Apadānapāḷi là tựa đề của tập Kinh thứ mười ba thuộc Tiểu Bộ. Chúng tôi đề nghị tựa đề tiếng Việt là Thánh Nhân Ký Sự. Chú giải của tập Kinh Apadānapāḷi có tên là Visuddhajanavilāsinī.
Apadānapāḷi gồm có bốn phần:
- Buddhāpadāna (liên quan đến Phật Toàn Giác)
- Paccekabuddhāpadāna (liên quan đến Phật Độc Giác)
- Therāpadāna (559 câu chuyện về các vị trưởng lão)
- và Therī-apadāna (40 câu chuyện về các vị trưởng lão ni).
Dựa theo văn bản Pāḷi – Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Series của nước quốc giáo Sri Lanka, bộ Kinh song ngữ Apadānapāḷi - Thánh Nhân Ký Sự được trình bày thành 3 tập:
- Apadānapāḷi tập I gồm có hai phần đầu là Buddhāpadāna - Phật Toàn Giác Ký Sự, Paccekabuddhāpadāna - Phật Độc Giác Ký Sự, và 400 ký sự về các vị trưởng lão của phần ba Therāpadāna - Trưởng Lão Ký Sự.
- Apadānapāḷi tập II gồm có 159 ký sự còn lại của phần ba tức là Therāpadāna - Trưởng Lão Ký Sự.
- Apadānapāḷi tập III gồm 40 ký sự về các trưởng lão ni thuộc phần bốn có tên là Therī-apadāna - Trưởng Lão Ni Ký Sự.
Phần thứ nhất Buddhāpadāna - Phật Toàn Giác Ký Sự đề cập đến câu chuyện tiền thân đức Bồ Tát trong thời quá khứ là đấng Chuyển Luân Vương Tilokavijaya đã dùng năng lực của tâm tạo nên tòa lâu đài bằng châu báu và đã cúng dường đến vô số chư Phật Toàn Giác, chư Phật Độc Giác, và chư vị Thinh Văn đệ tử bằng tác ý. Tuy nhiên, có điều đáng lưu ý là lời phát nguyện của vị ẩn sĩ Sumedha lại được nhắc đến trong ký sự của vị tỳ khưu ni Yasodharā ở tập III thay vì được đề cập ở trong phần này.
Trái lại, phần thứ nhì Paccekabuddhāpadāna - Phật Độc Giác Ký Sự không đề cập đến các hành động quá khứ liên quan đến sự giải thoát trong thời hiện tại của chư Phật Độc Giác, mà là “những kệ ngôn cao thượng đã được chư Phật Độc Giác là các đấng Chiến Thắng nói lên, những kệ ngôn ấy đã được đấng Sư Tử dòng Sakya, bậc Tối Thượng Nhân, giảng giải vì mục đích của việc nhận thức Giáo Pháp” (câu kệ 138). Và những lời kệ này của chư Phật Độc Giác cũng được tìm thấy ở Chương I, phần 3, tập Kinh Suttanipāta (Kinh Tập), thuộc Khuddakanikāya (Tiểu Bộ). Điều cần lưu ý ở đây cả hai phần Buddhāpadāna - Phật Toàn Giác Ký Sự và Paccekabuddhāpadāna - Phật Độc Giác Ký Sự đều có điểm tương tợ là do nhân duyên lời thỉnh cầu của ngài Ānanda mà đức Phật Gotama đã thuyết giảng.
Hai phần cuối, Therāpadāna - Trưởng Lão Ký Sự gồm có 559 câu chuyện về các vị trưởng lão được chia làm 56 phẩm (vagga), và Therī-apadāna - Trưởng Lão Ni Ký Sự gồm có 40 câu chuyện về các vị trưởng lão ni được chia làm 4 phẩm. Các câu chuyện này đề cập đến các hành động đã được tiền thân của các vị này thực hiện trong kiếp quá khứ. Đối tượng của các việc phước thiện này có tính chất đa dạng, có thể là chư Phật Toàn Giác, chư Phật Độc Giác, chư Phật Thinh Văn trong thời quá khứ, hoặc các vật liên quan đến các Ngài như là cội Bồ Đề, ngôi bảo tháp, tấm y ca-sa, và ngay cả dấu chân đã được đức Phật để lại trên nền đất, v.v... cũng đã làm sanh khởi niềm tin đưa đến việc hành thiện của tiền thân các vị này. Một số tiền thân của các vị đã có sự phát nguyện thành tựu vị thế tối thắng và đã nhận được lời chú nguyện của các vị Phật đương thời. Đồng thời các ký sự này cũng đề cập việc thành tựu phước báu Nhân Thiên và các sự thành công trong các kiếp sống nối tiếp cho đến khi gặp đức Phật Gotama đưa đến việc xuất gia, thành tựu quả vị Thinh Văn A-la-hán, và chứng đắc các pháp thù thắng là bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí. Các chi tiết được trình bày ở mỗi ký sự đã được đích thân chư Thinh Văn tỳ khưu và tỳ khưu ni ấy đích thân thuật lại, dài ngắn cũng không chừng đổi, đôi lúc có xen lẫn một vài dòng kệ chú thích của người sưu tập. Câu chuyện ngắn nhất chỉ có vài ba câu kệ (gāthā), câu chuyện dài nhất hơn hai trăm câu kệ (400 dòng).
Xét rằng 139 câu kệ của hai phần đầu tức là Buddhāpadāna - Phật Toàn Giác Ký Sự và Paccekabuddhāpadāna - Phật Độc Giác Ký Sự chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn so với gần 7.800 câu kệ của toàn thể bộ Kinh này, cho nên có thể nói rằng chủ đề chính của bộ Kinh này liên quan đến các vị Thánh Thinh Văn tỳ khưu và tỳ khưu ni. Có giả thuyết cho rằng hai phần đầu Buddhāpadāna - Phật Toàn Giác Ký Sự và Paccekabuddhāpadāna - Phật Độc Giác Ký Sự được kết hợp thêm để khẳng định về con đường Giải Thoát trong Phật Giáo gồm có ba hạng là Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác, và Phật Thinh Văn, nhưng đều có chung cứu cánh giải thoát đều là sự đoạn trừ các lậu hoặc và thành tựu Niết Bàn.
Có thể đưa ra nhận xét rằng bộ Kinh Apadāna - Thánh Nhân Ký Sự chủ yếu nói về vai trò của nghiệp (kamma) trong quá trình luân hồi (saṃsāra), về sự gặt hái kết quả (phala) của hành động đã làm trong các kiếp quá khứ. Apadāna - Thánh Nhân Ký Sự không chỉ nêu lên các thiện nghiệp có quả thành tựu tốt đẹp mà còn có nhắc đến một số ác nghiệp đưa đến kết quả xấu xa. Ví dụ như ký sự của Trưởng Lão Upālittherāpadāna kể lại câu chuyện tiền thân của vị Trưởng Lão đã thực hiện hành động cung kính đến đức Phật Padumuttara và đã ước nguyện trở thành vị tỳ khưu đứng đầu về Luật. Cạnh đó, do việc đã dùng voi khuấy rối đến một vị Phật đang đi khất thực vào kiếp làm vị hoàng tử tên Candana, trong kiếp cuối cùng bị sanh làm người thợ cạo thuộc dòng dõi thấp kém, nhưng không vì thế mà làm trở ngại đến sự chứng đắc Niết Bàn, thành tựu quả vị A-la-hán, và trở thành vị tỳ khưu đứng đầu về Luật trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama của vị trưởng lão này.
Điểm đặc biệt là các việc quét dọn, xây dựng viền rào, cúng dường đến cội cây Bồ Đề, hay là các hành động xây dựng và quét vôi bảo tháp, dâng hoa đến bảo tháp, và cúng dường xá-lợi cũng là nhân cho những thành tựu phước báu lớn lao và còn đưa đến thành tựu quả vị A-la-hán trong thời đức Phật nữa. Nói đến xá-lợi, ngay cả đức Phật cũng tỏ lòng tôn trọng đến xá-lợi của các Thinh Văn: Ký sự 50 về Trưởng Lão Cunda mô tả đức Thế Tôn đã nhận lấy xá-lợi của vị Trưởng Lão Sāriputta bằng hai tay, và trong khi phô bày xá-lợi ấy đã tán dương vị Thinh Văn đệ nhất này (tập I, 1254-1255). Tương tợ như thế Ngài cũng đã nâng lên xá-lợi của vị Trưởng Lão Ni Mahāpajāpatigotamī bằng hai tay khi nhắc đến công hạnh của bà (tập III, Ký Sự 17, 404-415). Và nhiều ký sự nói về các vị Thinh Văn được giải thoát Niết Bàn do công hạnh cúng dường xá-lợi trong quá khứ. Bộ Kinh này cũng chứng thực rằng việc cúng dường thực phẩm và vật dụng cần thiết đến đức Phật và Hội Chúng tỳ khưu là có được thành quả lớn lao.
Đặc biệt, có phần ký sự tên Pubbakammapiloti-apadāna đề cập đến các nghiệp xấu do tiền thân đức Phật Gotama đã tạo nên trong mười hai kiếp sống và sự trổ quả vẫn thành tựu vào lúc Ngài đã thành tựu quả vị Phật Toàn Giác. Ví dụ như việc vu cáo trong thời hiện tại của nữ du sĩ ngoại đạo Sundarikā do tiền thân Ngài là kẻ vô lại Munāḷī đã vu cáo đức Phật Độc Giác Sarabhu và vào một kiếp khác đã bôi nhọ vị ẩn sĩ Bhīma có năm thắng trí có đại thần lực là người vẫn còn đắm say dục lạc, về việc nàng Ciñcamānavikā vu cáo gian sự liên hệ thân mật giữa nàng và đức Phật do nhân vu cáo vị Thinh Văn tên Nanda của đức Phật Sabbābhibhū, về việc voi Nālāgirī chạy đến Ngài với ý muốn hãm hại do tiền thân đã cỡi voi công kích một vị Phật Độc Giác đang đi khất thực. Và về các chứng khó chịu ở thân cũng do tác động của nghiệp quá khứ ví dụ như chứng nhức đầu do đã có tâm hoan hỷ khi trong thấy các con cá bị giết chết, về chứng đau lưng do đã đánh gục đối thủ trong một cuộc giao đấu, về bệnh tiêu chảy do trong thời quá khứ làm một vị thầy thuốc đã cố ý cho thuốc xổ đến con trai nhà triệu phú, v.v... Có điều thắc mắc là các ký sự Pubbakammapilotika này có liên quan đến đức Phật nhưng tại sao lại không được xếp vào Buddhāpadāna - Phật Toàn Giác Ký Sự, mà lại được sắp vào phần của các vị Thinh Văn, Therāpadāna - Trưởng Lão Ký Sự?
Cũng cần nói thêm rằng chủ đề về nghiệp được trình bày ở Khuddakanikāya - Tiểu Bộ được thấy trong các tập Kinh: Jātaka - Bổn Sanh, Buddhavaṃsa - Phật Sử, Cariyāpiṭaka - Hạnh Tạng tập trung ở tiền thân đức Phật Gotama, Apadāna - Thánh Nhân Ký Sự liên quan đến các vị Thinh Văn tỳ khưu và tỳ khưu ni, còn Vimānavatthu - Thiên Cung Sự và Petavatthu - Ngạ Quỷ Sự thì đề cập đến nhiều hạng người khác nhau.
Về hình thức, bộ Kinh Apadāna - Thánh Nhân Ký Sự được viết theo thể kệ thơ (gāthā), mỗi câu kệ gồm có bốn pāda được trình bày thành hai dòng. Đa số các câu kệ của tập Kinh này làm theo thể thông thường gồm có tám âm cho mỗi pāda. Chúng tôi chủ trương ghi lại lời dịch Việt theo lối văn xuôi hầu ý nghĩa chuyển dịch được phần trọn vẹn. Đôi chỗ hai câu kệ được dịch chung thành một đoạn dựa theo tính chất hoàn chỉnh về văn phạm hoặc về ý nghĩa của chúng. Cũng cần nói thêm về văn bản Pāḷi được trình bày ở đây đã được phiên âm lại từ văn bản Pāḷi – Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Series của nước quốc giáo Sri Lanka.
Về phương diện dịch thuật và trình bày văn bản tiếng Việt, có một số điều cần lưu ý như sau: Mặc dầu toàn bộ văn bản là các lời tự thuật, tuy nhiên chúng tôi chỉ trình bày ở dạng chữ nghiêng cho những đoạn có tính chất đối thoại trực tiếp hoặc những điều ước nguyện, suy nghĩ. Về văn phong của lời dịch, chúng tôi chủ trương ghi lại lời tiếng Việt sát theo văn bản gốc và cố gắng không bỏ sót từ nào không dịch. Lời văn tiếng Việt của chúng tôi có chứa đựng những mấu chốt giúp cho những ai có ý thích nghiên cứu Pāḷi thấy ra được cấu trúc của loại ngôn ngữ này. Việc làm này của chúng tôi không hẳn đã được hoàn hảo, dẫu sao cũng là bước khởi đầu nhằm thúc đẩy phong trào nghiên cứu cổ ngữ Phật Học của người Việt Nam. Tuy nhiên, một số sai sót trong quá trình phiên dịch đương nhiên không thể tránh khỏi, chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về trình độ yếu kém.
Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành ghi nhận sự quan tâm chăm sóc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với công tác phiên dịch của chúng tôi về phương diện vật thực bồi dưỡng và thuốc men chữa bệnh của các vị hữu ân sau: Sư Cô Trí Anh - chùa Linh Sơn (Pháp), Bhikkhunī Sukhettā Nichanaporn Ketjan (Thái), Cô Phạm Thu Hương và Cô Hoàng Thị Thịnh (Hồng Kông), Cô Upekkhā (Úc Đại Lợi), Phật tử Daw Pat Gray (Myanmar). Công việc soạn thảo này được thông suốt, không bị gián đoạn, chính là nhờ có sự hỗ trợ cấp thời và quý báu của quý vị. Thành tâm cầu chúc quý vị luôn giữ vững niềm tin và thành tựu được nhiều kết quả trong công việc tu tập giải thoát và hộ trì Tam Bảo.
Một điều thiếu sót lớn nếu không đề cập đến sự nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi của Phật tử Mam Pitiya trong việc tham khảo bản dịch tiếng bản xứ. Cũng không quên không nhắc đến những sự ủng hộ, khích lệ, và công đức góp ý về phần tiếng Việt của Đại Đức Đức Hiền, cùng với hai vị Phật tử Tung Thiên và Đông Triều đã sắp xếp thời gian đọc qua bản thảo và đã giúp cho chúng tôi tránh được một số điểm vụng về trong việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt. Nhân đây, cũng xin ghi nhận sự cúng dường Từ Điển Tiếng Việt của Đại Đức Tâm Pháp, nhờ thế đã giúp cho chúng tôi rất nhiều trong việc xác định từ ngữ được thêm phần chính xác. Chúng tôi cũng xin thành tâm tùy hỷ và tán dương công đức của các thí chủ đã nhiệt tâm đóng góp tài chánh giúp cho Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi - Việt được tồn tại và phát triến, mong sao phước báu Pháp thí này luôn dẫn dắt quý vị vào con đường tu tập đúng theo Chánh Pháp, thành tựu Chánh Trí, chứng ngộ Niết Bàn, không còn luân hồi sanh tử nữa.
Cuối cùng, ngưỡng mong phước báu phát sanh trong công việc soạn thảo tập Kinh này được thành tựu đến thầy tổ, song thân, và tất cả chúng sanh trong tam giới. Nguyện cho hết thảy đều được an vui, sức khỏe, có trí tuệ, và tinh tấn tu tập ngõ hầu thành đạt cứu cánh giải thoát, chấm dứt khổ đau.
Kính bút,
ngày 14 tháng 05 năm 2008
Tỳ Khưu Indacanda (Trương đình Dũng)
Sī 1. : Pavacanādesa potthakālaya - tālapaṇṇapotthakaṃ
Sī 2. : Sirisiddhatthārāmapotthakālaya - tālapaṇṇapotthakaṃ
Sī 3. : ‘Pulmaḍulla’ mahāvihārapotthakālaya - tālapaṇṇapot.
Machasaṃ. : Marammachaṭṭhasaṅgāyanā sodhitapaṭisambhidāmaggo
(Tạng Miến Điện kỳ kết tập lần thứ 6).
Syā. : Syāma (Nāy)akṣara Mudita Grantha
(Tạng Thái Lan).
PTS. : Pali Text Society (Tạng Anh).
Saṃ : Muddita-Saṃyuttanikāyapāḷi
Ani : Muddita-Aṅguttaranikāyapāḷi
Sa : Saddhammappakāsanī - Paṭisambhidāmaggaṭthakathā
Saddhammappakāsanī - Chú Giải Phân Tích Đạo
Vi : Visuddhimaggo
Pu. : Aṭṭhakathāgatāni Porāṇakapāṭhantarāni
PṭsA. : Paṭisambhidāmaggapakaraṇa-Aṭṭhakathā (PTS) -
Chú Giải Phân Tích Đạo.
ND : Chú thích của Người Dịch.
nt : như trên
PTS : Nhà Xuất Bản Pali Text Society (Anh Quốc)
Sđd. : Sách đã dẫn
[*] : Xem phần Chú Thích