22. Upavānattherāpadānaṃ

22. Ký Sự về Trưởng Lão Upavāna:

865. Padumuttaro nāma jino sabbadhammāna pāragū,
jalitvā aggikkhandhova sambuddho parinibbuto.

865. Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Sau khi phát cháy như là khối lửa, bậc Toàn Giác đã viên tịch Niết Bàn.

866. Mahājanā samāgamma pūjayitvā tathāgataṃ,
citaṃ katvāna sukataṃ sarīraṃ abhiropayuṃ.

86. Đám đông dân chúng đã cùng nhau đi đến và cúng dường đức Như Lai. Sau khi hoàn tất giàn hỏa thiêu khéo được thực hiện, họ đã nâng thi thể lên.

867. Sarīrakiccaṃ katvāna dhātuṃ tattha samānayuṃ,
sadevamānusā sabbe buddhathūpaṃ akaṃsu te.

867. Sau khi thực hiện phận sự đối với thi thể, họ đã tập trung xá-lợi ở tại nơi ấy. Tất cả bọn họ gồm chư Thiên và loài người đã xây dựng ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.

868. Paṭhamā kañcanamayā dutiyā ’si maṇīmayā,
tatiyā rūpiyamayā catutthā phaḷikāmayā.

868. Tầng thứ nhất làm bằng vàng, tầng thứ nhì làm bằng ngọc ma-ni, tầng thứ ba làm bằng bạc, tầng thứ tư làm bằng ngọc pha-lê.

869. Tathā pañcamiyā nemī lohitaṅkamayā ahu,
chaṭṭhā masāragallassa sabbaratanamayūpari.

869. Tương tợ, viền mép của tầng thứ năm là được làm bằng hồng ngọc, tầng thứ sáu làm bằng đá quý, phần bên trên làm bằng tất cả các loại châu báu.

 

870. Jaṅghā maṇimayā āsi vedikā ratanāmayā,
sabbasovaṇṇayo thūpo uddhaṃ yojanamuggato.

870. Phần bên dưới làm bằng ngọc ma-ni, bục nền làm bằng châu báu. Được làm toàn bộ bằng vàng, ngôi bảo tháp vươn lên chiều cao một do-tuần.

871. Devā tattha samāgantvā ekato mantayuṃ tadā:
“Mayampi thūpaṃ kassāma lokanāthassa tādino.

871. Khi ấy, chư Thiên đã tụ hội lại ở nơi ấy và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.

872. Dhātu āveṇikā natthi sarīraṃ ekapiṇḍitaṃ,
imamhi buddhathūpamhi kassāma kañcukaṃ mayaṃ.”

872. Xá-lợi không có các mảnh rời rạc, (xá-lợi) thân thể được kết thành một khối. Chúng ta sẽ thực hiện lớp vỏ bọc ở ngôi bảo tháp dành cho đức Phật này.”

873. Devā sattaratanehi aññaṃ vaḍḍhesu yojanaṃ,
thūpo dviyojanubbedho timiraṃ vyapahanti so.

873. Với bảy loại châu báu, chư Thiên đã làm tăng thêm một do-tuần. Có chiều cao hai do-tuần, ngôi bảo tháp ấy xua đi bóng tối.

874. Nāgā tattha samāgantvā ekato mantayuṃ tadā:
“Manussā ceva devā ca buddhathūpaṃ akaṃsu te.

874. Khi ấy, loài rồng đã tụ hội lại ở nơi ấy và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người và luôn cả chư Thiên, bọn họ đã kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.

875. Mā no pamattā assumhā appamattā sadevakā,
mayampi thūpaṃ kassāma lokanāthassa tādino.”

875. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lãng, chúng ta chớ nên xao lãng. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.”

876. Indanīlaṃ mahānīlaṃ atho jotirasaṃ maṇiṃ,
ekato sannipātetvā buddhathūpaṃ achādayuṃ.

 

876. Sau khi đã triệu tập chung lại, loài rồng đã phủ lớp ngọc bích, ngọc sa-phia, và ngọc ma-ni như ý lên ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.

877. Sabbaṃ maṇimayaṃ āsi tāvatā buddhacetiyaṃ,
tiṃsayojanamubbedhaṃ ālokakaraṇaṃ tadā.

877. Khi ấy, cho đến ngôi bảo điện dành cho đức Phật đã được làm bằng ngọc ma-ni toàn bộ, có chiều cao ba do-tuần, là nguồn tạo ra ánh sáng.

878. Garuḷā ca samāgantvā ekato mantayuṃ tadā:
“Manusā devā nāgā ca buddhathūpaṃ akaṃsu te.

878. Khi ấy, loài nhân điểu đã tụ hội lại và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, chư Thiên, và loài rồng, bọn họ đã kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật.

879. Mā no pamattā assumhā appamattā sadevakā,
mayampi thūpaṃ kassāma lokanāthassa tādino.

 

879. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lãng, chúng ta chớ nên xao lãng. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.”

880. Sabbamaṇimayaṃ thūpe akar’ uttarakañcukaṃ,
yojanaṃ tepi vaḍḍhesuṃ āyataṃ buddhacetiyaṃ.

880. Loài nhân điểu đã thực hiện lớp vỏ bọc phụ trội toàn bộ làm bằng ngọc ma-ni ở ngôi bảo tháp. Họ cũng đã làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần.

881. Catuyojanamubbiddho buddhathūpo virocati,
obhāseti disā sabbā sataraṃsīva uggato.

881. Với chiều cao bốn do-tuần, ngôi bảo tháp của đức Phật chiếu sáng và khiến cho tất cả các phương được rực rỡ tợ như mặt trời đã mọc lên.

882. Kumbhaṇḍā ca samāgantvā ekato mantayuṃ tadā:
“Manussā ceva devā ca nāgā ca garuḷā tathā.

882. Khi ấy, loài quỉ sứ đã tụ hội lại và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, luôn cả chư Thiên, loài rồng, và loài nhân điểu tương tợ như thế.

883. Paccekaṃ buddhaseṭṭhassa akaṃsu thūpamuttamaṃ,
mā no pamattā assumhā appamattā sadevakā.

883. Bọn họ đã xây dựng ngôi bảo tháp hạng nhất dành cho đức Phật tối thượng một cách cá biệt. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lãng, chúng ta chớ nên xao lãng.

884. Mayampi thūpaṃ kassāma lokanāthassa tādino,
ratanehi chādayissāma āyataṃ buddhacetiyaṃ.

884. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy. Bằng các loại châu báu, chúng ta sẽ phủ lên ngôi bảo điện dành cho đức Phật cho được cao thêm.”

885. Yojanaṃ tepi vaḍḍhesuṃ āyataṃ buddhacetiyaṃ,
pañcayojanamubbiddho thūpo obhāsate tadā.

885. Loài quỉ sứ cũng đã làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần. Khi ấy, với chiều cao năm do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ.

886. Yakkhā tattha samāgantvā ekato mantayuṃ tadā:
“Manussā devanāgā ca garuḷā kumbha-aṇḍakā.

887. Paccekaṃ buddhaseṭṭhassa akaṃsu thūpamuttamaṃ,
mā no pamattā assumhā appamattā sadevakā.

886. 887. Khi ấy, loài Dạ-xoa đã tụ hội lại ở nơi ấy và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, chư Thiên, loài rồng, loài nhân điểu, và loài quỉ sứ đã xây dựng ngôi bảo tháp hạng nhất dành cho đức Phật tối thượng một cách cá biệt. Thế gian cùng với chư Thiên không xao lãng, chúng ta chớ nên xao lãng.

888. Mayampi thūpaṃ kassāma lokanāthassa tādino,
phaḷikāhi chādayissāma āyataṃ buddhacetiyaṃ.

888. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy. Bằng các loại ngọc pha-lê, chúng ta sẽ phủ lên ngôi bảo điện dành cho đức Phật cho được cao thêm.”

889. Yojanaṃ tepi vaḍḍhesuṃ āyataṃ buddhacetiyaṃ,
cha yojanāni ubbiddho thūpo obhāsate tadā.

 

889. Loài Dạ-xoa cũng đã làm phát triển ngôi bảo điện của đức Phật được cao thêm một do-tuần. Khi ấy, với chiều cao sáu do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ.

890. Gandhabbā ca samāgantvā ekato mantayuṃ tadā:
“Manujā devatā nāgā kumbhaṇḍā guruḷā tathā.

 

890. Lúc bấy giờ, các Càn-thát-bà đã tụ hội lại và đã cùng nhau bàn bạc rằng: “Loài người, chư Thiên, loài rồng, loài quỷ sứ, và loài nhân điểu tương tợ như thế.

891. Sabbe ’kaṃsu buddhathūpaṃ mayamettha akārakā,
mayampi thūpaṃ kassāma lokanāthassa tādino.

891. Tất cả đã kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đức Phật. Trong việc này chúng ta là những người chưa làm gì. Chúng ta cũng sẽ kiến tạo ngôi bảo tháp dành cho đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy.

892. Vediyo satta katvāna chattamāropayiṃsu te,
sabbasoṇṇamayaṃ thūpaṃ gandhabbā kārayuṃ tadā.

892. Sau khi đã làm thành bảy tầng, các Càn-thát-bà đã đặt lên chiếc lọng. Khi ấy, các Càn-thát-bà cũng đã kiến tạo ngôi bảo tháp toàn bộ làm bằng vàng.

893. Sattayojanamubbiddho thūpo obhāsate tadā,
rattindivā na ñāyanti āloko hoti sabbadā.

893. Khi ấy, với chiều cao bảy do-tuần, ngôi bảo tháp được rực rỡ. Đêm ngày không phân biệt được, (vì) ánh sáng luôn luôn hiện hữu.

894. Abhibhonti na tass’ ābhā candasūrā satārakā,
samantā yojanasate padīpopi na pajjali.

894. Mặt trăng, mặt trời, luôn cả các vì sao không hơn được ánh sáng của ngôi bảo tháp. Thậm chí ánh đèn cũng đã không được đốt lên ở xung quanh một trăm do-tuần.

895. Tena kālena ye keci thūpaṃ pūjenti mānusā,
na te thūpamāruhanti ambare ukkhipanti te.

895. Vào thời điểm ấy, những người nào cúng dường ngôi bảo tháp, những người ấy không bước lên ngôi bảo tháp mà họ thảy lên ở không trung.

896. Devehi ṭhapito yakkho abhisammatanāmako,
dhajaṃ vā pupphadāmaṃ vā abhiropeti uttari.

896. Được chư Thiên chỉ định, con Dạ-xoa tên Abhisammata (có nhiệm vụ) máng lên cờ hiệu hoặc vòng hoa ở phía bên trên.

897. Na te passanti taṃ yakkhaṃ dāmaṃ passanti gacchato,
evaṃ passitvā gacchantā sabbe gacchanti suggatiṃ.

897. Những người ấy không nhìn thấy con Dạ-xoa ấy mà nhìn thấy vòng hoa được nó mang đi. Sau khi nhìn thấy như thế, trong khi ra đi tất cả những người ấy đi đến cõi tái sanh tốt đẹp.

898. Visaddhā ye pāvacane pasannā ye ca sāsane,
pāṭihīraṃ daṭṭhukāmā thūpaṃ pūjenti mānusā.

898. Những người không có niềm tin ở lời Phật dạy và những người được tịnh tín vào Giáo Pháp có ước muốn trông thấy phép kỳ diệu thì họ cúng dường đến ngôi bảo tháp.

899. Nagare haṃsavatiyā ahosiṃ bhatako tadā,
āmoditaṃ janaṃ disvā evaṃ cintes’ ahaṃ tadā:

899. Khi ấy, tôi đã là người làm công ở thành phố Hamsavatī. Sau khi nhìn thấy dân chúng được vui mừng, khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy:

900. “Uḷāro bhagavā h’ eso yassa dhātugharedisā,
imā ca janatā tuṭṭhākāraṃ kubbantatappakaṃ.

900. “Đối với vị có được gian nhà xá-lợi như vầy, vị ấy ắt hẳn là đức Thế Tôn cao thượng. Và đám dân chúng này đang thể hiện trạng thái hớn hở một cách nhiệt thành.

901. Ahampi kāraṃ kassāmi lokanāthassa tādino,
tassa dhammesu dāyādo bhavissāmi anāgate.

901. Ta cũng sẽ thể hiện sự tôn kính đến đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy, ta sẽ là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy.

902. Sudhotaṃ rajakenāhaṃ uttareyyapaṭaṃ mama,
veḷagge ālagetvāna dhajaṃ ukkhipimambare.

902. Tôi đã máng tấm thượng y của tôi đã được khéo giặt sạch bởi người thợ giặt vào ngọn tre rồi đã nâng lá cờ hiệu lên ở không trung.

903. Abhisammatako gayha ambare ’hāsi me dhajaṃ,
vāt’ eritaṃ dhajaṃ disvā bhīyo hāsaṃ janes’ ahaṃ.

903. Con Dạ-xoa Abhisammata đã cầm lấy lá cờ hiệu của tôi và đưa lên không trung. Sau khi nhìn thấy lá cờ hiệu phất phơ trong gió, tôi đã khởi lên niềm vui dào dạt.  

904. Tattha cittaṃ pasādetvā samaṇaṃ upasaṅkamiṃ,
taṃ bhikkhuṃ abhivādetvā vipākaṃ pucch’ ahaṃ dhaje.

904. Tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đã đi đến gần vị Sa-môn. Sau khi đảnh lễ vị tỳ khưu ấy, tôi đã hỏi về quả thành tựu của lá cờ hiệu.

905. So me kathesi ānandapītisañjananaṃ mama:
“Tassa dhajassa vipākaṃ anubhossasi sabbadā.

905. Vị ấy đã thuyết giảng cho tôi về sự sanh khởi nỗi vui mừng và phỉ lạc của tôi: “Ngươi sẽ luôn luôn thọ hưởng quả thành tựu của lá cờ hiệu ấy.

906. Hatthī assā rathā pattī senā ca caturaṅginī,
parivāressanti taṃ niccaṃ dhajadānass’ idaṃ phalaṃ.

906. Các con voi, các con ngựa, các cỗ xe, các binh lính và quân đội gồm bốn binh chủng sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.

907. Saṭṭhi turiyasahassāni bheriyo samalaṅkatā,
parivāressanti taṃ niccaṃ dhajadānass’ idaṃ phalaṃ.

907. Sáu mươi ngàn nhạc cụ và những chiếc trống lớn được trang điểm sẽ thường xuyên hộ tống người này; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.

908. Chaḷāsītisahassāni nāriyo samalaṅkatā,
vicittavatthābhaṇā āmuttamaṇikuṇḍalā.

908. Có tám mươi sáu ngàn nữ nhân đã được trang điểm, được trang hoàng bằng các loại vải vóc nhiều màu sắc, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni.

909. Aḷārapamhā hasulā susaṇhā tanumajjhimā,
parivāressanti taṃ niccaṃ dhajadānass’ idaṃ phalaṃ.

909. Có lông mi cong, có nụ cười, vô cùng yểu điệu, có eo thon, các nàng sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.

910. Tiṃsakappasahassāni devaloke ramissasi,
asītikkhattuṃ devindo devarajjaṃ karissasi.

910. Ngươi sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp. Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần.

911. Sahassakkhattuṃ rājā ca cakkavattī bhavissasi,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.

911. Và ngươi sẽ là đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

912. Kappasatasahassamhi okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.

912. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

913. Devalokā cavitvāna sukkamūlena codito,
puññakammena saṃyutto brahmabandhu bhavissasi.

913. Sau khi mệnh chung ở thế giới chư Thiên, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, được gắn liền với nghiệp phước thiện, ngươi sẽ là thân quyến của Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).

914. Asītikoṭiṃ chaḍḍetvā dāse kammakare bahū,
gotamassa bhagavato sāsane pabbajissasi.

914. Sau khi từ bỏ tám mươi koṭi (tám trăm triệu), nhiều nô tỳ và nhân công, ngươi sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama.

915. Ārādhayitvā sambuddhaṃ gotamaṃ sakyapuṅgavaṃ,
upavānoti nāmena hessasi satthusāvako”ti.

915. Sau khi làm hài lòng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quý dòng Sakya, ngươi sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư với tên gọi là Upavāna.

916. Satasahasse kataṃ kammaṃ phalaṃ dassesi me idha,
sumuttasaravegova kilese jhāpayī mama.

916. Việc làm đã được thực hiện ở một trăm ngàn kiếp đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây. Như là tốc độ của mũi tên khéo được bắn ra, tôi đã thiêu đốt các phiền não của tôi.

917. Cakkavattissa santassa catudīp’ issarassa me,
tiyojanāni sāmantā ussīyanti dhajā sadā.

917. Trong khi tôi là đấng Chuyển Luân Vương chúa tể của bốn châu lục, các ngọn cờ luôn luôn được kéo lên ở xung quanh ba do-tuần.

918. Satasahasse ito kappe yaṃ kammamakariṃ tadā,
duggatiṃ nābhijānāmi dhajadānass’ idaṃ phalaṃ.

 

918. Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường lá cờ hiệu.

919. Paṭisambhidā catasso ca ―pe― kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

919. Bốn (tuệ) phân tích, ...(như trên)... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Upavāno thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Upavāna đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Upavānattherassa apadānaṃ dutiyaṃ.

 Ký sự về trưởng lão Upavāna là phần thứ nhì.

--ooOoo--

--ooOoo--

 

23. Saraṇagamaniyattherāpadānaṃ

23. Ký Sự về Trưởng Lão Saraṇagamaniya:

920. Nagare candavatiyā mātupaṭṭhāyako ahuṃ,
andhā mātā pitā mayhaṃ te posemi ahaṃ tadā.

920. Lúc bấy giờ, tôi đã là người hầu hạ mẹ ở thành phố Candavatī. Mẹ và cha của tôi bị mù, tôi phụng dưỡng họ.

 

921. Rahogato nisīditvā evaṃ cintes’ ahaṃ tadā:
“Posento mātāpitare pabbajjaṃ na labhām’ ahaṃ.

921. Khi ấy, tôi đã đi đến nơi thanh vắng và ngồi xuống, tôi đã suy nghĩ như vầy: “Trong khi phụng dưỡng mẹ và cha, ta không đạt được sự xuất gia.

922. Tamandhakārapihitā tividhaggīhi ḍayhare,
etādise bhaye jāte natthi koci vināyako.

922. Bị che lấp bởi sự tăm tối ấy, (chúng sanh) bị thiêu đốt bởi ba loại lửa (tham sân si). Khi nỗi hãi sợ như thế ấy đã sanh khởi, không có người nào là bậc hướng đạo.

923. Buddho loke samuppanno dippati jinasāsanaṃ,
sakkā uddharituṃ attā puññakammena jantunā.

923. Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng chiếu sáng. Với người có nghiệp phước thiện thì bản thân có thể tiếp độ được.

924. Uggayha tīṇi saraṇe paripuṇṇāni gopayiṃ,
tena kammena sukatena paṭimokkhāmi duggatiṃ.

924. Tôi đã học tập về ba sự nương nhờ và đã gìn giữ chúng được toàn vẹn. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi thoát khỏi khổ cảnh.

925. Nisabho nāma samaṇo buddhassa aggasāvako,
tamahaṃ upagantvāna saraṇāgamanaṃ gahiṃ.

925. Vị sa-môn tên Nisabha là vị Thinh Văn hàng đầu của đức Phật. Tôi đã đi đến gặp vị ấy và đã nhận lãnh sự đi đến nương nhờ.

926. Vassasatasahassāni āyu vijjati tāvade,
tāvatā saraṇagamanaṃ paripuṇṇaṃ agopayiṃ.

926. Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Tôi đã gìn giữ sự đi đến nương nhờ được toàn vẹn chừng ấy thời gian.

927. Carime vattamānamhi saraṇaṃ taṃ anussariṃ,
tena kammena sukatena tāvatiṃsaṃ agacch’ ahaṃ.

927. Khi đang ở vào thời điểm cuối cùng, tôi đã tưởng nhớ lại sự nương nhờ ấy. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

928. Devalokagato santo puññakammasamāhito,
yaṃ desaṃ upagacchāmi aṭṭha hetū labhām’ ahaṃ.

928. Khi đã đạt đến thế giới chư Thiên, được kề cận với nghiệp phước thiện, bất cứ khu vực nào tôi đi đến tôi đều đạt được tám chủng tử.

929. Disāsu pūjito homi tikkhapañño bhavām’ ahaṃ,
sabbe devānuvattanti amitabhogaṃ labhām’ ahaṃ.

929. Tôi được tôn vinh ở mọi phương, tôi có tuệ sắc bén, tất cả chư Thiên đều tháp tùng, tôi đạt được của cải vô lượng.

930. Suvaṇṇavaṇṇo sabbattha paṭikanto bhavām’ ahaṃ,
mittānaṃ acalo homi yaso accuggato mama.

930. Có màu da vàng chói, ở mọi nơi tôi đều được yêu mến, đối với các bạn hữu tôi không bị dao động, danh vọng của tôi là cao tột.

931. Asītikkhattuṃ devindo devarajjamakārayiṃ,
dibbaṃ sukhaṃ anubhaviṃ accharāhi purakkhato.

931. Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Tôi đã thọ hưởng sự an lạc của cõi trời, đã được các tiên nữ trọng vọng.

932. Pañcasattatikkhattuñca cakkavattī ahos’ ahaṃ,
padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.

932. Tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.

933. Pacchimabhave sampatte puññakammasamāhito,
pure sāvatthiyaṃ jāto mahāsāle su-aḍḍhake.

933. Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, được tụ hội với nghiệp phước thiện,

tôi đã được sanh ra trong nhà đại bá hộ vô cùng sang trọng ở thành phố Sāvatthī.

934. Nagarā nikkhamitvāna dārakehi purakkhato,
hāsakhiḍḍāsamaṅgīhaṃ saṅghārāmaṃ upāgamiṃ.

 

934. Sau khi rời khỏi thành phố, tôi đã dẫn đầu những đứa trẻ. Có được sự cười giỡn vui đùa, tôi đã đi đến tu viện của Hội Chúng.

935. Tatth’ addasāsiṃ samaṇaṃ vippamuttaṃ nirūpadhiṃ,
so me dhammadesesi saraṇañca adāsi me.

935. Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy vị sa-môn đã được giải thoát, không còn mầm mống tái sanh. Vị ấy đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi và đã ban sự nương nhờ đến tôi.

936. So ’haṃ sutvāna saraṇaṃ saraṇaṃ me anussariṃ,
ekāsane nisīditvā arahattamapāpuṇiṃ.

936. Sau khi lắng nghe về sự nương nhờ, tôi đây đã tưởng nhớ lại sự nương nhờ của tôi. Tôi đã ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.

937. Jātiyā sattavassena arahattaṃ apāpuṇiṃ,
upasampādesi sambuddho guṇamaññāya cakkhumā.

937. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi nhận biết đức hạnh (của tôi), đức Phật bậc Hữu Nhãn đã cho tu lên bậc trên.

938. Aparimeyye ito kappe saraṇāni agacchi ’haṃ,
tato me sukataṃ kammaṃ phalaṃ dassesi me idha.

938. Tôi đã đi đến các sự nương nhờ trước đây vô lượng kiếp. Do đó, việc làm đã được tôi thực hiện tốt đẹp đã cho tôi nhìn thấy quả báu tại đây.

939. Sugopitaṃ me saraṇaṃ mānasaṃ suppaṇīhitaṃ,
anubhotvā yasaṃ sabbaṃ pattomhi acalaṃ padaṃ.

939. Sự nương nhờ của tôi đã được gìn giữ cẩn thận, tâm ý đã khéo được củng cố. Sau khi thọ hưởng mọi thứ danh vọng, tôi đã đạt đến vị thế Bất Động.

940. Yesaṃ sotāvadhānatthi suṇātha mama bhāsato,
ahaṃ vo kathayissāmi sāmaṃ diṭṭhaṃ padaṃ mama.

940. Đối với những vị nào có sự lắng nghe, xin các vị hãy lắng nghe tôi nói. Tôi sẽ thuyết giảng đến các vị đạo lộ đã được tự thân nhìn thấy của mình.

941. “Buddho loke samuppanno vattate jinasāsanaṃ,
amatā vāditā bherī sokasallavinodanā.

941. “Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng được hiện hữu. Tiếng trống Bất Tử đã được vỗ lên là sự xua đi các mũi tên sầu muộn.

942. Yathā sakena thāmena puññakkhette anuttare,
adhikāraṃ kareyyātha phassayissatha nibbutiṃ.

942. Giống như các vị có thể thực hiện hành động hướng thượng ở Phước Điền vô thượng với sức lực của mình, (tương tợ như thế, với năng lực của mình) các vị sẽ chạm đến Niết Bàn.

943. Paggayha tīṇi saraṇe pañcasīlāni gopiya,
buddhe cittaṃ pasādetvā dukkhassantaṃ karissatha.

943. Sau khi đã thọ nhận ba sự nương nhờ, sau khi đã gìn giữ năm giới cấm, sau khi đã làm cho tâm được tịnh tín, các vị sẽ tiến hành việc chấm dứt khổ đau.

944. Mamopamaṃ karitvāna sīlāni parigopiya,
aciraṃ arahattaṃ vo sabbepi pāpuṇissatha.”

944. Sau khi thực hành tương tợ như tôi, sau khi gìn giữ toàn vẹn các giới cấm, không bao lâu sau tất cả các vị cũng sẽ đạt được phẩm vị A-la-hán.”

945. Tevijjo iddhipatto ’mhi cetopariyakovido,
sāvako te mahāvīra caraṇe vandati satthuno.

945. Có được ba minh, tôi đã đạt đến thần thông, và được rành rẽ về tâm của người khác. Bạch đấng Đại Hùng, vị Thinh Văn của Ngài đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư.

946. Aparimeyye ito kappe saraṇaṃ buddhassa gacch’ ahaṃ,
duggatiṃ nābhijānāmi saraṇāgamane phalaṃ.

946. (Kể từ khi) tôi đã đi đến nương nhờ đức Phật trước đây vô lượng kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đi đến nương nhờ.

947. Paṭisambhidā catasso ca ―pe― kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

 

947. Bốn (tuệ) phân tích, ...(như trên)... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ āyasmā Tisaraṇagamaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.

Đại đức trưởng lão Tisaraṇagamaniya[1] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Tisaraṇagamaniyattherassa apadānaṃ tatiyaṃ.

Ký sự về trưởng lão Tisaraṇagamaniya là phần thứ ba.

--ooOoo--

--ooOoo--

[1] Tisaraṇagamaniya nghĩa là “vị liên quan việc đi đến (gamana) ba (ti) nơi nương nhờ (saraṇa), tức là đã quy y Tam Bảo.”

 

Phía Trước - Before!==^==Kế Tiếp - Next