24. Pañcasīlasamādāniyattherāpadānaṃ

24. Ký Sự về Trưởng Lão Pañcasīlasamādāniya:

948. Nagare candavatiyā bhatako ās’ ahaṃ tadā,
parakammāyane yutto pabbajjaṃ na labhām’ ahaṃ.

948. Khi ấy, tôi đã là người làm công ở thành phố Candavatī. Bị vướng bận trong sự quán xuyến công việc của người khác, tôi không đạt được sự xuất gia.

949. Tamandhakārapihitā tividhaggīhi ḍayhare,
kena nu kho upāyena visaṃyutto bhave ahaṃ.

949. (Tôi đã suy nghĩ rằng): “Bị che lấp bởi sự tăm tối ấy, (chúng sanh) bị thiêu đốt bởi ba loại lửa (tham sân si), vậy thì bằng phương pháp nào, ta có thể được thoát khỏi?

950. Deyyadhammo ca me natthi varāko bhatako ahaṃ,
yannūnāhaṃ pañcasīlaṃ rakkheyyaṃ paripūrayaṃ.

 

950. Và vật xứng đáng để dâng cúng thì ta không có, tôi là người làm công khốn khổ. Hay là ta nên thọ trì và làm toàn vẹn năm giới cấm?

951. Anomadassimunino nisabho nāma sāvako,
tamahaṃ upasaṅkamma pañcasikkhāpad’ aggahiṃ.

951. Bậc Hiền Trí Anomadassī có vị Thinh Văn tên là Nisabha. Tôi đã đi đến gặp vị ấy và đã nhận lãnh năm điều học (về giới).

952. Vassasatasahassāni āyu vijjati tāvade,
tāvatā pañcasīlāni paripuṇṇāni gopayiṃ.

952. Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Tôi đã gìn giữ năm giới cấm được toàn vẹn chừng ấy thời gian.

953. Maccukālamhi sampatte devā assāsayanti maṃ,
ratho sahassayutto te mārisāyaṃ upaṭṭhito.

953. Khi thời điểm của tử thần đã đến, chư Thiên an ủi tôi rằng: “Thưa ngài, chiếc xe được thắng một ngàn (ngựa) này dành cho ngài đã đến rồi.”

954. Vattante carime citte mama sīlaṃ anussariṃ,
tena kammena sukatena tātiṃsaṃ agacch’ ahaṃ.

954. Khi tâm cuối cùng đang diễn tiến, tôi đã tưởng nhớ lại giới hạnh của tôi. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

955. Tiṃsakkhattuñca devindo devarajjaṃ akārayiṃ,
dibbaṃ sukhaṃ anubhaviṃ accharāhi purakkhato.

955. Và tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi hai lần. Tôi đã thọ hưởng sự an lạc của cõi trời, đã được các tiên nữ trọng vọng.

 

956. Pañcasattatikkhattuñca cakkavattī ahos’ ahaṃ,
papadesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṃkhiyaṃ.

956. Tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

957. Devalokā cavitvāna sukkamūlena codito,
pure vesāliyaṃ jāto mahāsāle su-aḍḍhake.

957. Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mạng chung từ thế giới chư Thiên, tôi đã được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Vesālī.

958. Vassūpanāyike kāle dippante jinasāsane,
mātā ca me pitā ceva pañcasikkhāpad’ aggahuṃ.

958. Vào thời điểm đến gần mùa mưa, trong lúc Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đang chói sáng, mẹ và luôn cả cha của tôi đã nhận lãnh năm điều học (về giới).

959. Saha suten’ ahaṃ sīghaṃ mama sīlaṃ anussariṃ,
ekāsane nisīditvā arahattamapāpuṇiṃ.

 

959. Do việc đã lắng nghe, tôi đã lập tức tưởng nhớ lại giới hạnh của mình. Tôi đã ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.

960. Jātiyā pañcavasso ’haṃ arahattamapāpuṇiṃ,
upasampādayī buddho guṇamaññāya cakkhumā.

960. Vào lúc năm tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật, bậc Hữu Nhãn, đã cho tu lên bậc trên.

 

961. Paripuṇṇāni gopetvā pañcasikkhāpadān’ ahaṃ,
aparimeyye ito kappe vinipātaṃ na gacch’ ahaṃ.

961. Sau khi gìn giữ năm điều học (về giới) được toàn vẹn, tôi đã không đi đến đọa xứ trong vô lượng kiếp trước đây.

962. Svāhaṃ yasamanubhaviṃ tesaṃ silānavāhasā,
kappakoṭimpi kittento kitteyya ekadesakaṃ.

962. Do nhờ tác động của các giới cấm ấy, tôi đây đã thọ hưởng danh vọng. Trong khi ngợi ca (về quả báu của giới) dầu đến một koṭi (mười triệu) kiếp, tôi chỉ có thể ngợi ca được một phần nhỏ.

963. Pañcasīlāni gopetvā tayo hetū labhāmahaṃ,
dīghāyuko mahābhogo tikkhapañño bhavām’ ahaṃ.

963. Sau khi gìn giữ năm giới cấm, tôi đạt được ba chủng tử: Tôi là người có tuổi thọ, có của cải lớn lao, có tuệ sắc bén.

964. Pakittento va sabbesaṃ adhimattañca porisaṃ,
bhavābhave saṃsaritvā ete ṭhāne labhāmahaṃ.

964. Tôi chỉ đang ngợi ca phần (quả báu) phụ trội liên quan đến loài người trong số tất cả. Sau khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đều đạt được các điều này.

965. Aparimeyya sīlesu vattanto jinasāvako,
bhavesu yadi rajjeyya vipāko kīdiso bhave.

965. Vị Thinh Văn của đấng Chiến Thắng là người đang thực hành giới cấm vô số kể, nếu vị ấy vui thích trong các cõi tái sanh thì quả thành tựu sẽ ra thế nào?

966. Suciṇṇaṃ me pañcasīlaṃ bhatakena vipassinā,
tena sīlen’ ahaṃ ajja mocayiṃ sabbabandhanaṃ.

966. Là người làm công có sự quán sát, năm giới cấm của tôi đã được thực hành tốt đẹp. Nhờ vào giới hạnh ấy ngày hôm nay tôi đã cởi bỏ mọi điều trói buộc.

967. Aparimeyye ito kappe pañcasīlāni gopayiṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi pañcasīlān’ idaṃ phalaṃ.

967. (Kể từ khi) tôi đã gìn giữ năm giới cấm trước đây vô lượng kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của năm giới cấm.

968. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

 

968. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Pañcasīlasamādāniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Pañcasīlasamādāniya[1] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Pañcasīlasamādāniyattherassa apadānaṃ catutthaṃ.

Ký sự về trưởng lão Pañcasīlasamādāniya là phần thứ tư.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

25. Annasaṃsāvakattherāpadānaṃ

25. Ký Sự về Trưởng Lão Annasaṃsāvaka:

969. Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ gacchantaṃ antarāpaṇe,
kañcanagghiyasaṅkāsaṃ dvattiṃsavaralakkhaṇaṃ.

969. Bậc Toàn Giác (Siddhattha) có màu da vàng chói, tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng, đang đi ở khu phố chợ.

 

970. Siddhatthaṃ lokapajjotaṃ appameyyaṃ anopamaṃ,
alatthaṃ paramaṃ pītiṃ disvā dantaṃ jutindharaṃ.

970. Sau khi nhìn thấy đấng Quang Đăng của thế gian Siddhattha, bậc vô lượng vô song, đấng Quang Minh, bậc đã được rèn luyện, tôi đã đạt được niềm phỉ lạc tột bậc.

971. Sambuddhaṃ abhimantetvā bhojayiṃ taṃ mahāmuniṃ,
mahākāruṇiko nātho anumodi mamaṃ tadā.

971. Sau khi thỉnh mời bậc Toàn Giác, tôi đã chăm lo bữa ăn đến bậc Đại Hiền Trí ấy. Khi ấy, bậc Đại Bi đấng Bảo Hộ đã nói lời tùy hỷ đến tôi.

972. Tasmiṃ mahākāruṇike paramassāsakārake,
buddhe cittaṃ pasādetvā kappaṃ saggamhi mod’ ahaṃ.

972. Sau khi làm cho tâm được tịnh tín ở đức Phật, đấng Đại Bi, bậc tạo nên sự tự tại tối cao, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp.

973. Catunavute ito kappe yaṃ dānamadadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi bhikkhādānass’ idaṃ phalaṃ.

973. Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng vật thực.

974. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

974. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Annasaṃsāvako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Annasaṃsāvaka[2] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Annasaṃsāvakattherassa apadānaṃ pañcamaṃ.

 

Ký sự về trưởng lão Annasaṃsāvaka là phần thứ năm.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

26. Dhūpadāyakattherāpadānaṃ

26. Ký Sự về Trưởng Lão Dhūpadāyaka:

975. Siddhatthassa bhagavato lokajeṭṭhassa tādino,
kuṭidhūpaṃ mayā dinnaṃ vippasannena cetasā.

975. Với tâm ý trong sạch, tôi đã dâng cúng khói hương ở liêu cốc của đức Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy.

976. Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi devattaṃ atha mānusaṃ,
sabbesampi piyo homi dhūpadānass’ idaṃ phalaṃ.

976. Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều là đối tượng yêu quý của tất cả; điều này là quả báu của việc dâng cúng khói hương.

977. Catunavute ito kappe yaṃ dhūpaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi dhūpadānass’ idaṃ phalaṃ.

977. Kể từ khi tôi đã dâng cúng khói hương trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng khói hương.

978. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

978. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Dhūpadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Dhūpadāyaka[3] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Dhūpādāyakattherassa apadānaṃ chaṭṭhaṃ.

Ký sự về trưởng lão Dhūpadāyaka là phần thứ sáu.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

27. Pulinapūjakattherāpadānaṃ

27. Ký Sự về Trưởng Lão Pulinapūjaka:

979. Vipassissa bhagavato bodhiyā pādaputtame,
purāṇapulinaṃ chaḍḍetvā suddhaṃ pulinamākiriṃ.

979. Sau khi bỏ đi lớp cát cũ ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Thế Tôn Vipassī, tôi đã rải lên lớp cát sạch.

980. Ekanavute ito kappe yaṃ pulinamadās’ ahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi pulinadānass’ idaṃ phalaṃ.

980. (Kể từ khi) tôi đã dâng cúng cát trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cát.

981. Tipaññāse ito kappe rājā āsiṃ janādhibhū,
mahāpulina nāmena cakkavattī mahabbalo.

981. Trước đây năm mươi ba kiếp, tôi đã trở thành đức vua cai quản dân chúng, là vị Chuyển Luân Vương tên Mahāpulina có oai lực lớn lao.

982. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

982. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Pulinapūjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Pulinapūjaka[4] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Pulinapūjakattherassa apadānaṃ sattamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Pulinapūjaka là phần thứ bảy.

 

--ooOoo--

--ooOoo--

 

28. Uttariyattherāpadānaṃ

28. Ký Sự về Trưởng Lão Uttariya:

983. Candabhāgānadītīre suṃsumāro ahaṃ tadā,
sagocarappasuto ’haṃ nadītitthaṃ agañch’ ahaṃ.

983. Lúc bấy giờ, tôi là con cá sấu ở bờ sông Candabhāgā. Gắn bó với khu vực kiếm ăn của mình, tôi đã đi đến bến đò của con sông.

984. Siddhattho tamhi samaye sayambhū aggapuggalo,
nadiṃ taritukāmo so nadītitthaṃ upāgami.

984. Vào thời điểm ấy, bậc Tự Chủ Siddhattha, nhân vật cao cả ấy, có ý định vượt qua dòng sông nên đã đi về phía bến đò của con sông.

985. Upāgate ca sambuddhe ahampi tatth’ upāgamiṃ,
upagantvāna sambuddhaṃ imaṃ vācaṃ udīrayiṃ.

985. Và khi đấng Toàn Giác tiến đến gần, tôi cũng đã tiến đến gần nơi ấy. Tôi đã đi đến gần bậc Toàn Giác và đã thốt lên lời nói này:

986. Abhirūha mahāvīra tāressāmi ahaṃ tuvaṃ,
pettikaṃ visayaṃ mayhaṃ anukampa mahāmune.

986. “Bạch đấng Đại Anh Hùng, xin hãy ngự lên (ở lưng), tôi sẽ đưa Ngài sang (sông) là địa phận thuộc về tôi do tổ tiên truyền lại. Bạch đấng Đại Hiền Trí, xin hãy thương xót (đến tôi).”

987. Mama uggajjanaṃ sutvā abhirūhi mahāmuni,
haṭṭho haṭṭhena cittena tāresiṃ lokanāyakaṃ.

987. Nghe được tiếng kêu gào của tôi, bậc Đại Hiền Trí đã ngự lên (ở lưng). Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã đưa đấng Lãnh Đạo Thế Gian sang (sông).

988. Nadiyā pārime tīre siddhattho lokanāyako,
assāsesi mamaṃ tattha amataṃ pāpuṇissasi.

988. Ở bờ bên kia của dòng sông, tại nơi ấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian Siddhattha đã an ủi tôi rằng: “Ngươi sẽ đạt được Bất Tử.”

989. Tamhā kāyā cavitvāna devalokaṃ agacchahaṃ,
dibbaṃ sukhaṃ anubhaviṃ accharāhi purakkhato.

989. Sau khi chết đi lìa bỏ thân ấy, tôi đã đi đến thế giới chư Thiên. Tôi đã thọ hưởng sự an lạc của cõi trời, đã được các tiên nữ trọng vọng.

990. Sattakkhattuñca devindo devarajjaṃ akās’ ahaṃ,
tīṇikkhattuṃ cakkavattī mahiyā issaro ahuṃ.

990. Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc bảy lần. Tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương chúa tể của trái đất ba lần.

991. Vivekamanuyutto ’haṃ nipako ca susaṃvuto,
dhāremi antimaṃ dehaṃ sammāsambuddhasāsane.

991. Gắn bó với sự độc cư, cẩn trọng, và khéo thu thúc, tôi duy trì thân mạng cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.

992. Catunavute ito kappe tāresiṃ yaṃ narāsabhaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi tāraṇāya idaṃ phalaṃ.

992. (Kể từ khi) tôi đã đưa đấng Nhân Ngưu sang (sông) trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đưa sang (sông).

993. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

993. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Uttariyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Uttariya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Uttariyattherassa apadānaṃ aṭṭhamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Uttariya là phần thứ tám.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

29. Ekañjalikattherāpadānaṃ

29. Ký Sự về Trưởng Lão Ekañjalika:

994. Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ gacchantaṃ antarāpaṇe,
vipassiṃ satthavāhaggaṃ naravīraṃ vināyakaṃ.

994. (Tôi đã thấy) bậc Toàn Giác Vipassī có màu da vàng chói, đấng Anh Hùng của nhân loại, bậc Xa Phu cao quý, đấng Hướng Đạo đang đi ở khu phố chợ.

995. Adantadamakaṃ tādiṃ mahāvādiṃ mahāmatiṃ,
disvā pasanno sumano ekañjalimakās’ ahaṃ.

995. Sau khi nhìn thấy vị Huấn Luyện Viên cho người chưa được huấn luyện, bậc Đại Hùng Biện, đấng Đại Trí như thế ấy, được tịnh tín, tôi đã chắp tay lại với tâm ý vui mừng.

996. Ekanavute ito kappe yamañjaliṃ kariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi añjalissa idaṃ phalaṃ.

996. Kể từ khi tôi đã thực hiện việc chắp tay ấy trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc chắp tay.

997. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

997. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Ekañjaliko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Ekañjalika[5] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ekañjalikattherassa apadānaṃ navamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Ekañjalika là phần thứ chín.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

30. Khomadāyakattherāpadānaṃ

30. Ký Sự về Trưởng Lão Khomadāyaka:

998. Nagare bandhumatiyā ahosiṃ vāṇijo tadā,
ten’ eva dāraṃ posemi ropemi bījasampadaṃ.

998. Lúc bấy giờ, tôi đã là người thương buôn ở thành phố Bandhumatī. Chính nhờ thế, tôi cấp dưỡng người vợ và gieo trồng nhân lành và hạnh phúc.

999. Rathiyaṃ paṭipannassa vipassissa mahesino,
ekaṃ khomaṃ mayā dinnaṃ kusalatthāya satthuno.

999. Trong khi bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī đang đi ở trên đường, tôi đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư một tấm vải sợi lanh nhằm mục đích hành thiện.

1000. Ekanavute ito kappe yaṃ khomaṃ adadiṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi khomadānass’ idaṃ phalaṃ.

1000. Kể từ khi tôi đã dâng cúng tấm vải sợi lanh trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng tấm vải sợi lanh.

1001. Sattavīse ito kappe eko sindhavasandano,
sattaratanasampanno catudīpamhi issaro.

1001. Trước đây hai mươi bảy kiếp, tôi đã là Sindhavasandana, vị chúa tể độc nhất ở bốn châu lục, được thành tựu bảy loại báu vật.

1002. Paṭisambhidā catasso vimokkhā’pi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

1002. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Khomadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Khomadāyaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Khomadāyakattherassa apadānaṃ dasamaṃ.

Ký sự về trưởng lão Khomadāyaka là phần thứ mười.

Uddānaṃ

Phần Tóm Lược:

Subhūti upavāno ca saraṇo sīlagāhako,

annasaṃsāvako dhūpo pulino uttariyena ca.

Añjalī khomadāyī ca daseva tatiye gaṇe,

pañcāsīti sataṃ vuttā gāthāyo sabbapiṇḍitā.

 

Vị Subhūti, vị Upavāna, vị có sự nương nhờ, vị gìn giữ giới, vị cung ứng vật thực, vị (cúng dường) khói hương, vị (dâng cúng) cát, cùng với vị Uttariya, vị có sự chắp tay, và vị dâng cúng tấm vải sợi lanh, chính là mười (ký sự) thuộc phần thứ ba. Một trăm tám lăm câu kệ đã được nói lên và tất cả đã được gộp chung lại.

 Subhūtivaggo tatiyo.

Phẩm Subhūti là phẩm thứ ba.

(Catutthaṃ bhāṇavāraṃ).

(Tụng phẩm thứ tư).

--ooOoo--

--ooOoo--

[1] Pañcasīlasamādāniya nghĩa là “vị có sự thọ trì (samādāna) năm (pañca) giới cấm (sīla).”

[2] Annasaṃsāvaka nghĩa là “vị ngợi ca (saṃsāvaka) về việc dâng cúng vật thực (anna).”

[3] Dhūpadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) khói hương (dhūpa), tức là xông khói có mùi thơm.”

[4] Pulinapūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) cát (pulina).”

[5] Ekañjalika nghĩa là “vị có một lần (eka) chắp tay (añjali).”

 

Phía Trước - Before!==^==Kế Tiếp - Next