|
III. SUBHŪTIVAGGO |
III. PHẨM SUBHŪTI: |
21. Subhūtittherāpadānaṃ |
21. Ký Sự về Trưởng Lão Subhūti: |
|
813.
Himavantassa avidūre nisabho nāma pabbato, |
813. Ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Nisabha, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập. |
|
814. Kosiyo nāma nāmena jaṭilo uggatāpano, |
814. Khi ấy, là vị đạo sĩ tóc bện có sự khổ hạnh cao tột tên là Kosiya, tôi sống ở (ngọn núi) Nisabha, mỗi một mình không có người thứ hai. |
|
815. Phalaṃ mūlañca paṇṇañca na bhuñjāmi
ahaṃ tadā, |
815. Khi ấy, tôi không thọ dụng trái cây, rễ cây, và lá cây (còn ở trên cây). Trong khi ấy, tôi sống nhờ các lá cây úa vàng đã rụng. |
|
816. Nāhaṃ kopemi ājīvaṃ cajamānopi
jīvitaṃ, |
816. Ngay cả trong khi đang buông bỏ mạng sống, tôi cũng không làm cho sự nuôi mạng bị hư hỏng. Tôi làm cho tâm chính mình được hài lòng, tôi tránh xa việc tầm cầu sai trái (trong việc nuôi mạng). |
|
817. Rāgūpasaṃhitaṃ cittaṃ yadā upapajjate
mama, |
817. Mỗi khi tâm liên quan với tham ái sanh khởi ở tôi, tôi tự mình quán sát. Khi được chăm chú, tôi đã thuần hóa tâm tham ái ấy rằng: |
|
818. “Rajjasi rajanīye ca dosanīye ca
dussasi, |
818. “Ngươi bị ái luyến ở điều quyến rũ, bị sân hận ở điều gây khó chịu, và bị mê muội bởi điều làm cho mê mẩn, ngươi hãy tự mình thoát ra khỏi khu rừng. |
|
819. Visuddhānaṃ ayaṃ vāso nimmalānaṃ
tapassinaṃ, |
819. Trú xứ này dành cho các đạo sĩ khổ hạnh đã được thanh tịnh, không còn nhơ nhuốc. Ngươi chớ làm hư hoại sự thanh tịnh, ngươi hãy tự mình thoát ra khỏi khu rừng. |
|
820. Agāriko bhavitvāna sadā yuttaṃ
labhissasi, |
820. (Nếu) trở thành người tại gia, ngươi sẽ luôn gánh chịu sự bị ràng buộc. Ngươi cũng chớ lầm lẫn về hai việc (xuất gia và tại gia), ngươi hãy tự mình thoát ra khỏi khu rừng. |
|
821. Chavālātaṃ yathā kaṭṭhaṃ na kvaci
kiccakārakaṃ, |
821. Giống như loại củi gỗ thiêu xác chết không phải là vật để dùng cho công việc ở bất cứ nơi nào khác, dầu ở làng mạc hay rừng thẳm, bởi vì nó không còn được xem là củi đốt nữa. |
|
822. Chavālātūpamo tvaṃsi na gihī nāpi
saññato, |
822. Tợ như loại củi gỗ thiêu xác chết, ngươi không còn là người tại gia và cũng không phải là xuất gia. Hôm nay ngươi là người không còn thuộc về cả hai hạng, ngươi hãy tự mình thoát ra khỏi khu rừng. |
|
823. Siyā nu kho tava etaṃ ko pajānāti te
idaṃ, |
823. Nếu điều này xảy ra cho ngươi, thì ai nhận biết điều này ở ngươi? Nếu ngươi từ bỏ phận sự về đức tin thì sẽ có nhiều sự biếng nhác ở ngươi. |
|
824. Jigucchissanti taṃ viññū asuciṃ nāgariko yathā, |
824. Các bậc tri thức sẽ ghét bỏ ngươi giống như người dân thành phố chán ghét sự ô nhiễm. Các bậc ẩn sĩ sẽ xua đuổi và luôn quở trách ngươi. |
|
825. Taṃ viññū pavadissanti
samatikkantasāsanaṃ, |
825. Các bậc tri thức sẽ phê phán ngươi đã vi phạm lời giáo huấn. Ngay trong khi không đạt được sự cộng trú, làm sao ngươi có thể sinh sống? |
|
826. Tidhā pabhinnamātaṅgaṃ kuñjaraṃ
saṭṭhihāyanaṃ, |
826. Con voi có sức mạnh đến gần và xua đuổi con voi là loài mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi, được sáu mươi tuổi ra khỏi bầy. |
|
827. Yūthā vinissaṭo santo sukhaṃ sātaṃ na
vindati, |
827. Trong khi bị tách rời khỏi bầy, con voi không có được sự an ổn, thoải mái. Nó bị khổ sở, tâm rối loạn. Trong khi buồn bực, nó bị giao động. |
|
828. Tatheva jaṭilā tampi nīharissanti dummatiṃ, |
828. Tương tợ như thế ấy, các vị đạo sĩ tóc bện cũng sẽ xua đuổi ngươi là kẻ có tâm ý xấu xa. Trong khi bị tách rời khỏi các vị ấy, ngươi sẽ không đạt được sự an ổn, thoải mái. |
|
829. Divā vā yadi vā rattiṃ sokasallasamappito, |
829. Bị xâm nhập bởi mũi tên sầu muộn, ngươi bị thiêu đốt vì sự bực bội dầu là ban ngày hoặc ban đêm, tợ như con voi bị tách rời khỏi bầy. |
|
830. Jātarūpaṃ yathā kūṭaṃ neva jhāpeti
katthaci, |
830. Giống như vàng kim loại không bao giờ làm cho quặng thô được thiêu đốt ở bất cứ nơi nào, tương tợ như thế với sự lìa bỏ giới ngươi sẽ không làm cho (phiền não) được thiêu đốt ở bất cứ nơi nào. |
|
831. Agāraṃ
vasamānopi kathaṃ jīvihisī tuvaṃ, |
831. Dầu cho đang sống ở tại gia, ngươi sẽ sinh sống cách nào? Tài sản thuộc về người mẹ cũng như thuộc về người cha để dành lại cho ngươi là không có. |
|
832. Sayaṃ kammaṃ karitvāna gatte sedaṃ
pamocayaṃ, |
832. Trong khi tự mình làm công việc khiến mồ hôi tuôn ra ở cơ thể, ngươi sẽ sinh sống ở tại gia như vậy. Tốt đẹp thay cho ngươi là điều ấy không được ưa thích.” |
|
833. Evāhaṃ tattha vāremi saṅkilesagataṃ
manaṃ, |
833. Tại nơi ấy, tôi ngăn chặn tâm có khuynh hướng bị ô nhiễm theo cách như thế. Sau khi thực hiện lời giảng giải với nhiều pháp khác nhau, tôi đã ngăn chặn được các suy nghĩ xấu xa. |
|
834. Evaṃ me viharantassa
appamādavihārino, |
834. Như thế, trong khi tôi đang an trú với sự an trú vào sự không xao lãng, ba mươi ngàn năm đã trôi qua khi tôi ở trong khu rừng. |
|
835. Appamādarataṃ disvā
uttamatthagavesakaṃ, |
835. Sau khi nhìn thấy (tôi là) người tầm cầu mục đích tối thượng được thỏa thích với sự không xao lãng, bậc Toàn Giác Padumuttara đã đi đến gặp tôi. |
|
836. Timbarūsakavaṇṇābho appameyyo
anūpamo, |
836. Là bậc vô lượng, không người tương đương, có hào quang màu (vàng chói) của trái cây timbarūsaka, không ai sánh bằng về dáng vóc, khi ấy đức Phật đã đi kinh hành ở không trung. |
|
837. Suphullo sālarājā ’va vijjūva
’bbhaghanantare, |
837. Tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa, tợ như tia chớp ở khoảng giữa đám mây trên bầu trời, không ai sánh bằng về trí tuệ, khi ấy đức Phật đã đi kinh hành ở không trung. |
|
838. Sīharājāv’asambhīto gajarājāva
dappito, |
838. Tợ như con sư tử chúa không bị hãi sợ, tợ như con voi chúa kiêu hãnh, tợ như con cọp chúa chói sáng, khi ấy (đức Phật) đã đi kinh hành ở không trung. |
|
839. Siṃgīnikkhasuvaṇṇābho
khadiraṅgārasannibho, |
839. Có hào quang màu vàng chói của đồng tiền vàng, giống như than hồng của gỗ khadira, như là viên ngọc ma-ni như ý, khi ấy (đức Phật) đã đi kinh hành ở không trung. |
|
840. Visuddhakelāsanibho puṇṇamāyeva
candimā, |
840. Với ánh sáng tinh khiết của ngọn núi Kelāsa, tợ như mặt trăng vào ngày rằm, tợ như mặt trời ở chính ngọ, khi ấy (đức Phật) đã đi kinh hành ở không trung. |
|
841. Disvā nabhe caṅkamantaṃ evaṃ cintes’
ahaṃ tadā: |
841. Sau khi nhìn thấy Ngài đang đi kinh hành ở không trung, khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy: “Phải chăng chúng sanh này là Thiên nhân, hay đây là loài người? |
|
842. Na me suto vā diṭṭho vā mahiyā ediso
naro, |
842. Con người như thế này ở trên trái đất thì ta chưa từng được nghe hoặc được thấy. Cũng có lời chú thuật (về tướng mạo), người này sẽ là bậc đạo sư.” |
|
843. Evāhaṃ
cintayitvāna sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ, |
843. Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Khi ấy tôi đã gom lại nhiều loại bông hoa và vật thơm. |
|
844. Pupphāsanaṃ paññapetvā sādhucittaṃ
manoramaṃ, |
844. Sau khi chuẩn bị chỗ ngồi bằng bông hoa, tôi đã nói với bậc có tâm ý tốt đẹp, làm thích ý, vị đứng đầu trong số các bậc Điều Phục Nhân lời nói này: |
|
845. “Idaṃ me āsanaṃ vīra paññattaṃ tav’
anucchaviṃ, |
845. “Bạch đấng Đại Hùng, chỗ ngồi này đã được con chuẩn bị là thích hợp đối với Ngài. Trong khi làm cho tâm của con được vui vẻ, xin Ngài hãy ngồi xuống ở chỗ ngồi bằng bông hoa.” |
|
846. Nisīdi tattha bhagavā asambhītova
kesarī, |
846. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở nơi ấy, tợ như con sư tử không bị hãi sợ. Đức Phật đã ngồi ở chỗ ngồi bằng bông hoa quý cao trong bảy ngày đêm. |
|
847. Namassamāno aṭṭhāsiṃ sattarattindivaṃ
ahaṃ, |
847. Trong khi lễ bái (Ngài), tôi đã đứng bảy ngày đêm. Bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian đã xuất khỏi thiền định. |
|
848. Mama kammaṃ pakittento idaṃ
vacanamabraviṃ, |
848. Trong khi tán dương việc làm của tôi, Ngài đã nói lời nói này: “Ngươi hãy tu tập sự niệm tưởng về đức Phật là (pháp tu tập) vô thượng trong các sự tu tập. |
|
849. Imaṃ satiṃ bhāvayitvā pūrayissasi
mānasaṃ, |
849. Sau khi tu tập về sự niệm tưởng này, ngươi sẽ được tròn đủ tâm ý và sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp. |
|
850. Asītikkhattuṃ devindo devarajjaṃ
karissasi, |
850. Ngươi sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Ngươi sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương ở trong quốc độ một ngàn lần. |
|
851. Padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇanāto asaṅkhiyaṃ, |
851. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Ngươi sẽ thọ hưởng mọi thứ ấy; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật. |
|
852. Bhavābhave saṃsaranto mahābhogaṃ labhissasi, |
852. Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, ngươi sẽ đạt được tài sản lớn lao, sẽ không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật. |
|
853. Kappasatasahassamhi
okkākakulasambhavo, |
853. Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian. |
|
854. Asītikoṭiṃ chaḍḍetvā dāse kammakare
bahū, |
854. Sau khi từ bỏ tám mươi koṭi (tám trăm triệu), nhiều nô tỳ và nhân công, ngươi sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama. |
|
855. Ārādhayitvā sambuddhaṃ gotamaṃ
sakyapuṅgavaṃ, |
855. Sau khi làm hài lòng đấng Toàn Giác Gotama bậc cao quý dòng Sakya, ngươi sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư với tên gọi là Subhūti. |
|
856. Bhikkhusaṅghe nisīditvā
dakkhiṇeyyaguṇamhi taṃ, |
856. Sau khi ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu, (đức Phật ấy) sẽ thiết lập ngươi vào vị thế tối thắng về hai phương diện là có đức hạnh đáng được cúng dường và tương tợ như thế về việc an trú vào sự không say đắm.” |
|
857. Idaṃ vatvāna sambuddho jalajuttaranāmako, |
857. Sau khi nói điều này, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Padumuttara, bậc trí tuệ đã bay lên không trung như là chim thiên nga chúa ở trên bầu trời. |
|
858. Sāsito lokanāthena namassitvā
tathāgataṃ, |
858. Được chỉ dạy bởi đấng Bảo Hộ Thế Gian, tôi đã lễ bái đức Như Lai. Được hoan hỷ, tôi luôn luôn tu tập sự niệm tưởng tối thượng về đức Phật. |
|
859. Tena kammena sukatena cetanā
paṇidhīhi ca, |
859. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. |
|
860. Asītikkhattuṃ devindo devarajjamakārayiṃ, |
860. Tôi đã là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc tám mươi lần. Và tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương một ngàn lần. |
|
861. Padesarajjaṃ vipulaṃ gaṇaṇāto
asaṅkhiyaṃ, |
861. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. Tôi thọ hưởng sự thành tựu tốt đẹp; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật. |
|
862. Bhāvābhave saṃsaranto mahābhogaṃ
labhām’ ahaṃ, |
862. Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đạt được tài sản lớn lao, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật. |
|
863. Satasahasse ito kappe yaṃ kammamakariṃ tadā, |
863. Kể từ khi tôi đã thực hiện nghiệp ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tưởng niệm về đức Phật. |
|
864. Paṭisambhidā catasso ca ―pe― kataṃ buddhassa sāsanaṃ. |
864. Bốn (tuệ) phân tích, ...(như trên)... tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật. |
|
Itthaṃ sudaṃ āyasmā Subhūtitthero imā gāthāyo abhāsitthāti. |
Đại đức trưởng lão Subhūti đã nói lên những lời kệ này như thế ấy. |
|
Subhūtittherassa apadānaṃ paṭhamaṃ. |
Ký sự về trưởng lão Subhūti là phần thứ nhất. |
|
--ooOoo-- |
--ooOoo-- |