma là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.

 

1276. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

1276. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Sataraṃsiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
 

Đại đức trưởng lão Sataraṃsiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Sataraṃsikattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.

 

Ký sự về trưởng lão Sataraṃsika là phần thứ nhì.

 

--ooOoo--

--ooOoo--

[1] Caṅkamadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) đường đi kinh hành (caṅkama).”

[2] Vidhūpanadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) cái quạt (vidhūpana).”

 

Phía Trước - Before!==^==Kế Tiếp - Next